

Việt Nam đã có những nền tảng quan trọng để hướng tới tăng trưởng 2 con số, song tốc độ cao sẽ khó duy trì nếu chất lượng tăng trưởng chưa được cải thiện tương xứng. Nâng năng suất, đổi mới mô hình phát triển, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực là những yếu tố quyết định sức bền của nền kinh tế trong chặng đường tới.
Thời điểm này, Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở ra một chu kỳ phát triển mới với nhiều điều kiện thuận lợi được tích lũy trong những năm qua. Kinh tế duy trì đà phục hồi, cải cách thể chế được thúc đẩy, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo từng bước trở thành những động lực mới. Những chuyển biến này tạo thêm dư địa để nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong những năm tới.
Song, đạt tốc độ cao đã khó, duy trì tốc độ ấy đủ lâu để tạo ra sự thay đổi về chất còn khó hơn. Khi Việt Nam bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, yêu cầu đặt ra cũng thay đổi: nền kinh tế cần chuyển từ khai thác các lợi thế sẵn có sang nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh, qua đó tạo động lực cho một chặng đường phát triển dài hạn.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, PGS.,TS. Nguyễn Thường Lạng, Chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng việc gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao là kết quả của một quá trình đổi mới kéo dài nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, cột mốc này cũng đặt nền kinh tế trước một yêu cầu mới là phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về mô hình phát triển, nâng cao chất lượng tăng trưởng và tạo dựng những động lực đủ sức đưa Việt Nam tiến xa hơn.

Phóng viên: Ngân hàng Thế giới vừa xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Theo ông, đâu là những cơ hội lớn đối với nền kinh tế trong giai đoạn tới?
PGS.,TS. Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi nhớ, khoảng năm 2010, Ngân hàng Thế giới xác định Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp, với thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.068 USD. Đến nay, con số này đã tăng lên khoảng 4.970 USD/người, đưa Việt Nam chính thức bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Đây là một dấu mốc quan trọng, phản ánh những thành quả đạt được sau nhiều năm đổi mới, cải cách và mở cửa nền kinh tế.
Cột mốc này cho thấy hướng đi của Việt Nam trong quá trình phát triển là phù hợp, đồng thời tạo thêm cơ sở để hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao. Khi mức thu nhập được nâng lên, quy mô tầng lớp trung lưu mở rộng, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư cũng có nhiều thay đổi. Tổng cầu của nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng, tạo động lực mở rộng sản xuất, thúc đẩy tổng cung và hình thành thêm các cơ hội đầu tư mới.
Tôi cho rằng trong 2-3 năm tới, kinh tế Việt Nam có khả năng tạo ra bước tăng trưởng mạnh, thậm chí đạt mức cao hơn so với những dự báo hiện nay. Khi sức mua trong nước được cải thiện, nhu cầu đầu tư gia tăng và môi trường kinh doanh tiếp tục được nâng cấp, nhiều lĩnh vực sẽ có thêm dư địa mở rộng.

Một cơ hội khác nằm ở khả năng thu hút các dòng vốn đầu tư. Vị thế mới của nền kinh tế có thể tạo thêm sức hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đồng thời thúc đẩy đầu tư tư nhân và các nguồn vốn dành cho nhiều thành phần kinh tế. Nếu tận dụng tốt cơ hội này, Việt Nam có thể thu hút được những dự án có quy mô lớn hơn, chất lượng cao hơn và tạo thêm giá trị cho nền kinh tế.
Hoạt động xuất nhập khẩu cũng đang đứng trước triển vọng tích cực và có khả năng thiết lập những kỷ lục mới trong năm nay. Khi tiêu dùng, đầu tư, sản xuất và thương mại cùng được thúc đẩy, các động lực tăng trưởng sẽ có điều kiện bổ trợ lẫn nhau, tạo ra sức bật mới cho nền kinh tế.
Vì vậy, việc được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao cần được nhìn nhận như một dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới. Thành quả đạt được tạo thêm niềm tin và vị thế cho Việt Nam, đồng thời mở rộng cơ hội thu hút nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất và gia tăng vai trò của Việt Nam trong kinh tế khu vực và thế giới.
Phóng viên: Bên cạnh những cơ hội, theo ông, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức gì khi bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao?
PGS.,TS. Nguyễn Thường Lạng: Trong quá trình phát triển, cơ hội và thách thức luôn song hành. Việc bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao mở ra dư địa phát triển mới, đồng thời đặt Việt Nam trước yêu cầu phải nâng cao chất lượng tăng trưởng để tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Thách thức trước hết nằm ở năng suất lao động. Dù năng suất lao động của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, khoảng cách với các nền kinh tế phát triển trong khu vực và trên thế giới vẫn còn lớn. Theo những số liệu tôi được biết, năng suất lao động của Việt Nam hiện chỉ bằng khoảng 1/15 của Singapore, 1/13 của Nhật Bản và 1/12 của Hàn Quốc, đồng thời thấp hơn đáng kể so với Malaysia và Thái Lan.
Khoảng cách này cho thấy dư địa cải thiện năng suất của Việt Nam còn rất lớn. Muốn thu hẹp khoảng cách, chúng ta cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển mạnh sang dựa vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cùng với đó là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện kỹ năng của người lao động và tăng khả năng ứng dụng công nghệ trong các ngành, lĩnh vực.
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng là vấn đề cần được quan tâm. Hiện khu vực FDI vẫn giữ vai trò rất lớn trong hoạt động xuất khẩu, chiếm trên 73% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tỷ trọng này cho thấy nền kinh tế vẫn có mức độ phụ thuộc đáng kể vào khu vực FDI và đặt ra yêu cầu phải nâng cao hơn nữa năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước.

Một vấn đề liên quan là tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, khiến giá trị gia tăng tạo ra trong nước chưa tương xứng với quy mô xuất khẩu. Để cải thiện tình trạng này, doanh nghiệp Việt Nam cần từng bước làm chủ nguồn nguyên liệu, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực. Khi nâng được năng lực sản xuất trong nước, doanh nghiệp sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó giữ lại nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, quy mô và năng lực của đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam vẫn cần được nâng lên. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng nhằm tạo động lực cho các khu vực doanh nghiệp phát triển, trong đó có Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân với mục tiêu khoảng 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030; Nghị quyết số 79-NQ/TW về doanh nghiệp nhà nước; Nghị quyết số 10-NQ/TW về khu vực đầu tư nước ngoài và Nghị quyết số 86-NQ/TW về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Vấn đề đặt ra tiếp theo là làm thế nào để từ số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, Việt Nam hình thành được những doanh nghiệp có quy mô lớn, năng lực quản trị tốt và khả năng cạnh tranh quốc tế. Chúng ta cần hướng tới việc xây dựng những tập đoàn kinh tế đủ sức dẫn dắt các chuỗi giá trị, tham gia sâu hơn vào thị trường toàn cầu và từng bước có doanh nghiệp Việt Nam góp mặt trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Ngoài ra, thể chế, hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực vẫn là những yếu tố cần tiếp tục được cải thiện. Một nền kinh tế muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao phải có hệ thống thể chế đủ linh hoạt để thúc đẩy đầu tư, hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển và nguồn nhân lực có khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh của công nghệ và thị trường.
Tôi cho rằng những thách thức này cần được nhìn nhận theo hướng tích cực. Mỗi điểm nghẽn đều hàm chứa một dư địa phát triển. Nếu có chính sách phù hợp, cải cách được triển khai thực chất và các nguồn lực được phân bổ hiệu quả, việc xử lý những điểm yếu hiện nay sẽ trở thành động lực để Việt Nam nâng cao năng suất, cải thiện sức cạnh tranh và tạo bước tiến mới về chất lượng tăng trưởng.

Phóng viên: Mục tiêu tăng trưởng 2 con số được đặt ra cho giai đoạn 2026-2030, đồng thời phải tạo dư địa phát triển cho những thập niên tiếp theo. Theo ông, Việt Nam cần dựa trên những nền tảng nào để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và bền vững?
PGS.,TS. Nguyễn Thường Lạng: Tăng trưởng 2 con số cần được nhìn nhận như một yêu cầu mang tính chiến lược đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có thể xem là thời kỳ tạo đà “cất cánh” cho nền kinh tế, giúp Việt Nam tận dụng tốt hơn cơ hội từ hội nhập quốc tế, khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước, vượt qua nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình và chuẩn bị cho quá trình già hóa dân số dự kiến diễn ra mạnh hơn từ khoảng năm 2036.
Để tiến gần mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần duy trì một giai đoạn tăng trưởng cao đủ dài. Theo tôi, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 9-9,5%/năm trong ít nhất một thập kỷ sẽ tạo ra quán tính phát triển rất quan trọng. Kinh nghiệm của nhiều nền kinh tế châu Á cho thấy, một chu kỳ tăng trưởng cao kéo dài có thể làm thay đổi quy mô nền kinh tế, năng lực tích lũy, chất lượng hạ tầng và vị thế quốc gia.
Tuy nhiên, tăng trưởng cao trong giai đoạn tới không thể chủ yếu dựa vào những động lực truyền thống. Việt Nam cần sớm xác lập mô hình tăng trưởng mới, trong đó khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực trung tâm. Cơ cấu nền kinh tế phải tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại hơn, gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo, chuyển dịch năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
Một yêu cầu rất quan trọng là nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Nếu hiện nay TFP đóng góp khoảng 45% vào tăng trưởng thì đến năm 2030 cần hướng tới mức khoảng 55%. Điều đó đồng nghĩa với việc tăng trưởng phải ngày càng dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị và đổi mới sáng tạo thay vì chủ yếu mở rộng vốn đầu tư hay khai thác thêm tài nguyên.

Cùng với đó, Việt Nam cần hình thành một số ngành công nghiệp mới đủ sức đóng vai trò dẫn dắt. Công nghiệp bán dẫn, công nghiệp số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp dữ liệu, năng lượng mới cùng một số công nghệ chiến lược cần được đầu tư có trọng tâm để từng bước tạo ra những cực tăng trưởng mới.
Muốn phát triển các lĩnh vực này, Việt Nam phải nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tăng mạnh đầu tư cho nghiên cứu - phát triển. Mục tiêu đưa chi cho R&D lên khoảng 2% GDP là rất cần thiết nếu chúng ta muốn hình thành năng lực công nghệ nội sinh, giảm phụ thuộc và từng bước làm chủ các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao.
Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh cũng cần một cộng đồng doanh nghiệp đủ mạnh. Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, khu vực kinh tế tập thể và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều phải trở thành những lực lượng tham gia tích cực vào mô hình tăng trưởng mới. Trong đó, khu vực doanh nghiệp cần tăng đầu tư vào công nghệ, đổi mới quản trị, phát triển sản phẩm mới và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Song song với các động lực về công nghệ và doanh nghiệp, cải cách thể chế tiếp tục là điều kiện mang tính nền tảng. Môi trường đầu tư, kinh doanh cần minh bạch, thông thoáng, bình đẳng, giảm chi phí tuân thủ và tạo không gian cho những mô hình kinh doanh mới. Việt Nam cũng phải đầu tư mạnh hơn cho nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời tận dụng hiệu quả dòng vốn, công nghệ, tri thức và thị trường từ bên ngoài.
Phóng viên: Với riêng năm 2026, khi mục tiêu tăng trưởng trên 10% đặt ra yêu cầu rất cao đối với 6 tháng cuối năm, đâu là những động lực cần được ưu tiên để vừa tạo bước bứt phá trước mắt, vừa mở đường cho chu kỳ tăng trưởng dài hạn?
PGS.,TS. Nguyễn Thường Lạng: Theo số liệu của Cục Thống kê, GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Với kết quả này, để tăng trưởng cả năm vượt 10%, tốc độ tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm cần đạt khoảng 11,82%. Đây rõ ràng là một nhiệm vụ rất thách thức, song nền kinh tế vẫn còn những dư địa có thể khai thác mạnh hơn trong những tháng còn lại.
Động lực đầu tiên là đầu tư công. Hiện tỷ lệ giải ngân mới đạt khoảng 30% kế hoạch năm, vì vậy dư địa giải ngân trong nửa cuối năm còn rất lớn. Nếu các dự án hạ tầng trọng điểm được tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thi công và đưa dòng vốn vào nền kinh tế nhanh hơn, đầu tư công sẽ tác động trực tiếp tới tổng cầu, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa tới xây dựng, vật liệu, vận tải, logistics, dịch vụ và nhiều ngành sản xuất liên quan.
Động lực thứ hai đến từ khu vực kinh tế đối ngoại. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 560 tỷ USD và cả năm có khả năng đạt 1.100-1.200 tỷ USD. Nếu đạt được mức này, quy mô thương mại của Việt Nam sẽ thiết lập một mặt bằng mới.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tiếp tục là một tín hiệu tích cực. Vốn FDI thực hiện trong nửa đầu năm đạt trên 13 tỷ USD và cả năm có thể đạt khoảng 30 tỷ USD. Điều này cho thấy Việt Nam tiếp tục duy trì sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc và các tập đoàn lớn tìm kiếm những địa điểm sản xuất mới.
Bên cạnh xuất khẩu và đầu tư, thị trường trong nước cần được khai thác mạnh hơn. Việc điều chỉnh tiền lương từ ngày 1/7/2026 cùng các chính sách an sinh xã hội và kích cầu tiêu dùng có thể góp phần cải thiện sức mua. Khi thu nhập và niềm tin tiêu dùng được củng cố, thương mại, dịch vụ, du lịch và nhiều lĩnh vực sản xuất phục vụ thị trường nội địa sẽ có thêm dư địa tăng trưởng.

Một yêu cầu đi kèm là tiếp tục giữ ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt, mặt bằng lãi suất được duy trì ở mức phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp, trong khi chính sách tài khóa cần phát huy vai trò hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn bảo đảm an toàn ngân sách.
Việc ổn định giá năng lượng, kiểm soát các mặt hàng thiết yếu, tổ chức các chương trình kích cầu và khuyến mại, đồng thời điều tiết thị trường bất động sản theo hướng lành mạnh cũng sẽ góp phần giảm áp lực lên mặt bằng giá. Mục tiêu quan trọng là tạo được sự cân bằng giữa thúc đẩy tăng trưởng và duy trì ổn định vĩ mô.
Nếu đầu tư công, xuất khẩu, FDI, tiêu dùng trong nước và chính sách vĩ mô cùng được vận hành hiệu quả, Việt Nam có cơ sở để hướng tới mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm 2026. Tuy nhiên, ý nghĩa lớn hơn của năm 2026 nằm ở việc tạo ra điểm khởi đầu thuận lợi cho cả giai đoạn 2026-2030.
Vì vậy, những giải pháp trước mắt phải gắn chặt với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Trong dài hạn, khu vực dịch vụ cần hướng tới tốc độ tăng trưởng khoảng 14-15%/năm, công nghiệp khoảng 12-13%/năm, trong khi nông nghiệp tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định khoảng 4-4,5%/năm.
Cơ cấu đó cần đi cùng sự phát triển của các ngành kinh tế mũi nhọn, gia tăng năng suất lao động, ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao giá trị gia tăng trong từng ngành. Mỗi điểm phần trăm tăng trưởng trong tương lai cần được tạo ra với chất lượng cao hơn, hiệu quả sử dụng nguồn lực tốt hơn và hàm lượng công nghệ lớn hơn.
Nếu Việt Nam vừa tận dụng được những dư địa tăng trưởng trong năm 2026, vừa kiên trì chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mục tiêu tăng trưởng cao sẽ không dừng lại ở một năm riêng lẻ mà có thể trở thành nền tảng cho một chu kỳ phát triển dài hạn của nền kinh tế.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Có thể thấy, theo phân tích của PGS.,TS. Nguyễn Thường Lạng, mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao đòi hỏi nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong thời gian dài. Đây là yêu cầu lớn, đòi hỏi Việt Nam phải tạo dựng một mô hình phát triển mới, hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế cần được đẩy mạnh và triển khai đồng bộ. Công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo cần trở thành những trụ cột quan trọng, tạo thêm động lực và dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế.
Quan trọng hơn, tăng trưởng trong giai đoạn tới cần được đánh giá dựa trên chất lượng và tính bền vững. Các yếu tố như năng suất lao động, đóng góp của khoa học - công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng làm chủ công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế sẽ ngày càng giữ vai trò quyết định.

Theo PGS.,TS. Nguyễn Thường Lạng, khi những yếu tố này được cải thiện đồng thời, mục tiêu tăng trưởng 2 con số có thể trở thành quỹ đạo phát triển ổn định của nền kinh tế trong nhiều năm, thay vì chỉ là mục tiêu trong ngắn hạn.
Từ góc nhìn này, tăng trưởng 2 con số hoàn toàn có cơ sở nếu Việt Nam tận dụng tốt các cơ hội đang mở ra, đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, năng suất, công nghệ và năng lực cạnh tranh. Cốt lõi nằm ở việc xây dựng một mô hình phát triển mới dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bên cạnh các giải pháp trong nước, kinh nghiệm quốc tế cũng là nguồn tham chiếu quan trọng để Việt Nam hoàn thiện mô hình tăng trưởng, lựa chọn hướng đi phù hợp và tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
(Còn tiếp)