Mở cơ chế trao đổi quốc tế tín chỉ carbon, thúc đẩy phát triển kinh tế carbon thấp
![]() |
| Việc hình thành cơ chế trao đổi quốc tế tín chỉ carbon sẽ thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính trong nước. |
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP ngày 1/4/2026 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Nghị định quy định cụ thể các nguyên tắc, cơ chế và điều kiện để Việt Nam tham gia thị trường carbon toàn cầu, qua đó góp phần thực hiện các cam kết trong Thỏa thuận Paris và mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính quốc gia.
Một trong những nguyên tắc cốt lõi được Nghị định đặt ra là việc trao đổi quốc tế phải tuân thủ các quy định của Thỏa thuận Paris, đồng thời ưu tiên thực hiện các mục tiêu giảm phát thải trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam. Hoạt động này cũng phải bảo đảm lợi ích quốc gia, hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia và đóng góp cho sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương.
Đáng chú ý, toàn bộ hoạt động trao đổi, chuyển giao kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế phải được ghi nhận, công bố trên hệ thống đăng ký quốc gia. Quy định này nhằm bảo đảm tính minh bạch, tránh trùng lặp và phục vụ công tác theo dõi, kiểm kê phát thải.
Nghị định cũng quy định rõ cơ chế chấp thuận chuyển giao quốc tế. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan có thẩm quyền cấp văn bản chấp thuận sau khi kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon đã được cấp hợp lệ. Các kết quả đã bị thu hồi hoặc hết hiệu lực sẽ không được phép chuyển giao ra quốc tế.
Một điểm quan trọng khác là việc áp dụng cơ chế “điều chỉnh tương ứng” đối với lượng phát thải được chuyển giao quốc tế. Điều này có nghĩa là phần kết quả giảm phát thải đã chuyển giao sẽ không được tính vào mục tiêu giảm phát thải quốc gia của Việt Nam, mà được tính cho bên nhận, bảo đảm phù hợp với quy định quốc tế và tránh tính trùng.
Về tỷ lệ chuyển giao, Nghị định thiết kế theo hướng linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm an ninh mục tiêu giảm phát thải quốc gia. Cụ thể, đối với các dự án áp dụng công nghệ mới, chi phí cao, tỷ lệ chuyển giao tối đa có thể lên tới 90%. Trong khi đó, các dự án đã triển khai phổ biến chỉ được chuyển giao tối đa 50%. Trường hợp không áp dụng điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90% đối với tất cả các dự án.
Quy định này nhằm vừa khuyến khích thu hút đầu tư, công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực giảm phát thải, vừa bảo đảm duy trì đủ nguồn kết quả giảm phát thải để thực hiện các cam kết quốc gia. Phần kết quả còn lại sau khi chuyển giao quốc tế có thể được sử dụng cho thị trường carbon trong nước.
Việc ban hành Nghị định được kỳ vọng sẽ mở ra “cánh cửa” cho Việt Nam tham gia sâu rộng vào thị trường carbon toàn cầu, huy động hiệu quả nguồn lực quốc tế về tài chính và công nghệ, qua đó thúc đẩy chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, về tác động đối với công tác bảo vệ môi trường, Nghị định 112/2026/NĐ-CP được kỳ vọng tạo ra nhiều chuyển biến tích cực cả về ngắn hạn và dài hạn. Theo đó, việc hình thành cơ chế trao đổi quốc tế tín chỉ carbon sẽ thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính trong nước. Khi các kết quả giảm phát thải có thể “chuyển hóa” thành giá trị kinh tế thông qua thị trường carbon, doanh nghiệp và địa phương sẽ có thêm động lực đầu tư vào công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và phát triển sản xuất ít phát thải.
Cũng có nhiều kỳ vọng Nghị định góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường thông qua yêu cầu minh bạch hóa, đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả giảm phát thải. Điều này giúp hệ thống kiểm kê khí nhà kính của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, tạo nền tảng dữ liệu tin cậy phục vụ hoạch định chính sách môi trường.
Có thể nói, cơ chế “điều chỉnh tương ứng” và kiểm soát chặt chẽ việc chuyển giao giúp bảo đảm Việt Nam không đánh đổi mục tiêu môi trường dài hạn để lấy lợi ích ngắn hạn. Việc giữ lại một phần kết quả giảm phát thải cho mục tiêu quốc gia góp phần duy trì lộ trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0”.
Tin tức khác
Kịp thời xuất cấp hàng dự trữ quốc gia, đảm bảo an sinh xã hội
Hiện thực hóa khát vọng không để ai bỏ lại phía sau
Du lịch Hà Nội 8 tháng tăng 11,7%, chuyển đổi số tạo lợi thế cạnh tranh
Niềm vui của học sinh vùng biên giới được nhận gạo dự trữ trước thềm năm học mới
Quản lý từng nhiệm vụ xuất cấp gạo dự trữ quốc gia theo mã định danh
Dự kiến danh mục 25 mặt hàng dự trữ quốc gia lĩnh vực y tế
Đa dạng trải nghiệm, tăng sức hút cho du lịch nghỉ dưỡng
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội
Động lực chính đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới
Việt Nam từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường
Giữ trọn lời thề Độc lập vì mục tiêu Tổ quốc hùng cường
Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn
Tuyên ngôn Độc lập - ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam
Đổi mới mô hình phát triển: Bước chuyển chiến lược đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
Đối ngoại Việt Nam - Bản lĩnh tự chủ trong kỷ nguyên phát triển mới
TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm: Quy hoạch mới tạo dư địa để Hà Nội nâng tầm vị thế
Thành tựu xuất nhập khẩu - Dấu ấn của nền kinh tế năng động, hội nhập
Đổi mới mô hình phát triển: Bước chuyển chiến lược đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
Thu hút FDI thế hệ mới: Bước chuyển tư duy gắn với mô hình phát triển mới
Đối ngoại Việt Nam - Bản lĩnh tự chủ trong kỷ nguyên phát triển mới
TP. Hồ Chí Minh chọn mô hình nào để phát triển trung tâm outlet?
Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa












