

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ đòi hỏi những động lực mới mà còn yêu cầu khai thông hiệu quả các nguồn lực hiện có của nền kinh tế. Dư địa tăng trưởng của Việt Nam vẫn còn rất lớn, song để biến tiềm năng thành động lực phát triển thực sự, điều quan trọng nhất là tiếp tục cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và tạo môi trường thuận lợi để mọi nguồn lực được lưu thông thông suốt.

Sau khi GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, mục tiêu tăng trưởng 2 con số đã có thêm cơ sở thực tiễn để hiện thực hóa. Tuy nhiên, theo tính toán của Bộ Tài chính, nền kinh tế cần đạt mức tăng trưởng khoảng 11,7% trong 6 tháng cuối năm mới hoàn thành mục tiêu cả năm. Áp lực này diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, dư địa điều hành chính sách tiền tệ thu hẹp và yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô ngày càng lớn. Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng phải được tìm kiếm từ những cải cách mang tính căn cơ thay vì tiếp tục dựa vào các giải pháp ngắn hạn.
Theo nhiều chuyên gia, dư địa lớn nhất của nền kinh tế hiện nay nằm ở việc khơi thông các nguồn lực đang bị ách tắc bởi những điểm nghẽn về thể chế. PGS.TS. Trần Kim Chung, Học viện Tài chính cho rằng, cải cách thể chế cần được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số trong nhiều năm liên tiếp. Theo ông, thể chế chính là "động lực của các động lực", bởi mọi nguồn lực chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được vận hành trong một môi trường pháp lý minh bạch, thông suốt và ổn định.
Từ góc độ đó, việc tháo gỡ các rào cản về đất đai, đầu tư, thị trường vốn và thủ tục hành chính mang ý nghĩa lớn hơn việc giải quyết từng dự án riêng lẻ. Khi các điểm nghẽn được xử lý, nguồn lực sẽ được phân bổ hiệu quả hơn, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp giảm xuống, môi trường đầu tư được cải thiện và niềm tin của khu vực tư nhân được củng cố. Đó cũng là điều kiện để dòng vốn trong và ngoài nước tiếp tục mở rộng đầu tư, nâng cao năng suất và tạo thêm dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế.

Tinh thần này được thể hiện rõ qua việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội về xử lý các dự án vướng mắc, chậm tiến độ và Chính phủ nhanh chóng ban hành Nghị định số 147/2026/NĐ-CP để tổ chức thực hiện. Với khoảng 4.500 dự án bất động sản đang gặp vướng mắc, tổng nguồn lực bị "đóng băng" ước khoảng 3,3 triệu tỷ đồng, việc áp dụng cơ chế đặc thù để tiếp tục triển khai các dự án có hiệu quả kinh tế mang ý nghĩa khơi thông một nguồn lực rất lớn đang bị lãng phí trong nền kinh tế.
Điểm đáng chú ý là quá trình chuyển hóa từ chủ trương sang hành động đang được đẩy nhanh. Thời gian qua, các bộ, ngành và địa phương đã tập trung tháo gỡ khó khăn cho hơn 1.000 dự án tồn đọng. Điều này cho thấy xử lý các dự án chậm tiến độ đã trở thành nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị, hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia. Khi những "điểm nghẽn" được tháo gỡ, dòng vốn đầu tư sẽ được lưu thông, nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh được kích hoạt và hiệu ứng lan tỏa sẽ xuất hiện trên phạm vi toàn nền kinh tế.

Theo PGS.TS Trần Kim Chung, cải cách thể chế chỉ thực sự tạo ra tăng trưởng khi đi cùng hiệu quả tổ chức thực hiện. Khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn vẫn là rào cản lớn đối với nhiều chính sách phát triển. Vì vậy, cần siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và xử lý kịp thời những vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai. Khi thể chế được hoàn thiện và thực thi hiệu quả, những nguồn lực đang bị "đóng băng" sẽ được giải phóng, tạo động lực mới để Việt Nam duy trì tăng trưởng 2 con số một cách bền vững.

Bên cạnh đó, một số chuyên gia cũng nhận định, một trong những dư địa lớn nhất để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số nằm ở việc khơi thông các nguồn lực đang bị ách tắc trong nền kinh tế. TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ cho biết cả nước hiện còn hàng nghìn dự án tồn đọng với quy mô nguồn lực lên tới hàng triệu tỷ đồng. Khi các vướng mắc pháp lý được tháo gỡ và các dự án sớm được triển khai, nền kinh tế sẽ có thêm một động lực tăng trưởng rất lớn mà không phải huy động thêm nguồn vốn mới.
Theo TS. Cấn Văn Lực, Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa để phát huy hiệu quả ba động lực tăng trưởng truyền thống gồm đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu. Tuy nhiên, để duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số trong dài hạn, nền kinh tế cần đồng thời tạo lập các động lực mới thông qua cải cách thể chế, phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng.
Đầu tư công tiếp tục được xác định là động lực dẫn dắt tăng trưởng thông qua phát triển kết cấu hạ tầng, tăng cường kết nối vùng, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Theo TS. Cấn Văn Lực, kế hoạch giải ngân đầu tư công năm 2026 đạt khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 31% so với năm trước. Nếu hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% theo chỉ đạo của Chính phủ, tăng trưởng GDP có thể được bổ sung thêm khoảng 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ tới đầu tư xã hội.

Một dư địa tăng trưởng quan trọng khác là tháo gỡ các dự án tồn đọng, nhất là trong lĩnh vực đất đai và bất động sản. Khi các nguồn lực đang bị "đóng băng" được khơi thông, dòng vốn sẽ quay trở lại nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và tạo hiệu ứng lan tỏa tới nhiều ngành, lĩnh vực. Theo chuyên gia, quá trình này sẽ góp phần giải phóng nguồn lực đang bị lãng phí, tạo thêm dư địa để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới.
“Hiện cả nước có khoảng 3.338 dự án đang gặp vướng mắc, với tổng vốn đầu tư lên tới 3,35 triệu tỷ đồng và gần 200.000ha đất chưa thể đưa vào khai thác. Đây là nguồn lực cực kỳ lớn của nền kinh tế. Nếu mỗi năm chúng ta tháo gỡ được khoảng 20% số dự án này thì nguồn lực đầu tư bổ sung cho nền kinh tế có thể đạt khoảng 670.000 tỷ đồng/năm", TS Cấn Văn Lực nhấn mạnh.
Cải cách thể chế cũng được TS. Cấn Văn Lực đánh giá là một trong những động lực quan trọng nhất của tăng trưởng. Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp có thể đóng góp thêm khoảng 1-1,2 điểm phần trăm tăng trưởng mỗi năm. Khi kết hợp với hiệu quả từ đầu tư công và việc tháo gỡ các dự án tồn đọng, nền kinh tế có khả năng tạo thêm khoảng 3-3,5 điểm phần trăm tăng trưởng.

Theo TS. Cấn Văn Lực, mục tiêu tăng trưởng 2 con số cần được đặt trên nền tảng của quá trình đổi mới mô hình phát triển. Bên cạnh việc khai thác hiệu quả các động lực ngắn hạn, Việt Nam cần nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) thông qua phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện thể chế. Đây là những yếu tố quyết định để duy trì tốc độ tăng trưởng cao một cách bền vững, tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số được đặt ra, yêu cầu đối với chính sách tiền tệ cũng trở nên cao hơn. Dư địa điều hành hiện không còn nhiều do áp lực từ lạm phát, tỷ giá và những biến động của kinh tế thế giới. Vì vậy, trọng tâm không phải là mở rộng hỗ trợ bằng mọi giá mà là điều hành linh hoạt, có trọng tâm, đúng đối tượng và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa.
Theo TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, việc tiếp tục hạ mặt bằng lãi suất trên diện rộng sẽ khó phát huy hiệu quả như các giai đoạn trước. Nguồn lực tín dụng cần được phân bổ vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn như nhà ở xã hội, nông nghiệp công nghệ cao, thủy sản, công nghiệp chế biến, chế tạo và các ngành có năng lực cạnh tranh quốc tế.
TS. Võ Trí Thành cũng cho rằng ba động lực truyền thống gồm đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu vẫn giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Điều cần thiết là phát huy đồng thời cả ba động lực thay vì phụ thuộc vào một yếu tố. Đầu tư công cần được đẩy nhanh để dẫn dắt đầu tư xã hội; tiêu dùng được hỗ trợ thông qua tạo việc làm, nâng cao thu nhập; doanh nghiệp cần một môi trường đầu tư ổn định để mở rộng sản xuất.

Theo TS. Võ Trí Thành, nền tảng quan trọng nhất để duy trì tăng trưởng cao vẫn là cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Khi niềm tin của doanh nghiệp được củng cố, hoạt động đầu tư và mở rộng sản xuất sẽ gia tăng, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và kích thích tiêu dùng. Chu trình này giúp hình thành vòng tuần hoàn tích cực giữa sản xuất, tiêu dùng và đầu tư, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Ở góc độ thị trường tài chính, TS. Cấn Văn Lực cho rằng nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn tín dụng ngân hàng. Với tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 15-16% mỗi năm và GDP tăng khoảng 10%, tỷ lệ tín dụng trên GDP có thể đạt khoảng 180% vào năm 2030, trong khi hiện đã vượt 143%. Điều đó cho thấy dư địa mở rộng tín dụng không còn lớn và việc dựa chủ yếu vào vốn ngân hàng sẽ làm gia tăng rủi ro đối với nền kinh tế.
Theo TS. Cấn Văn Lực, để chính sách tiền tệ phát huy hiệu quả và vẫn bảo đảm ổn định vĩ mô, cần đẩy nhanh cải cách thị trường tài chính theo hướng đồng bộ. Trọng tâm là hoàn thiện khung pháp lý, phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số, tài chính xanh và các quỹ đầu tư dài hạn, đồng thời tăng cường giám sát rủi ro. Khi thị trường vốn phát triển cân bằng hơn, áp lực lên hệ thống ngân hàng sẽ giảm, tạo thêm dư địa hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Bên cạnh việc khai thác các động lực tăng trưởng, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam cũng cần chủ động nhận diện và ứng phó với các rủi ro từ bên ngoài nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo TS. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều bất định, đặc biệt là những diễn biến địa chính trị có thể làm gia tăng áp lực lạm phát nhập khẩu thông qua giá năng lượng, cước vận tải và chi phí logistics. Điều này đòi hỏi công tác dự báo và xây dựng kịch bản điều hành phải được nâng lên một bước, giúp cơ quan quản lý phản ứng linh hoạt hơn trước những biến động khó lường.
Ở trong nước, tiến độ giải ngân đầu tư công tại một số địa phương còn chậm; thị trường bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp phục hồi chưa đồng đều; nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn về đơn hàng, dòng tiền và khả năng tiếp cận vốn. Đây là những điểm nghẽn cần tiếp tục được tháo gỡ để tạo điều kiện cho khu vực doanh nghiệp phục hồi mạnh mẽ hơn.

Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế tài chính (Học viện Tài chính), cho rằng phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ tiếp tục giữ vai trò then chốt trong kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo dư địa tăng trưởng. Sự phối hợp này cần linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế.
Trong bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn khó dự báo, công tác điều hành cần chuyển mạnh từ tư duy ứng phó sang chủ động dự báo, quản trị rủi ro và xây dựng các kịch bản chính sách. Việc thường xuyên cập nhật triển vọng tăng trưởng, lạm phát và các biến động quốc tế sẽ giúp cơ quan quản lý nâng cao khả năng phản ứng, bảo đảm chính sách được triển khai kịp thời, hiệu quả.
Kết quả tăng trưởng tích cực trong nửa đầu năm 2026 cho thấy Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa để bứt phá. Tuy nhiên, dư địa này chỉ có thể chuyển hóa thành động lực tăng trưởng thực chất nếu các nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn. Đồng thời, cần tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, cải thiện hiệu quả thực thi chính sách và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp, người dân phát huy tối đa nguồn lực.

Khơi thông nguồn lực vì thế không chỉ là câu chuyện tháo gỡ thủ tục hay đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, mà còn là quá trình kiến tạo một môi trường phát triển minh bạch, hiệu quả và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Khi thể chế được hoàn thiện, nguồn lực được phân bổ đúng chỗ và niềm tin của doanh nghiệp được củng cố, nền kinh tế sẽ có thêm nền tảng để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số một cách bền vững.
Song để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp, khai thác hiệu quả các động lực truyền thống thôi là chưa đủ. Việt Nam cần những động lực mới có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và năng lực cạnh tranh.
(Còn tiếp)