Tạo nền tảng chính sách cho doanh nghiệp chủ động tham gia thị trường các-bon
![]() |
| Đại diện cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp chia sẻ tại Diễn đàn. |
Phải coi các-bon là tài sản chiến lược
Phát biểu tại diễn đàn "Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon" diễn ra ngày 17/4/2026 tại Hà Nội do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, đại diện các cơ quan quản lý cho biết, Việt Nam đã có quá trình chuẩn bị kéo dài hơn một thập kỷ để xây dựng thị trường các-bon, gắn với các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính.
| Ông Đỗ Thanh Lâm, đại diện Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính cho biết, việc xây dựng thị trường các-bon trên nguyên tắc minh bạch, công bằng và quản lý rủi ro chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia. Theo mô hình đề xuất, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội sẽ đóng vai trò cung cấp dịch vụ giao dịch, trong khi Tổng Công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam đảm nhiệm dịch vụ lưu ký và thanh toán. Toàn bộ tín chỉ các-bon trước khi giao dịch phải được đăng ký tập trung trên hệ thống đăng ký quốc gia do cơ quan quản lý vận hành, nhằm đảm bảo tính minh bạch và truy xuất nguồn gốc của hàng hóa giao dịch. Có 3 nhóm tín chỉ được phép giao dịch gồm tín chỉ trong nước, tín chỉ theo cơ chế quốc tế và tín chỉ theo cơ chế của Thỏa thuận Paris. Đáng chú ý, trong giai đoạn thí điểm kéo dài đến hết ngày 31/12/2028, các đơn vị hạ tầng thị trường sẽ không thu phí cung cấp dịch vụ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp làm quen với cơ chế mới. |
Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI cho biết, chuyển đổi xanh đang trở thành điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tham gia sâu vào thị trường quốc tế. Các định hướng từ Nghị quyết số 57-NQ/TW, 59-NQ/TW và 68-NQ/TW đã xác định khoa học công nghệ, hội nhập và kinh tế tư nhân là những yếu tố then chốt nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Với vai trò đại diện cộng đồng doanh nghiệp, VCCI được giao nhiệm vụ phối hợp với các bộ, ngành để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường các-bon thông qua các hoạt động đào tạo, kiểm kê khí nhà kính và kết nối quốc tế.
Theo ông Hoàng Quang Phòng, thị trường các-bon không chỉ đơn thuần là cơ chế chi trả phát thải mà còn là công cụ ghi nhận những doanh nghiệp tiên phong áp dụng công nghệ sạch. Tín chỉ các-bon được hình thành từ các hoạt động giảm phát thải thực chất và có giá trị kinh tế rõ ràng.
Vì thế, việc tham gia thị trường các-bon mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, từ tối ưu hóa chi phí vận hành, nâng cao uy tín thương hiệu đến mở rộng cơ hội tiếp cận các nguồn tài chính xanh. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan.
Ở góc độ quản lý nhà nước, bà Vũ Thị Châu Quỳnh, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính nhấn mạnh, chuyển đổi xanh hiện nay không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Doanh nghiệp cần xây dựng tầm nhìn dài hạn, coi tín chỉ các-bon như một loại tài sản tài chính có thể quản lý và khai thác hiệu quả. Thị trường các-bon hiện nay không chỉ là công cụ kiểm soát phát thải mà còn hỗ trợ doanh nghiệp quản trị chi phí và tối ưu hóa hiệu quả đầu tư.
![]() |
| Bà Vũ Thị Châu Quỳnh, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính. |
Đại diện Bộ Tài chính cũng đưa ra 3 lưu ý quan trọng đối với doanh nghiệp khi tham gia thị trường các-bon. Thứ nhất, doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu quy định pháp luật, đồng thời xây dựng hệ thống theo dõi và quản trị hạn ngạch phát thải một cách bài bản. Thứ hai, cần hình thành đội ngũ nhân sự chuyên trách quản lý “tài sản” các-bon nhằm khai thác tối đa giá trị kinh tế của tín chỉ. Thứ ba, doanh nghiệp phải lập kế hoạch dài hạn để giảm chi phí tuân thủ thông qua lựa chọn công nghệ phù hợp hoặc sử dụng cơ chế bù trừ phát thải.
Nền tảng pháp lý và kỹ thuật đang được hoàn thiện đồng bộ
Theo ông Phạm Nam Hưng, đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thị trường các-bon tại Việt Nam được hình thành trên cơ sở 2 loại hàng hóa chính là hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Trong đó, hạn ngạch phát thải là lượng phát thải khí nhà kính được phân bổ cho từng doanh nghiệp, còn tín chỉ các-bon ghi nhận kết quả giảm phát thải từ các dự án cụ thể.
Ông Phạm Nam Hưng cho biết Việt Nam đã triển khai nhiều bước chuẩn bị từ giai đoạn 2012-2013, đưa ra các cam kết quốc tế về giảm phát thải từ năm 2015 và nâng mức cam kết vào năm 2021 với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0”. Việc hình thành thị trường các-bon được xác định là công cụ kinh tế quan trọng nhằm điều tiết phát thải và huy động nguồn lực tài chính cho các hoạt động giảm phát thải.
Để hoàn thiện khung pháp lý, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng, trong đó có Nghị định số 29/2026/NĐ-CP quy định về thành lập và vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước; Nghị định số 119/2026/NĐ-CP quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; cùng các quyết định chiến lược của Thủ tướng Chính phủ về triển khai cam kết tại Hội nghị COP26 và phát triển thị trường carbon quốc gia.
Ở góc độ kỹ thuật, việc đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải (MRV) được xem là nền tảng cốt lõi để thị trường các-bon vận hành hiệu quả. Trước đây, hoạt động kiểm kê chủ yếu thực hiện ở cấp quốc gia theo phương pháp tổng hợp, song trong giai đoạn hiện nay cần triển khai chi tiết đến từng cơ sở sản xuất. Nên để hỗ trợ doanh nghiệp, cơ quan quản lý đang xây dựng hệ thống MRV theo hướng số hóa nhằm giảm chi phí và tăng tính minh bạch. Đồng thời, hệ thống đăng ký quốc gia về phát thải và tín chỉ các-bon cũng đang được xây dựng, tạo nền tảng quản lý tập trung cho toàn bộ thị trường.
Ông Phạm Nam Hưng nhìn nhận, một trong những thách thức hiện nay là việc thu thập dữ liệu phát thải còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở những ngành chưa có hệ số phát thải cụ thể. Trong thời gian tới, hệ thống dữ liệu sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chi tiết hơn, đồng thời điều chỉnh tần suất kiểm kê phát thải theo hướng linh hoạt nhằm đáp ứng yêu cầu vận hành thị trường.
Theo lộ trình phát triển, giai đoạn 2026- 2028 được xác định là giai đoạn thí điểm của thị trường các-bon tại Việt Nam. Mục tiêu của giai đoạn này là giúp doanh nghiệp làm quen với cơ chế thị trường, đồng thời để cơ quan quản lý tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.
![]() |
| Ông Lachlan Simpson, Tham tán, Đại sứ quán Australia, đại diện Bộ Biến đổi Khí hậu, Năng lượng, Môi trường và Nước Australia. |
Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, ông Lachlan Simpson, Tham tán, Đại sứ quán Australia, đại diện Bộ Biến đổi Khí hậu, Năng lượng, Môi trường và Nước Australia cho biết, thị trường các-bon không thể được xây dựng trong thời gian ngắn mà cần phát triển theo từng giai đoạn với các cách tiếp cận chính sách khác nhau. Hiện nay, thị trường các-bon đã trở thành một cấu phần quan trọng của hệ thống kinh tế toàn cầu, không chỉ gắn với các cam kết khí hậu mà còn liên quan trực tiếp đến thương mại và tài chính.
Tuy nhiên, theo ông Simpson, thách thức lớn hiện nay không nằm ở nhu cầu mà ở nguồn cung tín chỉ carbon có độ tin cậy cao, được bảo đảm bởi hệ thống quản lý chặt chẽ. Australia không áp dụng một mô hình duy nhất mà trải qua nhiều giai đoạn điều chỉnh chính sách. Dù có nhiều thay đổi, các yếu tố nền tảng như quản trị, hệ thống báo cáo phát thải và khung pháp lý luôn được duy trì ổn định. Chính những yếu tố này đã tạo dựng niềm tin thị trường và đảm bảo tính bền vững trong dài hạn.
Theo các chuyên gia và cơ quan quản lý, việc hoàn thiện chính sách phát triển thị trường các-bon không chỉ là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh mà còn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tận dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính xanh trong giai đoạn phát triển mới.
Tin tức khác
Nội lực Việt Nam nhìn từ những doanh nghiệp tiên phong
Thành tựu xuất nhập khẩu - Dấu ấn của nền kinh tế năng động, hội nhập
Doanh nghiệp nhà nước kiến tạo phát triển, vươn tầm thế giới
Tạo sức bật cho doanh nghiệp, mở đường tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Giảm chi phí tuân thủ từ cải cách những “điểm chạm” với doanh nghiệp
Sabeco tăng lợi nhuận hơn 21%, cổ phiếu SAB vẫn đi sau VN-Index
Vedan góp 1.000 cây xanh, lan tỏa trách nhiệm với cộng đồng
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Động lực chính đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới
Việt Nam từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường
Giữ trọn lời thề Độc lập vì mục tiêu Tổ quốc hùng cường
Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn
Tuyên ngôn Độc lập - ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam
Đổi mới mô hình phát triển: Bước chuyển chiến lược đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
Đối ngoại Việt Nam - Bản lĩnh tự chủ trong kỷ nguyên phát triển mới
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Luật Đấu thầu thuận lợi hóa quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm: Quy hoạch mới tạo dư địa để Hà Nội nâng tầm vị thế
Thành tựu xuất nhập khẩu - Dấu ấn của nền kinh tế năng động, hội nhập
Đổi mới mô hình phát triển: Bước chuyển chiến lược đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
Thu hút FDI thế hệ mới: Bước chuyển tư duy gắn với mô hình phát triển mới
Đối ngoại Việt Nam - Bản lĩnh tự chủ trong kỷ nguyên phát triển mới
TP. Hồ Chí Minh chọn mô hình nào để phát triển trung tâm outlet?
Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa















