Đổi mới mô hình phát triển: Bước chuyển chiến lược đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
![]() |
| Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định mô hình phát triển mới “Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”. Ảnh: Lê Tiên |
Yêu cầu chiến lược của giai đoạn mới
Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây là những mục tiêu đòi hỏi không chỉ tốc độ tăng trưởng cao mà trước hết phải có một phương thức phát triển phù hợp với tình hình mới của nền kinh tế và những thay đổi sâu sắc của môi trường quốc tế.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, trở thành nước có thu nhập trung bình cao, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng lên. Nhưng chặng đường phát triển mới cũng đặt ra những giới hạn mà mô hình tăng trưởng trước đây không thể giải quyết chỉ bằng việc tiếp tục mở rộng đầu vào.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã đặt vấn đề ở tầm rộng hơn đổi mới mô hình tăng trưởng. Trọng tâm không chỉ là thay đổi một số động lực kinh tế, mà là đổi mới phương thức tổ chức và vận hành quá trình phát triển đất nước, xây dựng và hoàn thiện một hệ sinh thái phát triển đồng bộ.
Nghị quyết xác định mô hình phát triển mới “Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập” gồm các thành tố có quan hệ chặt chẽ: kinh tế; xã hội; văn hóa, con người; môi trường sinh thái; quốc phòng - an ninh; đối ngoại và hội nhập quốc tế; quản trị quốc gia.
Cách tiếp cận này cho thấy một thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển. Tăng trưởng kinh tế không thể tách rời chất lượng xã hội, văn hóa, con người, môi trường, quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Các lĩnh vực phải được đặt trong cùng một chỉnh thể, cùng tạo ra năng lực phát triển quốc gia.
Ông Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam cho rằng, 40 năm trước, đổi mới bắt đầu trước hết từ đổi mới tư duy. Sau 40 năm, khi đất nước đứng trước một ngưỡng phát triển mới, tinh thần đó càng cần được phát huy mạnh mẽ hơn, không chỉ tháo gỡ giới hạn của mô hình cũ mà chủ động kiến tạo mô hình mới; không chỉ khai thác lợi thế sẵn có mà tạo ra lợi thế mới; không chỉ huy động nguồn lực mà khơi dậy trí tuệ, sức sáng tạo và khát vọng vươn lên của con người Việt Nam.
Đây chính là bước chuyển giữa chặng đường đổi mới đã qua và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Nếu đổi mới trước đây mở đường cho việc giải phóng lực lượng sản xuất, huy động nguồn lực xã hội và hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì đổi mới hiện nay đòi hỏi nâng cao chất lượng của chính năng lực phát triển.
Kiến tạo động lực mới cho tăng trưởng
Điểm cốt lõi của mô hình phát triển mới là thay đổi nền tảng tạo tăng trưởng. Nghị quyết số 19-NQ/TW yêu cầu chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang mô hình dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao. Đây không chỉ là sự thay đổi về cơ cấu ngành mà là thay đổi cách nền kinh tế tạo ra giá trị.
Trong giai đoạn trước, lợi thế về lao động, tài nguyên, vị trí địa kinh tế và khả năng thu hút vốn đầu tư đã đóng vai trò quan trọng. Nhưng khi chi phí lao động tăng, nguồn lực tài nguyên có giới hạn và cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa nhiều vào công nghệ, tiêu chuẩn, dữ liệu và năng suất, những lợi thế này không thể tiếp tục là nền tảng duy nhất.
Mô hình mới vì vậy phải dựa nhiều hơn vào năng lực nội sinh. Năng suất lao động trở thành một thước đo quan trọng của hiệu quả phát triển; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải thực sự trở thành lực lượng sản xuất; doanh nghiệp phải có năng lực làm chủ và hấp thụ công nghệ; nghiên cứu phải gắn chặt hơn với thị trường và sản xuất.
Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh những động lực mới như kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ giá trị gia tăng cao, nông nghiệp thông minh và các không gian phát triển mới.
Dữ liệu được xác định là tư liệu sản xuất mới và tài nguyên chiến lược. Trí tuệ nhân tạo được định hướng trở thành hạ tầng trí tuệ và lực lượng sản xuất chất lượng cao. Cùng với đó là yêu cầu phát triển hạ tầng tính toán quốc gia, trung tâm dữ liệu quy mô lớn, hạ tầng số và các trung tâm xuất sắc về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, điện toán lượng tử.
Điểm đáng chú ý ở đây là công nghệ không được nhìn nhận đơn thuần như một lĩnh vực cần đầu tư, mà trở thành một trong những yếu tố cấu thành mô hình phát triển. Khi dữ liệu, tri thức và công nghệ ngày càng quyết định năng suất, năng lực cạnh tranh của quốc gia sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng tạo ra, tiếp nhận, làm chủ và thương mại hóa tri thức.
Cùng với động lực mới là những không gian phát triển mới. Nghị quyết đặt yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển theo hướng tích hợp, đa tầng, liên thông; khai thác hiệu quả không gian biển, không gian ngầm, không gian số và những không gian phát triển mới. Các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng, trung tâm tài chính, logistics, kinh tế biển và các vùng động lực được đặt trong mối liên kết chặt chẽ hơn.
GS.TS. Tạ Ngọc Tấn, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nhìn nhận điểm nổi bật xuyên suốt 40 năm đổi mới là sự thống nhất giữa “kiên định và sáng tạo”. Việt Nam kiên định về nền tảng tư tưởng, mục tiêu và lý tưởng, đồng thời không ngừng tìm tòi mô hình, bước đi và phương thức phát triển phù hợp với thực tiễn.
Theo ông, sự hình thành và hoàn thiện nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những bước phát triển lý luận quan trọng của tiến trình đổi mới. Từ chỗ từng bước thừa nhận vai trò của thị trường trong phân bổ nguồn lực, sự tồn tại lâu dài của nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế, tư duy về phát triển tiếp tục được mở rộng sang các lĩnh vực xã hội, văn hóa, con người, quốc phòng - an ninh và đối ngoại.
GS.TS. Tạ Ngọc Tấn nhấn mạnh: “Kiên định không đồng nghĩa với bất biến, sáng tạo không đồng nghĩa với xa rời nguyên tắc”. Trong giai đoạn mới, khi kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, biến đổi khí hậu và cạnh tranh chiến lược đặt ra những vấn đề chưa từng có, yêu cầu sáng tạo trong phát triển càng trở nên cấp thiết.
Đổi mới thể chế, quản trị, huy động nguồn lực phát triển
Một mô hình phát triển mới không thể vận hành hiệu quả nếu vẫn dựa trên phương thức quản trị cũ. Vì vậy, Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định đổi mới mô hình phát triển trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo ra năng lực phát triển mới.
Tinh thần xuyên suốt là chuyển từ quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; từ tiền kiểm nặng về thủ tục sang hậu kiểm thông minh; từ quản lý theo đầu vào sang quản trị theo mục tiêu, kết quả đầu ra và tác động phát triển. Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện pháp luật theo hướng rõ ràng, minh bạch, đồng bộ, ổn định nhưng linh hoạt; bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; từng bước chấm dứt tư duy “không quản được thì cấm”.
| Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. |
Trong quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội, Nhà nước tập trung xây dựng thể chế, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn và quản lý kết quả đầu ra; thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực; xã hội tham gia, giám sát, phản biện và tạo đồng thuận.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, đổi mới mô hình tăng trưởng hay mô hình phát triển thì điều quan trọng trước hết là phải đổi mới môi trường quản trị quốc gia. Theo ông, không thể có mô hình tăng trưởng mới trên nền tảng một hệ thống quản trị cũ.
Một trong những vấn đề ông lưu ý là quản trị thời gian của bộ máy lãnh đạo. Thời gian là nguồn lực khan hiếm, do đó lãnh đạo cấp cao cần tập trung vào những quyết định mang tính chiến lược, thay vì phải xử lý những vấn đề có thể được giải quyết ở cấp thấp hơn.
Từ đó, yêu cầu phân cấp, phân quyền trở thành một cấu phần quan trọng của quản trị phát triển. Nguyên tắc cấp nào có nhiều thông tin nhất thì cấp đó giải quyết vấn đề phải đi cùng với phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và nguồn lực. Khi địa phương được trao quyền thực chất và chịu trách nhiệm về kết quả, cấp Trung ương có điều kiện tập trung nhiều hơn vào hoạch định chiến lược và điều phối các vấn đề quốc gia.
Quản trị phát triển đồng thời phải vượt qua tư duy quản lý theo ngành và địa giới hành chính. Những vấn đề liên ngành, liên vùng đòi hỏi cơ chế phối hợp hiệu quả, dữ liệu dùng chung và trách nhiệm rõ ràng. Đây là cơ sở để chuyển từ phát triển theo địa giới sang phát triển theo chức năng, tiềm năng, lợi thế và liên kết vùng, liên kết ngành.
Một yêu cầu khác có ý nghĩa quyết định đối với mô hình mới là chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Đổi mới sáng tạo không thể diễn ra trong môi trường mà mọi rủi ro đều bị đồng nhất với sai phạm. Nghị quyết đặt yêu cầu hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cho phép thí điểm các mô hình kinh doanh, cơ chế quản trị và chính sách mới; đồng thời có cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Đây không phải là nới lỏng kỷ luật quản lý, mà là thay đổi cách thức quản trị rủi ro, cho phép thử nghiệm trong phạm vi được xác định, có tiêu chí, giám sát và đánh giá, từ đó hoàn thiện thể chế trên cơ sở thực tiễn.
Mô hình phát triển mới không chỉ hướng tới một nền kinh tế có năng suất cao hơn mà còn hướng tới một xã hội có chất lượng phát triển cao hơn. Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định con người là chủ thể trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển; đồng thời đặt văn hóa ở vị trí nền tảng tinh thần, nguồn lực và động lực nội sinh, sức mạnh mềm của quốc gia.
Điều này có quan hệ trực tiếp với yêu cầu chuyển đổi mô hình kinh tế. Khi tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chính, chất lượng nguồn nhân lực không còn là một yếu tố bổ trợ mà trở thành điều kiện quyết định năng lực cạnh tranh.
Yêu cầu đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực cũng được nhấn mạnh. Nghị quyết đặt trọng tâm vào hiệu quả và tác động phát triển, chuyển từ tư duy phân bổ sang kiến tạo nguồn lực. Đầu tư công phải phát huy vai trò dẫn dắt, kích hoạt đầu tư xã hội; nguồn lực đất đai, tài chính, khoa học - công nghệ, dữ liệu và lao động phải được phân bổ tới những khu vực tạo năng suất, giá trị gia tăng và sức lan tỏa cao.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao được đặt ra. Muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, không thể chỉ dựa vào việc tăng quy mô vốn đầu tư. Vấn đề quan trọng hơn là nâng hiệu quả sử dụng từng đơn vị nguồn lực, giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian đưa nguồn lực vào sản xuất và tăng khả năng lan tỏa của đầu tư.
Nghị quyết cũng đặt yêu cầu quản trị theo kết quả, trong đó nhiệm vụ phải rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ thời gian và rõ sản phẩm đầu ra. Đây là khâu có ý nghĩa quyết định, bởi một mô hình phát triển dù được thiết kế đúng nhưng nếu năng lực thực thi yếu thì khó tạo ra kết quả tương xứng.
Có thể thấy, từ mục tiêu lớn mà Đại hội XIV của Đảng xác định, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đặt ra hướng tiếp cận rộng hơn, không chỉ làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn mà phải làm cho năng lực phát triển của quốc gia mạnh hơn.
Đó là năng lực tạo ra công nghệ và giá trị mới; năng lực huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả; năng lực chống chịu của nền kinh tế; năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và cạnh tranh chiến lược; năng lực hội nhập nhưng vẫn giữ vững tự chủ và trên hết là năng lực của con người Việt Nam trong làm chủ những động lực phát triển mới.
Nếu đổi mới 40 năm qua là quá trình chuyển đổi để giải phóng lực lượng sản xuất và nguồn lực xã hội, thì đổi mới mô hình phát triển trong giai đoạn hiện nay là quá trình nâng cấp phương thức tạo ra và sử dụng năng lực phát triển. Điểm nhấn của mô hình mới nằm ở sự thay đổi đồng bộ từ động lực tăng trưởng, thể chế, quản trị, phân bổ nguồn lực đến chất lượng con người và phương thức tổ chức không gian phát triển.
Đây là bước chuyển chiến lược để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với một yêu cầu cao hơn, tăng trưởng không chỉ nhanh mà phải dựa trên năng suất và năng lực nội sinh; phát triển không chỉ về kinh tế mà phải hài hòa giữa kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, môi trường, quốc phòng - an ninh và đối ngoại; quản lý không chỉ để kiểm soát mà phải tạo điều kiện cho sáng tạo và phát triển.
Đó cũng là cơ sở quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra, đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, tiến tới nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời tạo nền tảng cho tầm nhìn phát triển dài hạn của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tin tức khác
Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
Thu hút FDI thế hệ mới: Bước chuyển tư duy gắn với mô hình phát triển mới
Đối ngoại Việt Nam - Bản lĩnh tự chủ trong kỷ nguyên phát triển mới
TP. Hồ Chí Minh chọn mô hình nào để phát triển trung tâm outlet?
Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa
Khoa học, công nghệ và dữ liệu: Nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Xuất khẩu Hà Nội 8 tháng tăng 8%, nhập khẩu tăng mạnh phục vụ sản xuất
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Việt Nam từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường
Giữ trọn lời thề Độc lập vì mục tiêu Tổ quốc hùng cường
Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn
Tuyên ngôn Độc lập - ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam
Đổi mới mô hình phát triển: Bước chuyển chiến lược đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
Đối ngoại Việt Nam - Bản lĩnh tự chủ trong kỷ nguyên phát triển mới
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Luật Đấu thầu thuận lợi hóa quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Điều chỉnh cơ chế vốn cho các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc
Thành tựu xuất nhập khẩu - Dấu ấn của nền kinh tế năng động, hội nhập
Đổi mới mô hình phát triển: Bước chuyển chiến lược đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
Thu hút FDI thế hệ mới: Bước chuyển tư duy gắn với mô hình phát triển mới
Đối ngoại Việt Nam - Bản lĩnh tự chủ trong kỷ nguyên phát triển mới
TP. Hồ Chí Minh chọn mô hình nào để phát triển trung tâm outlet?
Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa
Khoa học, công nghệ và dữ liệu: Nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh













