Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa
![]() |
| Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa |
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển, khi xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia. Trong định hướng này, phát triển công nghiệp văn hóa được đặt vào vị trí chiến lược nhằm chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực kinh tế, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Với cách tiếp cận mới, thu hút đầu tư cho phát triển văn hóa không còn đơn thuần là bổ sung ngân sách cho các hoạt động văn hóa, mà hướng tới hình thành một hệ sinh thái kinh tế văn hóa, nơi vốn, công nghệ, sáng tạo, nhân lực, dữ liệu, thị trường và năng lực quản trị cùng tham gia tạo giá trị. Bằng cách đó, di sản, bản sắc, tri thức và các giá trị văn hóa có thể được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng thương mại hóa, tạo doanh thu và cạnh tranh trên thị trường.
Việt Nam đang có nền tảng thuận lợi để mở rộng dòng vốn vào lĩnh vực này. Cả nước hiện có hơn 40.000 di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó 38 di sản được UNESCO ghi danh. Đây là nguồn nguyên liệu sáng tạo phong phú cho nhiều ngành như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, trò chơi điện tử, nội dung số, du lịch văn hóa và các lĩnh vực công nghiệp sáng tạo khác.
Song tiềm năng lớn thực tế vẫn chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị kinh tế. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giai đoạn 2018-2025, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam ước đạt 4-5%, trong khi mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 80-NQ/TW là đạt tối thiểu 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045. Khoảng cách này vừa cho thấy dư địa phát triển lớn, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tạo thêm động lực đầu tư, hoàn thiện thể chế và hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đủ sức cạnh tranh.
Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước và tương lai dân tộc. Trong đó, nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là động lực quan trọng, còn thể chế giữ vai trò then chốt. Cùng với đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xem là những xung lực mới để nâng cao năng lực sản xuất, phân phối và tiếp cận thị trường của các sản phẩm văn hóa.
Để hiện thực hóa phát triển văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra nhà nước bảo đảm chi hằng năm cho văn hóa tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và từng bước tăng theo yêu cầu phát triển. Nguồn lực này có ý nghĩa quan trọng trong đầu tư hạ tầng, bảo tồn di sản, phát triển thiết chế văn hóa và tạo nền tảng để thu hút thêm nguồn vốn từ xã hội.
Không chỉ vậy, tiếp tục tạo thêm cơ sở để huy động nguồn lực Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đưa ra chính sách hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa mở ra không gian mới cho doanh nghiệp. Các tổ chức, cá nhân đầu tư vào những khu vực này được hưởng các chính sách ưu đãi về mặt bằng và thuế. Tổ chức, cá nhân đầu tư vào hạ tầng số, phát triển các giải pháp công nghệ cao cho văn hóa và phát triển trọng tâm một số ngành, lĩnh vực công nghiệp văn hóa, bao gồm: du lịch văn hóa; điện ảnh; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật; trò chơi điện tử trên mạng có nội dung giáo dục, tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hóa, lịch sử Việt Nam, được hỗ trợ thuế thu nhập. Các cơ chế hỗ trợ chuyên gia, nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực văn hóa.
Những ưu đãi này khi được triển khai đồng bộ sẽ góp phần giảm chi phí gia nhập thị trường, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn và thúc đẩy hình thành các trung tâm sáng tạo có khả năng tập trung nhân lực, công nghệ và nguồn vốn. Đây là điều kiện quan trọng để chuyển từ những hoạt động văn hóa riêng lẻ sang mô hình sản xuất, kinh doanh sản phẩm văn hóa có quy mô và chuỗi giá trị rõ ràng.
Cơ hội thu hút vốn quốc tế cũng được mở rộng. Chính sách hoàn thuế đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện quay phim có bối cảnh tại Việt Nam tạo thêm sức hấp dẫn đối với các dự án điện ảnh quốc tế. Giá trị của những dự án này không chỉ nằm ở nguồn thu trực tiếp mà còn ở khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa đối với du lịch, dịch vụ, quảng bá hình ảnh đất nước và thúc đẩy các ngành kinh tế liên quan.
Cùng với đó, việc thí điểm mô hình đô thị di sản với cơ chế ưu đãi đặc thù về đất đai, phí và lệ phí đến hết năm 2035 mở ra hướng kết hợp giữa bảo tồn và phát triển. Nếu được quy hoạch hợp lý, đô thị di sản có thể trở thành không gian kết nối di sản với du lịch, dịch vụ sáng tạo, nghệ thuật, thiết kế và kinh doanh các sản phẩm dựa trên bản sắc địa phương. Đây cũng là cách để nguồn tài nguyên văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn tạo sinh kế, việc làm và nguồn thu cho cộng đồng.
Một cơ chế đáng chú ý khác là chủ trương thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật ở Trung ương và một số địa phương hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Đây có thể trở thành kênh vốn mới cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và dự án văn hóa có tiềm năng thị trường.
Trong lĩnh vực hạ tầng, việc ưu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, đồng thời thí điểm các mô hình như bảo tàng mở, nhà hát di động và thư viện số sẽ tạo thêm nền tảng cho chuyển đổi số ngành văn hóa. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, số hóa và kết nối, doanh nghiệp có thể khai thác để phát triển sản phẩm mới, mở rộng khả năng tiếp cận người dùng và đưa nội dung văn hóa Việt Nam đến thị trường quốc tế.
Trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chuyển từ thu hút vốn đơn thuần sang lựa chọn dòng vốn có chất lượng. Các dự án được ưu tiên cần gắn với khai thác và phát triển tài sản trí tuệ văn hóa Việt Nam, đồng thời có cam kết về đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, kết nối dữ liệu và tiến độ thực hiện dự án.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu phát triển dài hạn, bởi Việt Nam không chỉ cần vốn mà còn cần công nghệ, kỹ năng quản trị, nhân lực chất lượng cao và mạng lưới phân phối để đưa sản phẩm văn hóa ra thị trường quốc tế. Nếu thu hút được những nhà đầu tư có năng lực, dòng vốn quốc tế có thể tạo hiệu ứng lan tỏa, nâng cao tiêu chuẩn sản xuất và mở rộng thị trường cho doanh nghiệp trong nước.
Dù vậy, để chính sách thực sự chuyển hóa thành dòng vốn đầu tư, Việt Nam vẫn cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu, nhân lực và khả năng thương mại hóa sản phẩm văn hóa. Thu hút đầu tư phải song hành với bảo vệ bản sắc, bảo đảm quyền lợi của chủ thể văn hóa và tạo ra giá trị bền vững cho cộng đồng.
Nhà nước tiếp tục xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo; doanh nghiệp phải nâng cao năng lực sáng tạo, quản trị và xây dựng thương hiệu; trong khi đội ngũ sáng tạo cần được tạo điều kiện tiếp cận nguồn lực, công nghệ và thị trường. Chỉ khi các chủ thể này cùng tham gia, tài nguyên văn hóa mới có thể hình thành chuỗi giá trị kinh tế bền vững.
Nếu giải quyết tốt những yêu cầu trên, công nghiệp văn hóa có thể tạo ra giá trị kép cho nền kinh tế. Một mặt, ngành công nghiệp này tạo doanh thu, việc làm, thị trường, thu hút đầu tư và mở rộng xuất khẩu. Mặt khác, quá trình phát triển sản phẩm văn hóa góp phần bảo tồn bản sắc dân tộc, quảng bá hình ảnh Việt Nam và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Với nền tảng tài nguyên văn hóa phong phú, chính sách ngày càng hoàn thiện và dư địa lớn của kinh tế sáng tạo, Việt Nam đang đứng trước cơ hội hình thành một thị trường đầu tư văn hóa năng động. Vì vậy, thu hút đầu tư phát triển văn hóa không chỉ là giải pháp huy động thêm nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa, mà còn là chiến lược mở rộng không gian tăng trưởng, biến tài nguyên văn hóa thành giá trị kinh tế và đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực mới cho phát triển nhanh, bền vững.
Tin tức khác
Xuất khẩu Hà Nội 8 tháng tăng 8%, nhập khẩu tăng mạnh phục vụ sản xuất
“Đánh thức” kinh tế Cà Mau bằng số vốn đầu tư trên 439.000 tỷ đồng
Kiến tạo thương hiệu quốc gia từ sức mạnh kinh tế tư nhân
Gỡ điểm nghẽn đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư
Toyota Việt Nam mở rộng đầu tư dự án hiện đại hóa nhà máy sản xuất ô tô tại Phú Thọ
Hạ tầng năng lượng mở rộng không gian phát triển kinh tế biển
Hà Nội: Bán lẻ 8 tháng tăng 14,9%, sức mua tiếp tục là động lực tăng trưởng
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Luật Đấu thầu thuận lợi hóa quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Điều chỉnh cơ chế vốn cho các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc
Thủ tướng yêu cầu gỡ vướng, đẩy nhanh tiến độ các cao tốc phía Bắc
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9
Từ chính sách giảm thuế đến động lực tăng trưởng bền vững
Bộ Tài chính triển khai Phần mềm theo dõi, xử lý nhà, đất dôi dư trên toàn quốc
Không để chậm ban hành văn bản hướng dẫn luật, nghị quyết mới
Giảm thuế tiếp sức cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Đảng bộ Bộ Tài chính ghi dấu ấn tại Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc năm 2026
Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa
Khoa học, công nghệ và dữ liệu: Nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Xuất khẩu Hà Nội 8 tháng tăng 8%, nhập khẩu tăng mạnh phục vụ sản xuất
“Đánh thức” kinh tế Cà Mau bằng số vốn đầu tư trên 439.000 tỷ đồng
Kiến tạo thương hiệu quốc gia từ sức mạnh kinh tế tư nhân
Gỡ điểm nghẽn đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư
Toyota Việt Nam mở rộng đầu tư dự án hiện đại hóa nhà máy sản xuất ô tô tại Phú Thọ
Hạ tầng năng lượng mở rộng không gian phát triển kinh tế biển













