Khoa học, công nghệ và dữ liệu: Nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
![]() |
| Khoa học, công nghệ và dữ liệu: Nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. |
Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đang đặt ra yêu cầu thay đổi căn bản cách tiếp cận đối với biển. Một quốc gia biển mạnh không chỉ được đánh giá bằng số lượng cảng biển, tàu thuyền hay quy mô kinh tế biển, mà quan trọng hơn là năng lực hiểu, dự báo, quản trị và làm chủ các nguồn lực biển bằng tri thức, dữ liệu và công nghệ hiện đại.
Trong tiến trình đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà phải trở thành nền tảng của năng lực quốc gia về biển. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả điều tra, nghiên cứu, giám sát, dự báo và khai thác tài nguyên; đồng thời tạo năng lực quản trị tổng hợp không gian biển, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế Việt Nam trong quản trị biển, đại dương khu vực và quốc tế.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã mở ra yêu cầu chiến lược mới đối với ngành khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việt Nam không chỉ cần nghiên cứu về biển, khai thác biển mà phải từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Từ yêu cầu đó, không gian biển cần được nhìn nhận như một không gian phát triển dựa trên tri thức và công nghệ. Kinh tế biển trong giai đoạn mới không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên hoặc mở rộng quy mô, mà phải chuyển sang mô hình xanh, hiện đại, số và bền vững. Điều này đòi hỏi năng lực dự báo tốt hơn, quản trị chính xác hơn và khả năng ứng dụng, làm chủ công nghệ cao ngày càng sâu rộng.
Khánh Hòa là một địa phương có những điều kiện đặc biệt để đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Với gần 490 km bờ biển, hơn 200 hòn đảo, các vịnh nước sâu Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, đặc khu Trường Sa cùng hệ thống cơ sở nghiên cứu, đào tạo chuyên sâu, địa phương có nền tảng thuận lợi để phát triển hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về biển.
Lợi thế tự nhiên của Khánh Hòa vì vậy cần được chuyển hóa thành lợi thế về tri thức và công nghệ. Thay vì chỉ khai thác những lợi thế sẵn có của vùng ven biển, địa phương đang hướng tới cách tiếp cận rộng hơn: chuyển từ khai thác biển đơn thuần sang quản trị đại dương hiện đại, từ phát triển kinh tế ven biển theo từng ngành sang xây dựng năng lực biển dựa trên nghiên cứu, dữ liệu và công nghệ.
| Trong giai đoạn mới, khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng của quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, số và bền vững; đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quản trị biển, đại dương khu vực và quốc tế. |
Khánh Hòa xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là ba trụ cột động lực để chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Đáng chú ý, tỉnh Khánh Hòa cũng đề xuất Trung ương quan tâm đầu tư các hạ tầng nghiên cứu dùng chung cấp quốc gia như: Tàu nghiên cứu biển sâu, phòng thí nghiệm trọng điểm và mạng lưới trạm quan trắc thông minh, tích hợp; xem xét đưa Trung tâm Nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương tại Khánh Hòa vào quy hoạch hệ thống các trung tâm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ chiến lược...
Nếu được triển khai đồng bộ, những hạ tầng này không chỉ phục vụ riêng Khánh Hòa mà còn có thể trở thành nền tảng nghiên cứu dùng chung cho nhiều địa phương ven biển, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Đây là hướng đi phù hợp với đặc thù của nghiên cứu biển, lĩnh vực đòi hỏi thiết bị hiện đại, dữ liệu quy mô lớn và sự phối hợp liên ngành, liên vùng.
Khánh Hòa cũng cam kết dành nguồn lực ưu tiên, chuẩn bị mặt bằng, thể chế, hạ tầng và phối hợp chặt chẽ với các viện, trường trên địa bàn để tiếp nhận, triển khai hiệu quả các dự án nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Sự chủ động của địa phương là điều kiện quan trọng để các chủ trương ở tầm quốc gia được chuyển hóa thành năng lực nghiên cứu, sản phẩm công nghệ và mô hình phát triển cụ thể.
Ở tầm quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết thời gian tới sẽ tham mưu Chính phủ xây dựng kế hoạch triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW, tập trung lựa chọn các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số biển trọng điểm giai đoạn 2026-2030.
Trọng tâm đầu tiên là hình thành năng lực nghiên cứu biển mạnh, có trọng tâm và khả năng dẫn dắt. Mục tiêu hình thành từ 2-3 tổ chức nghiên cứu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN cần được xem là chỉ tiêu về năng lực quốc gia, thay vì chỉ đánh giá bằng số lượng tổ chức được thành lập.
Cùng với năng lực nghiên cứu, dữ liệu biển phải được xác định là một loại hạ tầng chiến lược. Quản trị biển hiện đại trước hết phải dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học. Việt Nam cần xây dựng hệ thống dữ liệu biển thống nhất, liên thông, cập nhật và an toàn, kết nối dữ liệu điều tra cơ bản, quan trắc, môi trường, tài nguyên, hạ tầng và các hoạt động kinh tế - xã hội trên biển.
Việc phát triển bản đồ số biển và đại dương, các công cụ mô hình hóa, dự báo và trí tuệ nhân tạo sẽ mở rộng đáng kể năng lực giám sát, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định. Tuy nhiên, đây không đơn thuần là câu chuyện xây dựng một hệ thống công nghệ. Chuẩn hóa dữ liệu, tích hợp, chia sẻ, phân quyền khai thác và bảo đảm an ninh, an toàn, chủ quyền dữ liệu mới là những yếu tố quyết định hiệu quả quản trị.
Dữ liệu càng đầy đủ, chính xác và được chia sẻ có kiểm soát, khả năng dự báo và quản trị biển càng cao. Ngược lại, dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa sẽ tạo ra những khoảng trống trong hoạch định chính sách và làm hạn chế khả năng phát triển các công nghệ biển thế hệ mới. Vì vậy, xây dựng hạ tầng dữ liệu biển phải được xem là một nhiệm vụ chiến lược, có tính nền tảng tương tự các loại hạ tầng thiết yếu khác.
Một yêu cầu mang tính đột phá là chuyển mạnh từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang “làm chủ công nghệ”. Việt Nam cần xác định rõ những công nghệ biển, đại dương và công nghệ lưỡng dụng có ý nghĩa chiến lược để tập trung nguồn lực nghiên cứu, tiếp nhận, hấp thụ, làm chủ, chuyển giao và từng bước phát triển trong nước.
Các lĩnh vực cần ưu tiên gồm công nghệ quan trắc, giám sát và dự báo biển; khảo sát đáy biển và biển sâu; thiết bị ngầm, robot biển, phương tiện không người lái; công nghệ công trình biển và năng lượng ngoài khơi; công nghệ môi trường biển; nuôi biển công nghiệp; công nghệ sinh học biển và các công nghệ lưỡng dụng phục vụ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng và an ninh.
Điểm quan trọng là phải chuyển mục tiêu công nghệ thành những kết quả có thể đo đếm được. Thay vì chỉ đặt câu hỏi có bao nhiêu đề tài, dự án hay công trình nghiên cứu, cần xác định Việt Nam đã làm chủ công nghệ nào, tạo ra sản phẩm gì, hình thành năng lực quốc gia nào và những năng lực đó đóng góp thế nào cho phát triển kinh tế biển cũng như bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển.
Để khoa học và công nghệ thực sự tạo ra giá trị, doanh nghiệp và địa phương cần được đặt vào vị trí trung tâm hơn trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển. Một kết quả nghiên cứu chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình quản trị và giá trị kinh tế - xã hội.
Do đó, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định bài toán, đặt hàng, đồng tài trợ, thử nghiệm, kiểm chứng đến thương mại hóa. Nhà nước cần tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực có độ rủi ro cao nhưng có ý nghĩa chiến lược. Các địa phương ven biển cũng cần chủ động hơn trong xác định nhu cầu, tổ chức thử nghiệm và hình thành thị trường cho sản phẩm, công nghệ biển.
Đồng thời, cách tổ chức các nhiệm vụ khoa học, công nghệ biển cũng cần được đổi mới. Biển là một không gian liên thông nên nghiên cứu biển không thể bị chia cắt quá sâu theo ngành, lĩnh vực hoặc địa giới hành chính. Thay vào đó, cần chuyển mạnh sang các bài toán lớn, liên ngành, liên vùng, có sản phẩm đầu ra rõ ràng và gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn.
Cách làm này cho phép kết nối nghiên cứu cơ bản với điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đào tạo nhân lực, nhu cầu doanh nghiệp và yêu cầu quản trị quốc gia. Qua đó, nguồn lực khoa học không bị phân tán vào những nhiệm vụ đơn lẻ mà được tập trung cho những bài toán có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển biển.
Về lâu dài, xây dựng quốc gia biển mạnh chính là quá trình chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành năng lực quốc gia dựa trên tri thức và công nghệ. Trong quá trình đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành nền tảng để Việt Nam không chỉ hiểu biển, khai thác biển mà còn quản trị và từng bước làm chủ biển. Khi tri thức, dữ liệu và công nghệ được đặt vào trung tâm, Việt Nam sẽ có cơ sở vững chắc để phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, số và bền vững, qua đó hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh.
Tin tức khác
“Đánh thức” kinh tế Cà Mau bằng số vốn đầu tư trên 439.000 tỷ đồng
Kiến tạo thương hiệu quốc gia từ sức mạnh kinh tế tư nhân
Gỡ điểm nghẽn đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư
Toyota Việt Nam mở rộng đầu tư dự án hiện đại hóa nhà máy sản xuất ô tô tại Phú Thọ
Hạ tầng năng lượng mở rộng không gian phát triển kinh tế biển
Hà Nội: Bán lẻ 8 tháng tăng 14,9%, sức mua tiếp tục là động lực tăng trưởng
Coalimex đàm phán cung cấp than nhập khẩu cho Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Luật Đấu thầu thuận lợi hóa quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Điều chỉnh cơ chế vốn cho các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc
Thủ tướng yêu cầu gỡ vướng, đẩy nhanh tiến độ các cao tốc phía Bắc
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9
Từ chính sách giảm thuế đến động lực tăng trưởng bền vững
Bộ Tài chính triển khai Phần mềm theo dõi, xử lý nhà, đất dôi dư trên toàn quốc
Không để chậm ban hành văn bản hướng dẫn luật, nghị quyết mới
Giảm thuế tiếp sức cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Đảng bộ Bộ Tài chính ghi dấu ấn tại Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc năm 2026
Khoa học, công nghệ và dữ liệu: Nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Xuất khẩu Hà Nội 8 tháng tăng 8%, nhập khẩu tăng mạnh phục vụ sản xuất
“Đánh thức” kinh tế Cà Mau bằng số vốn đầu tư trên 439.000 tỷ đồng
Kiến tạo thương hiệu quốc gia từ sức mạnh kinh tế tư nhân
Gỡ điểm nghẽn đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư
Toyota Việt Nam mở rộng đầu tư dự án hiện đại hóa nhà máy sản xuất ô tô tại Phú Thọ
Hạ tầng năng lượng mở rộng không gian phát triển kinh tế biển
Hà Nội: Bán lẻ 8 tháng tăng 14,9%, sức mua tiếp tục là động lực tăng trưởng













