

Nếu cải cách thể chế giúp khơi thông nguồn lực thì khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn. Khi dư địa từ lao động giá rẻ và mở rộng đầu tư theo chiều rộng dần thu hẹp, Việt Nam cần hình thành những động lực tăng trưởng mới dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Trong nhiều năm, tăng trưởng kinh tế Việt Nam được nâng đỡ bởi 3 động lực truyền thống gồm đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng. Những động lực này đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình phát triển, song dư địa đang dần thu hẹp khi chi phí lao động tăng, hiệu quả sử dụng vốn chịu sức ép và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong những năm tới, bài toán đặt ra là phải tạo thêm những nguồn lực mới có khả năng nâng năng suất và mở rộng giá trị của nền kinh tế.
Điều đó đòi hỏi Việt Nam chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng vốn, lao động và quy mô sản xuất sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực làm chủ công nghệ. Cùng một đơn vị vốn, lao động hay tài nguyên phải tạo ra giá trị lớn hơn; hàm lượng tri thức trong sản phẩm cần được nâng lên; doanh nghiệp phải tiến sâu hơn vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Đây chính là nền tảng để tốc độ tăng trưởng cao có thể được duy trì trong thời gian dài.
Định hướng này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết đặt các lĩnh vực này vào vị trí động lực quan trọng của phát triển, gắn trực tiếp với yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Từ góc độ tăng trưởng, ý nghĩa lớn nhất của Nghị quyết là tạo cơ sở để chuyển khoa học, công nghệ từ vai trò hỗ trợ thành một nguồn trực tiếp tạo thêm giá trị cho nền kinh tế.

Tại cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số diễn ra ngày 30/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành “động lực chủ yếu của mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng mới”. Yêu cầu đặt ra là kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW phải được phản ánh bằng những sản phẩm cụ thể, công nghệ được làm chủ, năng suất từng ngành được cải thiện, doanh nghiệp phát triển, chi phí xã hội được tiết giảm và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Thông điệp đó cũng đặt ra một cách tiếp cận mới là tăng trưởng từ công nghệ phải được lượng hóa bằng hiệu quả kinh tế thực tế. Một nền tảng số chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp doanh nghiệp giảm chi phí, một công nghệ mới cần tạo ra năng suất cao hơn, còn kết quả nghiên cứu phải có khả năng đi vào sản xuất và hình thành sản phẩm trên thị trường. Khi khoa học, công nghệ được gắn với các chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể, nguồn lực đầu tư mới có khả năng tạo ra sức bật đủ lớn cho nền kinh tế.
Theo ông Ngô Thanh Hiền, Giám đốc Công nghệ IBM Việt Nam, chìa khóa đầu tiên nằm ở việc nâng năng suất trên cùng một lượng nguồn lực. Việt Nam cần chuyển nhanh sang các mô hình kinh doanh dựa trên tri thức, dữ liệu, công nghệ và hạ tầng số, qua đó tăng giá trị tạo ra từ vốn và lao động hiện có. Với cách tiếp cận này, công nghệ trở thành công cụ giúp nền kinh tế thoát khỏi giới hạn của mô hình mở rộng đầu vào, đồng thời tạo cơ sở để duy trì tốc độ phát triển cao trong dài hạn.

Từ góc nhìn của ông Ngô Thanh Hiền, vấn đề quan trọng là tốc độ lan tỏa công nghệ vào hoạt động sản xuất, quản trị và kinh doanh. AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, tự động hóa hay các nền tảng số chỉ có thể trở thành động lực tăng trưởng khi được đưa vào vận hành thực tế, giúp doanh nghiệp nâng năng suất, rút ngắn quy trình và tạo ra những mô hình kinh doanh mới. Đây là hướng đi giúp Việt Nam tận dụng làn sóng công nghệ toàn cầu để rút ngắn khoảng cách phát triển và mở ra một chu kỳ tăng trưởng mới.

Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, một trong những bước đi quan trọng là xác định rõ các công nghệ Việt Nam cần tập trung nguồn lực để tạo năng lực cạnh tranh mới. Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, hướng nguồn lực vào những công nghệ lõi, công nghệ nền tảng có khả năng tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và mức độ tự chủ của quốc gia.
Danh mục gồm 10 nhóm công nghệ và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, bao quát công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu tiên tiến, chip bán dẫn, an ninh mạng và lượng tử, công nghệ biển, hàng không - vũ trụ, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Trong đó, công nghệ số với AI, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, Internet vạn vật và chuỗi khối có khả năng lan tỏa rộng tới nhiều ngành của nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc có danh mục ưu tiên mới là bước khởi đầu. Để các công nghệ chiến lược đóng góp vào tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cần hình thành năng lực làm chủ và thương mại hóa sản phẩm ở quy mô đủ lớn. Đây cũng là góc nhìn được ông Trương Gia Bình, Chủ tịch FPT, đặc biệt nhấn mạnh khi đề cập vai trò của khu vực doanh nghiệp.

Góc nhìn thứ hai của ông Trương Gia Bình là xây dựng một hệ sinh thái đủ mạnh để đưa công nghệ từ nghiên cứu ra thị trường. Nhà nước có thể tạo cơ chế, đặt hàng và mở không gian thử nghiệm; trường đại học, viện nghiên cứu cung cấp tri thức và nhân lực; doanh nghiệp đảm nhiệm khâu phát triển sản phẩm, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Khi các mắt xích được kết nối hiệu quả, nguồn vốn dành cho khoa học, công nghệ mới có thể chuyển thành doanh thu, năng suất, việc làm chất lượng cao và những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam.
Ở góc độ mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ông Trương Gia Bình cho rằng đóng góp của doanh nghiệp công nghệ cần được đánh giá bằng giá trị tạo ra cho toàn nền kinh tế: năng suất tăng bao nhiêu, chi phí giảm thế nào, bao nhiêu sản phẩm có khả năng cạnh tranh quốc tế và bao nhiêu ngành được nâng cấp nhờ công nghệ. “Khi doanh nghiệp Việt Nam nắm được các mắt xích có giá trị cao của chuỗi công nghệ chiến lược, phần giá trị giữ lại trong nước sẽ lớn hơn, qua đó tạo thêm một nguồn tăng trưởng có chiều sâu”, ông Bình nhấn mạnh.
Từ góc độ tăng trưởng, AI được xem là một trong những công nghệ có khả năng tạo tác động rõ nét nhất đến năng suất của nền kinh tế. Nghiên cứu của GS.,TS. Trần Thọ Đạt và nhóm nghiên cứu cho thấy, ngay trong kịch bản thận trọng, AI vẫn có thể đóng góp hơn 1 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Nếu chiến lược quốc gia về AI được triển khai hiệu quả, mức đóng góp có thể đạt 2,05 điểm phần trăm vào năm 2030 và khoảng 4 điểm phần trăm vào năm 2045, tạo thêm cơ sở để nền kinh tế hướng tới tốc độ tăng trưởng trên 10% trong giai đoạn 2037-2045.

Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng từ công nghệ sẽ phụ thuộc rất lớn vào tốc độ triển khai. GS.,TS. Trần Thọ Đạt lưu ý: “Mỗi năm chậm trễ tương đương mất khoảng 0,3-0,5 điểm phần trăm GDP/năm trong dài hạn. Chi phí cơ hội tích lũy theo hàm mũ, không tuyến tính. Hành động sớm (2026-2028) quan trọng hơn hành động mạnh nhưng muộn”. Nhận định này cho thấy khoảng cách giữa tiềm năng công nghệ và tăng trưởng thực tế nằm ở khả năng đưa công nghệ vào nền kinh tế đủ nhanh, đủ rộng và đúng những lĩnh vực có sức lan tỏa lớn.
Theo GS.,TS. Trần Thọ Đạt, 4 lĩnh vực nên được ưu tiên triển khai AI gồm công nghệ thông tin và truyền thông, tài chính - ngân hàng, khoa học công nghệ và công nghiệp chế biến, chế tạo. Đây là những ngành có thể tạo ra hơn một nửa tổng tác động của AI đối với nền kinh tế. Việc tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao cũng phù hợp với yêu cầu tăng trưởng 2 con số, bởi nguồn lực đầu tư cho công nghệ cần được chuyển hóa nhanh thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực sản xuất mới.

Nếu lựa chọn đúng công nghệ là điều kiện cần, thể chế quyết định tốc độ nguồn lực được chuyển thành sản phẩm và GDP. Đây là vấn đề TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, đặt ra khi phân tích yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2026-2030.
Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, trọng tâm cần hướng vào tạo môi trường để vốn xã hội chảy mạnh hơn vào nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ. Việt Nam đã hình thành hạ tầng số, hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng khởi nghiệp; vấn đề hiện nay là kết nối các nguồn lực này thành một thị trường khoa học, công nghệ hoạt động thực chất.
Giải pháp trước hết là hoàn thiện cơ chế định giá tài sản trí tuệ và kết quả nghiên cứu để doanh nghiệp có thể mua, bán, góp vốn hoặc sử dụng làm tài sản trong các giao dịch kinh tế. Cùng với đó, thủ tục chuyển giao công nghệ cần được đơn giản hóa, quyền lợi giữa nhà khoa học, đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp cần được phân chia rõ ràng để khuyến khích thương mại hóa.
TS. Nguyễn Đức Hiển cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo hộ tài sản trí tuệ và phát triển thị trường khoa học, công nghệ. Điều này đặc biệt quan trọng với các dự án R&D có rủi ro cao, bởi doanh nghiệp sẽ khó đầu tư dài hạn nếu quyền sở hữu kết quả nghiên cứu không được bảo đảm hoặc thị trường cho sản phẩm mới chưa đủ rõ ràng.

Một hướng đi khác là mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, sản phẩm và mô hình kinh doanh mới. Thay vì chờ hoàn thiện toàn bộ khuôn khổ pháp lý mới cho phép triển khai, sandbox có thể giúp doanh nghiệp kiểm nghiệm sản phẩm trên phạm vi giới hạn, cơ quan quản lý thu thập dữ liệu thực tế để điều chỉnh chính sách. Cách làm này giúp rút ngắn thời gian từ ý tưởng đến thị trường, yếu tố đặc biệt quan trọng trong những lĩnh vực có tốc độ thay đổi nhanh như AI, fintech hay công nghệ số.
Một nền kinh tế có thể mua thiết bị và phần mềm, song năng lực công nghệ lâu dài phụ thuộc vào khả năng của con người. PGS.,TS. Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng đổi mới sáng tạo cần trở thành năng lực của quốc gia, thay vì tập trung ở một số doanh nghiệp hoặc dự án riêng lẻ. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cho thấy các nền kinh tế tạo được bước bứt phá đều đặt đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển.
Từ góc nhìn này, bài toán nhân lực cần chuyển từ đào tạo theo khả năng sẵn có của nhà trường sang đào tạo theo những công nghệ Việt Nam xác định phải làm chủ. Danh mục công nghệ chiến lược có thể trở thành cơ sở để các trường đại học xây dựng chương trình mới về AI, bán dẫn, robot, tự động hóa, dữ liệu, công nghệ vật liệu hoặc lượng tử; doanh nghiệp tham gia xác định chuẩn đầu ra, cung cấp bài toán thực tế và tiếp nhận sinh viên vào các dự án R&D.
Mối liên kết trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp cũng cần được tổ chức quanh những dự án cụ thể thay cho các chương trình hợp tác mang tính hình thức. Một đề tài nghiên cứu nên gắn với nhu cầu sản xuất hoặc sản phẩm có khách hàng tiềm năng; kỹ sư, sinh viên cần được tham gia quá trình phát triển sản phẩm từ sớm; chuyên gia doanh nghiệp có thể tham gia giảng dạy và nhà khoa học được tạo điều kiện làm việc trong các dự án thương mại.

Đây là cách để nguồn nhân lực trở thành cầu nối giữa tri thức và sản xuất. Nếu thiếu kỹ sư, nhà nghiên cứu và đội ngũ quản trị có khả năng biến công nghệ thành sản phẩm, các khoản đầu tư lớn cho AI, bán dẫn hay tự động hóa khó tạo ra hiệu quả tương xứng. Ngược lại, một lực lượng lao động có năng lực công nghệ cao sẽ giúp Việt Nam hấp thụ nhanh hơn thành tựu thế giới và từng bước tự phát triển những công nghệ của riêng mình.
Có thể thấy, mục tiêu tăng trưởng 2 con số đòi hỏi Việt Nam phải đồng thời nâng hiệu quả các động lực truyền thống và mở rộng những nguồn tăng trưởng mới dựa trên AI, dữ liệu, công nghệ lõi và nguồn nhân lực chất lượng cao. Khi công nghệ được ứng dụng sâu vào sản xuất, quản trị và kinh doanh, năng suất lao động có thể được cải thiện, giá trị gia tăng trong nước được nâng lên và vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu cũng từng bước được củng cố.
Để quá trình đó diễn ra ở quy mô đủ lớn, yếu tố quyết định nằm ở khả năng tạo dựng một môi trường phát triển thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Thể chế cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng khuyến khích đầu tư dài hạn, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, mở rộng không gian thử nghiệm công nghệ mới và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Cùng với đó là yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để bảo đảm nền kinh tế có đủ năng lực tiếp nhận, làm chủ và phát triển các công nghệ chiến lược.
Khi thể chế, doanh nghiệp, công nghệ và nhân lực được kết nối thành một hệ sinh thái thống nhất, tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW mới có thể chuyển hóa thành giá trị tăng trưởng cụ thể. Đây sẽ là nền tảng để Việt Nam hình thành một chu kỳ phát triển mới dựa nhiều hơn vào năng suất, tri thức và năng lực sáng tạo, qua đó tạo thêm dư địa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong dài hạn.
(Còn tiếp)