Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
![]() |
Bốn thập kỷ làm thay đổi vị thế Việt Nam
Ngày 1/7/2026 đánh dấu một cột mốc mới trong hành trình phát triển của Việt Nam khi Ngân hàng Thế giới (WB) chính thức chuyển Việt Nam từ nhóm nền kinh tế thu nhập trung bình thấp lên nhóm thu nhập trung bình cao.
Theo WB, tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người của Việt Nam tính theo phương pháp Atlas đạt 4.970 USD năm 2025, vượt ngưỡng 4.636 USD để gia nhập nhóm thu nhập trung bình cao. Việt Nam là một trong 5 nền kinh tế chuyển từ nhóm thu nhập trung bình thấp lên nhóm thu nhập trung bình cao trong lần cập nhật này.
Ý nghĩa của bước tiến này càng rõ nét khi đặt trong hành trình 40 năm Đổi mới. WB đánh giá Việt Nam là một câu chuyện thành công phát triển đáng chú ý. Từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới khi bắt đầu Đổi mới năm 1986, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế năng động chỉ trong một thế hệ. GDP bình quân đầu người tăng từ dưới 700 USD năm 1986 lên gần 4.500 USD năm 2023. Đến 2025 đạt 5.026 USD.
Một trong những thay đổi rõ nét nhất là thành quả giảm nghèo. Từ chỗ tỷ lệ nghèo ở mức rất cao vào đầu những năm 1990, hàng chục triệu người Việt Nam đã thoát nghèo, tỷ lệ nghèo cùng cực giảm xuống mức rất thấp.
Thành quả tăng trưởng đồng thời được chuyển hóa thành những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng từ 70,5 tuổi năm 1990 lên 74,5 tuổi năm 2023. Nếu năm 1993 mới có 14% hộ gia đình được tiếp cận điện thì đến năm 2019, tỷ lệ này đã gần như bao phủ toàn bộ các hộ gia đình. Việt Nam cũng hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học từ đầu những năm 2000.
Cùng với sự cải thiện đời sống người dân là bước tiến lớn về quy mô và vị thế của nền kinh tế. GDP Việt Nam tăng từ khoảng 346 tỷ USD năm 2020 lên khoảng 514 tỷ USD năm 2025, đưa Việt Nam vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Việt Nam cũng trở thành nền kinh tế có độ mở thương mại lớn, với tỷ lệ thương mại trên GDP gần 170%. Một nền sản xuất hướng xuất khẩu đã hình thành, công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành động lực quan trọng và Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào mạng lưới sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu.
Những thay đổi của Việt Nam trong vài thập kỷ qua được các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Phát biểu tại hội thảo khoa học quốc gia gần đây về đổi mới mô hình phát triển đất nước, bà Francesca Nardini, Phó Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đánh giá, hành trình phát triển của Việt Nam trong ba thập kỷ qua không chỉ thành công, mà còn mang tính hiếm có. Việt Nam vừa duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong thời gian dài, vừa đưa hàng triệu người thoát nghèo trong một khoảng thời gian tương đối ngắn - thành quả mà không nhiều quốc gia đạt được.
Đánh giá gần đây của WB cũng nhận định, kinh tế Việt Nam tiếp tục thể hiện sức chống chịu cao trong môi trường toàn cầu nhiều bất định; tăng trưởng được hỗ trợ bởi xuất khẩu, đầu tư, sức cầu trong nước và một chương trình cải cách sâu rộng, đi cùng cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy lớn nhất kể từ Đổi mới.
Theo bà Mariam J. Sherman, Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào, thách thức quan trọng hiện nay là biến chương trình cải cách đầy tham vọng thành kết quả thực tế, đồng thời giải phóng đầy đủ tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân để tạo nhiều việc làm có chất lượng hơn.
![]() |
| Thành quả tăng trưởng còn được chuyển hóa thành những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống. |
Những đánh giá này cũng cho thấy cột mốc thu nhập trung bình cao đặt Việt Nam trước yêu cầu tìm kiếm những động lực phát triển mới. Cột mốc này đến đúng vào năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, đồng thời là năm Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, tạo nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng 2 con số.
GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, năm 2026 mang ý nghĩa bản lề khi vừa là năm đầu triển khai kế hoạch phát triển 5 năm mới, vừa là năm đầu tiên Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên. GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, mức cao nhất trong 15 năm, với sự phục hồi khá đồng đều của cả 3 khu vực kinh tế. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực, trong khi đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu đều cải thiện; thu ngân sách, vốn FDI và tổng vốn đầu tư toàn xã hội cũng ghi nhận mức tăng khá.
Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, kết quả này không chỉ đến từ sự phục hồi của các động lực tăng trưởng truyền thống, mà còn là bước đầu phản ánh hiệu quả của quá trình cải cách thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn về đầu tư, phát triển kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là những nền tảng quan trọng để hướng tới một chu kỳ tăng trưởng mới dựa nhiều hơn vào năng suất và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Động lực mới cho mục tiêu quốc gia thu nhập cao
Việc gia nhập nhóm thu nhập trung bình cao là một dấu mốc quan trọng, song chưa phải đích đến. Hai mục tiêu chiến lược 100 năm được xác lập tại Đại hội XIII của Đảng là đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Đại hội XIV tiếp tục khẳng định, hai mục tiêu chiến lược này trong bối cảnh và yêu cầu phát triển mới, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường và hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đến năm 2045.
Con đường tới những mục tiêu này đã được lượng hóa khá cụ thể. Theo Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Chính phủ xác định 40 chỉ tiêu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, thể chế, văn hóa, con người, môi trường, quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế đến năm 2030, 2035 và 2045.
Riêng về kinh tế, giai đoạn 2026-2030, GDP được đặt mục tiêu tăng bình quân từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 8.500 USD vào cuối kỳ. Giai đoạn 2031-2035, tăng trưởng bình quân dự kiến đạt 8-8,5%/năm, GDP bình quân đầu người khoảng 13.500 USD. Giai đoạn 2036-2045, tăng trưởng khoảng 7,5%/năm và GDP bình quân đầu người đạt khoảng 28.000 USD vào cuối kỳ.
![]() |
Điểm đáng chú ý là các chỉ tiêu không chỉ đặt trọng tâm vào tốc độ. Tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP được đặt mục tiêu trên 55% trong cả ba giai đoạn. Năng suất lao động tăng bình quân 8,5%/năm giai đoạn 2026-2030, trên 7,5% giai đoạn 2031-2035 và 6,5-7% giai đoạn 2036-2045. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP hướng tới ít nhất 30% vào năm 2030, 30-35% vào năm 2035 và từ 40% vào năm 2045.
Những chỉ tiêu này cho thấy yêu cầu của giai đoạn phát triển mới không đơn thuần là tăng trưởng nhanh hơn, mà còn phải thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng. Mô hình phát triển phải chuyển mạnh từ dựa nhiều vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Chương trình hành động của Chính phủ xác định đến năm 2035 cơ bản hoàn thành quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Trong đó, doanh nghiệp Việt Nam phải lớn mạnh hơn, có năng lực làm chủ công nghệ và giữ vị trí quan trọng hơn trong các ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái phát triển hiện đại.
Đến năm 2045, mục tiêu là hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển mới, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, với nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và khả năng làm chủ các công nghệ chiến lược.
Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, tăng trưởng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và nâng cao năng suất của nền kinh tế. “Không phải tăng trưởng bằng mọi giá, mà là tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, tăng trưởng cao nhưng chất lượng”, ông Cường nhấn mạnh.
![]() |
Theo các chuyên gia, vấn đề của giai đoạn tới không đơn thuần là tìm thêm nguồn vốn, mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng hấp thụ và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Việc mở rộng đầu tư công, thúc đẩy tín dụng và huy động thêm các nguồn lực đầu tư đều là những công cụ quan trọng.
Tuy nhiên, nếu chỉ tập trung mở rộng quy mô nguồn lực mà chưa quan tâm đúng mức tới năng lực hấp thụ vốn và chất lượng phân bổ, hiệu quả của chính sách thúc đẩy tăng trưởng sẽ giảm dần, trong khi áp lực đối với ổn định kinh tế vĩ mô có thể gia tăng.
Từ đó, yêu cầu đặt ra là đánh giá các nguồn lực theo hiệu quả đầu ra. Đầu tư công không chỉ cần giải ngân nhanh mà phải tạo thêm hạ tầng, năng lực sản xuất mới và giảm chi phí cho nền kinh tế. Tín dụng không chỉ được nhìn qua tốc độ tăng dư nợ mà còn ở khả năng dòng vốn đi vào sản xuất, đổi mới công nghệ và các lĩnh vực có năng suất cao.
Với FDI, bên cạnh quy mô vốn thu hút, yếu tố quan trọng hơn là khả năng thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và đưa doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thể chế cũng trở thành một động lực ngày càng quan trọng. Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, khoảng cách giữa quyết sách và năng lực thực thi đang là một trong những thách thức cần tập trung giải quyết.
Bên cạnh đó, chuyên gia kinh tế TS. Cấn Văn Lực cho rằng, cần tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Hiệu quả phối hợp không chỉ phụ thuộc vào lựa chọn đúng công cụ, mà còn ở thời điểm triển khai và liều lượng can thiệp phù hợp với diễn biến của nền kinh tế.
Theo TS. Cấn Văn Lực, cùng với huy động thêm nguồn lực, cần chú trọng phân bổ nguồn lực hiệu quả, tiếp tục triển khai cải cách hệ thống tài chính, khơi thông các nguồn lực còn ách tắc và mở rộng các kênh huy động vốn cho nền kinh tế. Việc hình thành trung tâm tài chính quốc tế cũng được kỳ vọng góp phần đa dạng hóa nguồn vốn và giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Cùng nhìn vào yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển, bà Francesca Nardini cho rằng, Việt Nam đã xác định khá rõ hướng đi khi đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí động lực của tăng trưởng mới. Những bước đi về thể chế, phát triển trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và Nghị quyết số 57-NQ/TW cho thấy định hướng này đang được cụ thể hóa. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là đổi mới sáng tạo không chỉ tập trung ở một số doanh nghiệp lớn mà phải được lan tỏa rộng hơn trong toàn bộ nền kinh tế.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở từng nghị quyết riêng lẻ, mà ở khả năng kết nối các trụ cột này thành một hệ thống chính sách đồng bộ cho mô hình phát triển mới. Theo ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, ưu tiên hàng đầu hiện nay phải là tính đồng bộ, đồng thời và kịp thời trên tất cả các ngành, các lĩnh vực, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, đơn vị liên quan. Cách tiếp cận này hướng tới nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế và khu vực doanh nghiệp trong nước, tạo nền tảng cốt lõi để xây dựng mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, tự chủ, bao trùm và hội nhập.
Năm 2026 mở đầu kỷ nguyên thứ tư trong tiến trình 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp nối các giai đoạn lịch sử trước đó. Nền tảng tích lũy sau 40 năm Đổi mới tạo điều kiện để Việt Nam chuyển sang một giai đoạn phát triển với yêu cầu cao hơn về năng suất, công nghệ, chất lượng thể chế và năng lực của doanh nghiệp trong nước.
Từ nay đến năm 2045, vấn đề đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là chuyển đổi thành công mô hình phát triển. Cơ hội đến từ cải cách thể chế, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và các nguồn lực mới cho đầu tư. Việc chuyển được những dư địa này thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực chất sẽ quyết định khả năng duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn, đồng thời tạo nền tảng để Việt Nam thực hiện mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
* Bài viết đăng lại từ Đặc san Kinh tế - Tài chính Việt Nam năm 2026
Tin tức khác
Tổng mức bán lẻ và tiêu dùng 8 tháng năm 2026 đạt hơn 5,2 triệu tỷ đồng
Chỉ số PMI đạt 53,3 điểm, ngành sản xuất của Việt Nam tiếp tục mạnh lên
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội
Động lực chính đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới
Việt Nam từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường
Giữ trọn lời thề Độc lập vì mục tiêu Tổ quốc hùng cường
Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị
Tổng mức bán lẻ và tiêu dùng 8 tháng năm 2026 đạt hơn 5,2 triệu tỷ đồng
Chỉ số PMI đạt 53,3 điểm, ngành sản xuất của Việt Nam tiếp tục mạnh lên
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội
Động lực chính đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới
Việt Nam từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường
Giữ trọn lời thề Độc lập vì mục tiêu Tổ quốc hùng cường
Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn
Tuyên ngôn Độc lập - ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam
Mô hình phát triển mới: Mở thêm “biên giới tăng trưởng” cho nền kinh tế
TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm: Quy hoạch mới tạo dư địa để Hà Nội nâng tầm vị thế
Thành tựu xuất nhập khẩu - Dấu ấn của nền kinh tế năng động, hội nhập
Đổi mới mô hình phát triển: Bước chuyển chiến lược đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
Thu hút FDI thế hệ mới: Bước chuyển tư duy gắn với mô hình phát triển mới
Đối ngoại Việt Nam - Bản lĩnh tự chủ trong kỷ nguyên phát triển mới
TP. Hồ Chí Minh chọn mô hình nào để phát triển trung tâm outlet?















