eMagazine

Bài 1: Tăng trưởng 2 con số - Nền tảng đã có, thời cơ đã đến

07:05 | 12/08/2026

Sau những kết quả tích cực của nửa đầu năm 2026, mục tiêu tăng trưởng 2 con số đang có thêm những nền tảng quan trọng. Thời cơ đã mở ra, song khả năng bứt phá sẽ phụ thuộc vào tốc độ tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đang trở thành định hướng xuyên suốt trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng cao là yêu cầu cấp thiết nhằm mở rộng dư địa phát triển trong giai đoạn 2026-2030, đồng thời tạo nền tảng để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập hai cột mốc chiến lược: đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, nền kinh tế cần duy trì tốc độ tăng trưởng từ 10% trở lên trong nhiều năm liên tiếp. Mức tăng trưởng đó vừa đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, vừa thể hiện quyết tâm đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển nhanh hơn, chất lượng hơn và bền vững hơn.

Tinh thần khẩn trương, quyết liệt ấy đã được thể hiện rõ ngay từ những tháng đầu năm 2026 thông qua việc triển khai đồng bộ các nghị quyết, kết luận quan trọng của Trung ương và Quốc hội. Đặc biệt, Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".

Mới đây, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã xác lập những định hướng quan trọng cho chặng đường tăng trưởng mới. Với hệ thống nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, Nghị quyết hướng tới kiến tạo mô hình phát triển hiệu quả hơn, mở rộng dư địa để nền kinh tế bứt phá và tiến tới tốc độ tăng trưởng 2 con số.

Những định hướng trên được đặt trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang duy trì nhịp tăng trưởng tích cực. GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, mức cao nhất của cùng kỳ kể từ năm 2011. Kết quả này cho thấy sức sản xuất của nền kinh tế tiếp tục được cải thiện, nhiều khu vực chủ lực phục hồi rõ nét, qua đó tạo thế và lực thuận lợi để Việt Nam hướng tới những mục tiêu cao hơn.

Đà đi lên tiếp tục được nối dài trong tháng 7 khi nhiều chỉ tiêu về sản xuất, kinh doanh, đầu tư và thương mại ghi nhận chuyển biến khả quan. Hoạt động của doanh nghiệp từng bước sôi động, dòng vốn đầu tư tiếp tục được khơi thông, giao thương mở rộng và sức chống chịu của nền kinh tế được cải thiện. Đây là những tín hiệu quan trọng để duy trì nhịp phát triển trong những tháng còn lại của năm 2026.

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương, giá trị của bức tranh kinh tế không chỉ được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng GDP, mà quan trọng hơn là chất lượng tăng trưởng tiếp tục được nâng lên. Nền tảng kinh tế vĩ mô được giữ vững ổn định, các động lực tăng trưởng truyền thống duy trì vai trò dẫn dắt, trong khi các động lực mới đang từng bước hình thành và phát huy hiệu quả, tạo dư địa cho nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh và bền vững hơn.

Sự chuyển biến tích cực của kinh tế Việt Nam cũng được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Trong khi nhiều tổ chức dự báo tăng trưởng năm 2026 đạt khoảng 7-8%, Ngân hàng Standard Chartered đã nâng dự báo lên 9,5% và kỳ vọng GDP năm 2027 đạt khoảng 11%. Việc một tổ chức tài chính quốc tế đưa ra dự báo cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung cho thấy niềm tin vào triển vọng kinh tế Việt Nam được hình thành từ những yếu tố nền tảng như ổn định kinh tế vĩ mô, năng lực điều hành chính sách và dư địa tăng trưởng từ quá trình chuyển đổi mô hình phát triển.

Có thể thấy, mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam được đặt trên những nền tảng thực tiễn và luận cứ ngày càng rõ nét, thay vì dừng ở kỳ vọng. Quyết tâm chính trị cao, thể chế từng bước hoàn thiện, các động lực tăng trưởng được củng cố cùng những chuyển biến về chất lượng phát triển đang tạo thế và lực mới, mở ra dư địa để nền kinh tế bứt tốc, tiến vào một chu kỳ tăng trưởng nhanh và bền vững hơn.

Kết quả tăng trưởng tích cực trong 6 tháng đầu năm là tín hiệu đáng khích lệ, song cũng mới chỉ là bước khởi đầu cho một chặng đường nhiều thách thức phía trước. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế cần đạt mức tăng khoảng 11,7% trong 6 tháng cuối năm - một nhiệm vụ chưa từng dễ dàng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Điều đó cho thấy, nếu chỉ dựa vào các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư hay tiêu dùng sẽ khó tạo nên bước đột phá bền vững. Quan trọng hơn, Việt Nam cần hình thành một mô hình tăng trưởng mới, trong đó năng suất lao động, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế trở thành những động lực cốt lõi.

Tinh thần này được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khi đánh giá những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2026 là rất đáng trân trọng trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm; quốc phòng, an ninh được giữ vững; đối ngoại, văn hóa và an sinh xã hội tiếp tục được củng cố, tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Tuy nhiên, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, những kết quả này mới chỉ là tiền đề. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp, Việt Nam cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng cường năng lực tự chủ của nền kinh tế và huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển.

Định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác lập rõ con đường để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Theo đó, mô hình tăng trưởng phải chuyển mạnh từ dựa vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Quan điểm chỉ đạo này phản ánh yêu cầu đổi mới căn bản các động lực phát triển. Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng từ vốn đầu tư và lao động chi phí thấp ngày càng thu hẹp, tăng trưởng 2 con số chỉ có thể được duy trì khi năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và trình độ công nghệ trở thành nguồn lực chủ đạo, tạo giá trị gia tăng cao và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước, khơi thông nguồn lực của khu vực kinh tế tư nhân, nâng cao năng lực nội sinh và gắn thu hút đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ. Đây không chỉ là giải pháp nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn 2026-2030, mà còn là nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng 2 con số, tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Nền tảng tăng trưởng đã được tạo dựng, song để duy trì tốc độ cao trong một chu kỳ dài, Việt Nam cần tạo ra bước chuyển mạnh hơn về chất lượng phát triển. Trọng tâm là giải phóng những nguồn lực còn bị cản trở, nâng hiệu quả đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh và xây dựng cơ chế thực thi đủ nhanh để các chủ trương sớm chuyển hóa thành kết quả thực tế.

Yêu cầu này cũng được Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh trong quá trình điều hành. Theo Bộ trưởng, toàn ngành Tài chính cần “chung sức, đồng lòng cùng cả hệ thống chính trị thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số theo chỉ đạo của Chính phủ”. Điều đó đặt ngành Tài chính trước yêu cầu chủ động hơn trong tham mưu, điều hành và phân bổ các nguồn lực phát triển.

Một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa nền tảng là tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo. Thể chế thông thoáng sẽ tạo thêm không gian cho doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất, đồng thời giúp dòng vốn và các nguồn lực khác lưu chuyển thuận lợi hơn. Ngược lại, thủ tục kéo dài, điều kiện kinh doanh bất hợp lý hay cơ chế xin - cho có thể làm tăng chi phí và bỏ lỡ cơ hội phát triển.

Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, tư duy xây dựng pháp luật cần chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, giảm tối đa cơ chế xin - cho và cấp phép. Với những lĩnh vực có thể quản lý bằng tiêu chuẩn, tiêu chí, cần công khai rõ yêu cầu để các chủ thể chủ động thực hiện, đồng thời tăng cường hậu kiểm nhằm bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả quản lý.

“Tư duy xây dựng pháp luật của chúng ta phải đổi mới. Từ việc nặng về quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo; giảm tối đa cơ chế xin - cho, giảm tối đa cấp phép; cái gì quản được bằng tiêu chuẩn, tiêu chí thì công bố tiêu chuẩn, tiêu chí và thực hiện hậu kiểm”, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.

Song hành với cải cách thể chế là yêu cầu phát huy mạnh hơn vai trò của đầu tư công. Đẩy nhanh giải ngân vừa đưa nguồn vốn vào nền kinh tế, vừa thúc đẩy hình thành hệ thống hạ tầng chiến lược, mở rộng không gian phát triển và cải thiện năng lực sản xuất. Khi được đầu tư đúng trọng tâm, vốn nhà nước còn có thể tạo hiệu ứng dẫn dắt, thu hút thêm dòng vốn từ khu vực tư nhân.

Dư địa đáng kể cũng nằm ở các dự án tồn đọng kéo dài, tài sản công chưa được khai thác hiệu quả và những nguồn lực đang chậm đưa vào sử dụng. Xử lý dứt điểm các dự án vướng mắc vì vậy mang ý nghĩa lớn hơn việc tháo gỡ cho từng công trình riêng lẻ, bởi nguồn vốn, đất đai và tài sản được giải phóng có thể nhanh chóng quay trở lại phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Trong quá trình đó, nguồn lực nhà nước cần đóng vai trò “vốn mồi”, tập trung vào những công trình hạ tầng chiến lược và lĩnh vực có khả năng tạo sức lan tỏa lớn. Khi một tuyến giao thông, trung tâm logistics hay hạ tầng số được hoàn thiện, giá trị tạo ra sẽ lan sang nhiều ngành, mở rộng không gian đầu tư và thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển.

Bên cạnh bài toán đầu tư, khả năng thích ứng của chính sách cũng trở nên quan trọng khi kinh tế thế giới còn nhiều biến động khó lường. Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, các kịch bản tăng trưởng cần thường xuyên được rà soát, cập nhật sát diễn biến thực tế, qua đó giúp cơ quan điều hành chủ động lựa chọn công cụ phù hợp, hạn chế tác động bất lợi và tận dụng kịp thời những cơ hội mới.

Điều đó đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa, đầu tư, thương mại cùng các chính sách phát triển khác. Các giải pháp cần được thiết kế theo hướng bổ trợ lẫn nhau, thay vì xử lý từng vấn đề riêng biệt. Khi chính sách được triển khai thống nhất từ Trung ương tới địa phương, hiệu quả phân bổ nguồn lực sẽ được cải thiện, qua đó tạo sức cộng hưởng cho toàn nền kinh tế.

Chuyển đổi số là một công cụ quan trọng để nâng chất lượng thực thi. Số hóa quy trình, liên thông dữ liệu, tăng phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình và hậu kiểm có thể rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, giảm chi phí tuân thủ, nâng tính minh bạch. Qua đó, bộ máy quản lý chuyển dần từ xử lý hành chính sang phục vụ người dân, doanh nghiệp và kiến tạo môi trường phát triển.

Nhìn rộng hơn, tăng trưởng 2 con số khó có thể duy trì lâu dài nếu chủ yếu dựa vào việc gia tăng lượng vốn đưa vào nền kinh tế. Chất lượng sử dụng vốn, năng suất lao động, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và khả năng chuyển dịch nguồn lực tới những khu vực hiệu quả hơn mới là những yếu tố quyết định sức bền của một chu kỳ tăng trưởng cao.

Bởi vậy, vấn đề của giai đoạn tới không nằm ở việc Việt Nam có bao nhiêu nguồn lực, mà ở khả năng đánh thức và chuyển hóa những nguồn lực ấy thành năng lực phát triển mới. Mỗi dự án được tháo gỡ, mỗi thủ tục được cắt giảm, mỗi đồng vốn được đưa đúng địa chỉ sẽ góp phần mở rộng năng lực sản xuất, nâng cao năng suất và gia tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Kết quả tích cực trong nửa đầu năm 2026 đã tạo cho Việt Nam một điểm xuất phát thuận lợi để hướng tới những mục tiêu cao hơn. Song, một vài quý tăng trưởng cao chưa đủ để tạo nên một chu kỳ phát triển dài hạn. Điều cần thiết là tiếp tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, củng cố sức mạnh nội tại và hình thành những động lực mới có khả năng dẫn dắt nền kinh tế trong nhiều năm.

Nền tảng đã được tạo dựng, dư địa phát triển đang mở rộng và thời cơ mới cũng dần hiện hữu. Điều quyết định lúc này là khả năng biến quyết tâm thành hành động, biến tiềm năng thành nguồn lực và biến nguồn lực thành giá trị thực tế. Nếu thực hiện được bước chuyển đó, tăng trưởng 2 con số sẽ trở thành một nấc thang quan trọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

(Còn tiếp)

Thanh Hằng