aa

Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới

16:50 | 14/07/2026
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ là khu vực có vị trí đặc biệt trong cấu trúc kinh tế Việt Nam: đông về số lượng, rộng về địa bàn, quan trọng về sinh kế và không thể thay thế trong việc nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách ở cấp cơ sở. Song đây cũng là nhóm chủ thể có năng lực tài chính hạn chế, trình độ quản trị không đồng đều, khả năng tiếp cận kế toán, công nghệ và tư vấn pháp lý còn nhiều khó khăn.Giai đoạn 2025-2026 ghi nhận chuyển động chính sách đáng chú ý: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15, Nghị quyết số 198/2025/QH15, Luật số 09/2026/QH16, các nghị quyết về giảm thuế giá trị gia tăng, gia hạn thuế, tiền thuê đất và Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 đã tạo nên một cấu trúc hỗ trợ đa tầng, kết hợp giữa giảm gánh nặng tài chính và cải cách phương thức quản trị thuế. Bài viết phân tích 7 nhóm giải pháp chủ yếu, đánh giá tác động tổng hợp và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi, theo hướng thuế không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là công cụ phát triển và chính thức hóa khu vực kinh tế tư nhân.

Nguyễn Thị Thu Hà

Cục Thuế (Bộ Tài chính)

Email: ntthanv6@gdt.gov.vn

PGS.TS.Phan Hữu Nghị

GVCC Đại học Kinh tế quốc dân

Email: nghiph@neu.edu.vn

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nền kinh tế Việt Nam, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ không chỉ là khu vực đông về số lượng mà còn là nền tảng sinh kế của hàng triệu người dân. Sự linh hoạt, khả năng thích ứng nhanh và phạm vi hoạt động rộng khiến khu vực này trở thành nhân tố không thể thiếu trong cấu trúc kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, quy mô nhỏ, vốn mỏng, thiếu bộ máy kế toán và hạn chế tiếp cận tư vấn pháp lý khiến nhiều chủ thể trong nhóm này gặp khó khăn thực sự khi đối mặt với hệ thống nghĩa vụ thuế phức tạp.

Chính sách thuế đối với khu vực này vì vậy không thể chỉ được nhìn nhận thuần túy dưới góc độ thu ngân sách. Nếu thiết kế chính sách quá nặng về thu, chi phí tuân thủ cao, thủ tục phức tạp, thanh tra kiểm tra chồng chéo, thì khu vực kinh doanh nhỏ có thể ngại chính thức hóa, ngại mở rộng quy mô và chọn ở lại vùng phi chính thức như một chiến lược tồn tại. Ngược lại, nếu chính sách thuế được thiết kế hợp lý - phân tầng theo quy mô, hỗ trợ công cụ, hóa đơn, phần mềm và quản lý rủi ro - thì thuế có thể trở thành động lực thúc đẩy khu vực này minh bạch, bền vững và tham gia sâu hơn vào nền kinh tế chính thức.

Giai đoạn 2025-2026 chứng kiến sự chuyển biến chính sách đáng chú ý theo hướng phân nhóm hộ kinh doanh theo mức ngưỡng doanh thu để áp dụng chính sách thuế. Từ góc độ nghiên cứu, có thể nhận diện 7 nhóm giải pháp thuế chủ yếu đã, đang và sẽ được thực hiện, mỗi nhóm có mục tiêu riêng nhưng đều hướng tới một đích chung: giảm gánh nặng tài chính, giảm chi phí tuân thủ, thúc đẩy chính thức hóa và xây dựng nền tảng quản trị thuế hiện đại lấy người nộp thuế làm trung tâm.

MÔ HÌNH QUẢN TRỊ THUẾ LẤY NGƯỜI NỘP THUẾ LÀM TRUNG TÂM VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), quản trị (governance) có phạm vi rộng hơn quản lý (management). Nếu quản lý chủ yếu tập trung vào việc tổ chức và điều hành các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định, thì quản trị bao gồm việc thiết lập khuôn khổ thể chế, các nguyên tắc vận hành, cơ chế ra quyết định, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, sự liêm chính, cũng như việc xác lập quyền, nghĩa vụ và mối quan hệ giữa cơ quan công quyền với các bên liên quan. Trong lĩnh vực thuế, OECD tiếp cận quản trị thuế (tax governance) như một khuôn khổ thể chế bảo đảm cơ quan thuế thực hiện chức năng quản lý thuế trên cơ sở minh bạch, công bằng, có trách nhiệm giải trình, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế. Theo định hướng Tax Administration 3.0, tư duy lấy người nộp thuế làm trung tâm cần được lồng ghép vào toàn bộ khuôn khổ quản trị, quy trình nghiệp vụ và chuyển đổi số của cơ quan thuế nhằm giảm chi phí tuân thủ, nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện và củng cố niềm tin của xã hội đối với hệ thống thuế.

Trên cơ sở đó, mô hình quản trị thuế hiện đại chuyển từ tư duy coi người nộp thuế chủ yếu là đối tượng quản lý sang mô hình quản trị thuế lấy người nộp thuế làm trung tâm (taxpayer-centric tax governance). Trong mô hình này, cơ quan thuế không chỉ thực hiện chức năng quản lý và thu thuế mà còn có trách nhiệm thiết kế chính sách, quy trình quản lý và dịch vụ thuế theo hướng tạo điều kiện thuận lợi để người nộp thuế hiểu đúng quy định, thực hiện đúng nghĩa vụ và giảm tối đa chi phí tuân thủ. Việc hỗ trợ người nộp thuế không làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước mà trở thành một công cụ quan trọng để nâng cao tính tự nguyện trong tuân thủ và bảo đảm tính bền vững của nguồn thu ngân sách.

Tại Việt Nam, cách tiếp cận này lần đầu tiên được luật hóa một cách toàn diện trong Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15. Khoản 1 Điều 6 của Luật quy định: “Quản lý thuế phải công khai, minh bạch, bình đẳng, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.” Quy định này không chỉ xác lập một nguyên tắc quản lý thuế mà còn thể hiện sự chuyển đổi về tư duy quản trị. Theo đó, người nộp thuế được đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống quản lý thuế; việc xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ thuế đều phải hướng tới mục tiêu hỗ trợ, tạo điều kiện để người nộp thuế thực hiện đầy đủ, đúng quy định nghĩa vụ thuế, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Để hiện thực hóa nguyên tắc này, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 thiết lập 3 trụ cột thể chế cơ bản. Thứ nhất, phân nhóm người nộp thuế và quản lý rủi ro (Điều 3, Điều 32 và Điều 33), theo đó người nộp thuế được phân loại theo mức độ rủi ro và mức độ tuân thủ để áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp, thay cho phương thức quản lý đồng loạt như trước đây. Thứ hai, quản lý tuân thủ và hồ sơ điện tử (Điều 34), thông qua việc xây dựng hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ, duy trì hồ sơ điện tử của từng người nộp thuế và áp dụng cơ chế quản lý phù hợp đối với từng nhóm, qua đó tạo động lực khuyến khích người nộp thuế tuân thủ tốt. Thứ ba, phát triển dịch vụ thuế số gắn với bảo đảm quyền của người nộp thuế (Điều 35, Điều 36 và Điều 37), bao gồm cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, không yêu cầu người nộp thuế nộp lại các thông tin cơ quan thuế đã có, bảo vệ người nộp thuế trong trường hợp xảy ra sự cố kỹ thuật của hệ thống thông tin và bảo đảm các quyền của người nộp thuế trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính thuế.

Có thể thấy, các nguyên tắc và cơ chế được thiết lập trong Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 có sự tương đồng với xu hướng cải cách quản trị thuế hiện đại mà OECD khuyến nghị trong các báo cáo Tax Administration 3.0, Tax Administration 2024 và VITARA Reference Guide: Institutional Governance. Theo đó, cơ quan thuế chuyển từ vai trò chủ yếu là cơ quan thực thi quyền thu thuế sang mô hình quản trị kết hợp giữa quản lý rủi ro, cung cấp dịch vụ, hỗ trợ tuân thủ và bảo vệ quyền của người nộp thuế. Đây là nền tảng để xây dựng một hệ thống quản lý thuế minh bạch, hiện đại, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện.

Từ khung thể chế được thiết lập trong Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, 7 nhóm giải pháp chính sách thuế và quản lý thuế được phân tích dưới đây được thiết kế như những hợp phần của một mô hình quản trị thuế thống nhất, thay vì là các chính sách hỗ trợ riêng lẻ được ban hành theo từng thời điểm. Trong mô hình này, mỗi nhóm giải pháp thực hiện một chức năng khác nhau nhưng hướng tới cùng một mục tiêu: Các chính sách miễn, giảm và gia hạn thuế góp phần giảm gánh nặng tài chính và cải thiện dòng tiền cho người nộp thuế; các chính sách ưu đãi thuế và chuyển đổi phương thức quản lý tạo động lực phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh; các giải pháp về quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ, cải cách thanh tra, kiểm tra và phát triển dịch vụ thuế số nâng cao năng lực tuân thủ, giảm chi phí tuân thủ và tăng cường hiệu quả quản lý. Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 giữ vai trò là nền tảng thể chế, bảo đảm sự kết nối và vận hành đồng bộ của toàn bộ các nhóm giải pháp trong một hệ thống quản trị thuế hiện đại.

BẢY NHÓM GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ

Nhóm giải pháp 1: Miễn, giảm nghĩa vụ thuế trực tiếp. Nhóm giải pháp này thực hiện thông qua việc thiết lập “vùng an toàn chính sách” đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ

Nhóm giải pháp có phạm vi tác động trực tiếp và rộng nhất là miễn, giảm nghĩa vụ thuế theo ngưỡng doanh thu, thể hiện rõ quan điểm phân tầng nghĩa vụ thuế theo quy mô doanh thu và năng lực chịu thuế.

Theo Luật số 09/2026/QH16, cá nhân cư trú kinh doanh có doanh thu năm từ mức do Chính phủ quy định trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân (khoản 1, Điều 1); hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu tương ứng không chịu thuế giá trị gia tăng (khoản 2, Điều 2); doanh nghiệp có tổng doanh thu năm từ mức do Chính phủ quy định trở xuống được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (khoản 14a, Điều 3). Nghị định số 141/2026/NĐ-CP cụ thể hóa ngưỡng doanh thu này ở mức 1 tỷ đồng/năm.

Về quy mô tác động, theo số liệu tính toán của cơ quan thuế trong quá trình xây dựng chính sách, khoảng 2.556.042 hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm thuộc diện không phải nộp thuế; khoảng 235.800 doanh nghiệp có tổng doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, với số thuế miễn ước tính khoảng 2.164 tỷ đồng.

Ý nghĩa thực chất vượt ra ngoài con số thuế được miễn. Trong bối cảnh giá cả, chi phí mặt bằng, lao động và đầu vào đều tăng, doanh thu danh nghĩa của nhiều hộ kinh doanh tăng nhưng lợi nhuận thực không tăng tương ứng. Nếu ngưỡng thuế không được điều chỉnh kịp thời, chính sách thuế vô tình trở thành gánh nặng đối với nhóm có khả năng chịu đựng thấp nhất. Việc nâng ngưỡng doanh thu là cách điều chỉnh chính sách theo thực tiễn - bảo đảm công bằng tương đối giữa nghĩa vụ thuế và năng lực tài chính.

Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp theo ngưỡng doanh thu còn có tác dụng như một chính sách giảm rào cản gia nhập: hộ kinh doanh sẽ bớt e ngại chuyển đổi lên doanh nghiệp khi biết rằng nếu quy mô vẫn còn rất nhỏ, họ chưa phải gánh thêm thuế thu nhập doanh nghiệp ngay lập tức.

Nhóm giải pháp 2: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy mô và giai đoạn phát triển. Nhóm giải pháp đã và đang được triển khai theo hướng thiết kế thuế suất phân tầng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tăng trưởng

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/ QH15 thiết kế thuế suất phân tầng rõ ràng theo quy mô doanh thu: 15% cho doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 3 tỷ đồng (khoản 2 Điều 10) và 17% cho doanh nghiệp có tổng doanh thu từ trên 3 tỷ đến không quá 50 tỷ đồng (khoản 3 Điều 10), so với mức phổ thông 20%. Nghị quyết số 198/2025/QH15 bổ sung chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (khoản 4 Điều 10), đồng thời quy định ưu đãi cho hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển nhượng vốn vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và thu nhập của chuyên gia, nhà khoa học trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (các khoản 1, 2, 3 Điều 10).

Thiết kế phân tầng thuế suất không chỉ giảm số tiền thuế phải nộp, đó còn là cách thừa nhận pháp lý rằng doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn không có cùng năng lực chịu thuế, không được đối xử giống nhau trong một hệ thống thuế công bằng thực chất. Doanh nghiệp nhỏ không có lợi thế quy mô, khó tiếp cận vốn, thiếu bộ máy kế toán chuyên nghiệp và dễ bị tổn thương bởi biến động thị trường. Thuế suất thấp hơn là cách Nhà nước chia sẻ rủi ro kinh doanh với khu vực này.

Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm cho doanh nghiệp mới thành lập mang ý nghĩa của một chính sách “ươm mầm doanh nghiệp”. Khoảng đệm 3 năm miễn thuế tạo điều kiện để doanh nghiệp hoàn thiện mô hình kinh doanh, tích lũy vốn và xây dựng hệ thống quản trị - trước khi phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế.

Nhóm giải pháp 3: Giảm thuế giá trị gia tăng. Nhóm giải pháp này đã và đang được thực hiện nhằm hỗ trợ đồng thời phía cung và phía cầu của nền kinh tế

Nghị quyết số 204/2025/QH15 và Nghị định số 174/2025/NĐ-CP quy định chính sách giảm thuế giá trị gia tăng có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 đến hết ngày 31/12/2026. Theo đó, cơ sở kinh doanh tính thuế theo phương pháp khấu trừ áp dụng thuế suất 8% thay vì 10% đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện giảm thuế; hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tính thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu được giảm 20% mức tỷ lệ để tính thuế khi xuất hóa đơn đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện giảm.

Điểm đáng chú ý là chính sách thiết kế riêng cơ chế cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh - nhóm không có hệ thống kế toán đầy đủ như doanh nghiệp. Giảm theo tỷ lệ trên doanh thu giúp chính sách đơn giản, dễ hiểu và dễ áp dụng, hạn chế chi phí tuân thủ và tranh chấp trong thực hiện. Đây là cách thiết kế chính sách có tính đến đặc thù của đối tượng thụ hưởng, không áp đặt một khuôn mẫu kỹ thuật vượt quá năng lực của nhóm kinh doanh nhỏ.

Về bản chất, giảm thuế giá trị gia tăng là công cụ hỗ trợ đồng thời cả hai phía: phía cung - giúp cơ sở kinh doanh tăng khả năng cạnh tranh về giá và cải thiện dòng tiền; phía cầu - có thể góp phần giảm giá thanh toán hoặc làm chậm tốc độ tăng giá, qua đó kích thích tiêu dùng. Trong bối cảnh nhiều hộ kinh doanh chịu áp lực chi phí đầu vào và sức mua không ổn định, giảm thuế giá trị gia tăng là liều thuốc tài khóa linh hoạt, phát huy tác dụng nhanh và rộng.

Nhóm giải pháp 4: Gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất. Nhóm giải pháp này đã và đang được triển khai như một công cụ hỗ trợ thanh khoản, không làm thay đổi nghĩa vụ thuế phải nộp

Gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất là một trong những công cụ hỗ trợ tài chính có tác động nhanh và trực tiếp nhất đối với khu vực hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Khác với chính sách miễn, giảm thuế làm giảm nghĩa vụ tài chính, chính sách gia hạn không làm thay đổi số thuế phải nộp mà chỉ điều chỉnh thời điểm thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Điều này giúp người nộp thuế có thêm nguồn vốn lưu động trong ngắn hạn để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời vẫn bảo đảm tính kỷ luật và ổn định của chính sách tài khóa.

Năm 2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2025/NĐ-CP quy định gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất, áp dụng đối với thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Theo đó, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng được gia hạn được nộp chậm nhất đến ngày 31/12/2025 đối với các khoản thuế phát sinh trong năm 2025. Chính sách này đã góp phần giảm áp lực tài chính cho khu vực kinh doanh nhỏ trong bối cảnh hoạt động sản xuất, kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn.

Tiếp nối chính sách hỗ trợ này, Nghị định số 245/2026/NĐ-CP tiếp tục gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất trong năm 2026. Cụ thể, thuế giá trị gia tăng (trừ thuế GTGT khâu nhập khẩu) của các kỳ tính thuế từ tháng 3 đến tháng 8/2026 và quý I, quý II/2026 được gia hạn từ 02 đến 05 tháng; thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý II và quý III/2026 được gia hạn lần lượt 03 tháng và 02 tháng; thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phát sinh trong năm 2026 được gia hạn đến ngày 31/12/2026; đồng thời 50% tiền thuê đất phải nộp kỳ đầu năm 2026 được gia hạn 05 tháng kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định.

Về bản chất, gia hạn thuế là giải pháp hỗ trợ thanh khoản chứ không phải miễn trừ nghĩa vụ tài chính. Chính sách cho phép người nộp thuế giữ lại một phần dòng tiền trong một khoảng thời gian nhất định để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh trước khi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ - nhóm có năng lực tài chính hạn chế và khả năng tiếp cận tín dụng còn thấp - việc được lùi thời điểm nộp thuế thêm vài tháng có ý nghĩa tương đương với việc được Nhà nước cung cấp một nguồn vốn lưu động không tính lãi trong thời gian ngắn. Đây cũng là giải pháp giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thay vì phải thu xếp ngay nguồn tiền để thực hiện nghĩa vụ thuế trong thời điểm khó khăn.

Nhóm giải pháp 5: Chấm dứt thuế khoán, chuyển sang phương pháp kê khai. Nhóm giải pháp này đã được thực hiện như một cải cách nền tảng trong quản trị thuế đối với hộ kinh doanh

Nhóm giải pháp có ý nghĩa cải cách sâu nhất về phương thức quản trị là chấm dứt thuế khoán và chuyển hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sang kê khai theo dữ liệu thực. Theo khoản 6 Điều 10 Nghị quyết số 198/2025/QH15, từ ngày 01/01/2026, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không còn áp dụng phương pháp khoán thuế mà nộp thuế theo pháp luật quản lý thuế. Cùng thời điểm đó, lệ phí môn bài đã bị bãi bỏ (khoản 7 Điều 10). Để hỗ trợ quá trình chuyển đổi, Nhà nước bố trí kinh phí cung cấp miễn phí nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung (khoản 3 Điều 12) và miễn phí dịch vụ tư vấn pháp lý, đào tạo về quản trị, kế toán, thuế, nhân sự (khoản 2 Điều 13).

Thuế khoán từng phù hợp trong điều kiện quản lý thủ công - khi không thể xác định doanh thu thực tế và chi phí quản lý từng hộ quá cao. Tuy nhiên, phương pháp này tồn tại những hạn chế cố hữu: thiếu minh bạch, tạo bất bình đẳng giữa các hộ, không phản ánh kịp thời biến động doanh thu thực tế và triệt tiêu động lực ghi nhận đúng doanh thu, sử dụng hóa đơn. Khi hóa đơn điện tử, thanh toán điện tử và dữ liệu nền tảng số đã trở nên phổ cập, tiếp tục duy trì thuế khoán là duy trì một mô hình quản lý lỗi thời không phù hợp với yêu cầu quản trị hiện đại.

Tuy nhiên, chuyển từ khoán sang kê khai không thể thực hiện bằng mệnh lệnh hành chính đơn thuần. Phần mềm kế toán cần được thiết kế đơn giản, tự động hóa các bước lặp lại, kết nối hóa đơn điện tử và hiển thị nghĩa vụ thuế bằng ngôn ngữ dễ hiểu - chứ không phải là phiên bản thu nhỏ của phần mềm cho doanh nghiệp lớn. Bãi bỏ lệ phí môn bài, dù số tiền không lớn, cũng gửi đi thông điệp quan trọng: Nhà nước không chỉ yêu cầu minh bạch hơn, mà đồng thời loại bỏ các khoản thu hành chính không còn phù hợp. Nhóm giải pháp này nếu triển khai tốt sẽ tạo tác động kép: người nộp thuế nhỏ được hỗ trợ để làm đúng; cơ quan thuế có dữ liệu tốt hơn để quản lý doanh thu, hóa đơn và rủi ro - bước đi không thể thiếu để chuyển từ quản lý ước lượng sang quản lý dựa trên dữ liệu.

Nhóm giải pháp 6: Cải cách thanh tra, kiểm tra thuế. Nhóm giải pháp này đang được triển khai nhằm giảm chi phí tuân thủ và tăng cường bảo vệ người nộp thuế tuân thủ tốt

Chi phí tuân thủ đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ không chỉ là tiền thuế, mà còn là thời gian, công sức, chi phí chuẩn bị hồ sơ, tiếp đoàn kiểm tra, giải trình và xử lý yêu cầu trùng lặp. Nhóm giải pháp này hướng tới cắt giảm loại chi phí khó đo lường nhưng ảnh hưởng sâu đến tâm lý kinh doanh và quyết định chính thức hóa.

Nghị quyết số 198/2025/QH15 quy định: mỗi doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không bị thanh tra quá 1 lần trong năm, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng (khoản 1, Điều 4); tổng số lần kiểm tra kể cả kiểm tra liên ngành cũng không quá 1 lần trong năm (khoản 2, Điều 4); đã thanh tra thì không kiểm tra và ngược lại đối với cùng nội dung trong cùng năm (khoản 3, Điều 4); ưu tiên thanh tra, kiểm tra từ xa dựa trên dữ liệu điện tử, hạn chế kiểm tra trực tiếp (khoản 6, Điều 4); miễn kiểm tra thực tế đối với đối tượng có lịch sử tuân thủ tốt (khoản 7, Điều 4). Điểm a, khoản 4, Điều 16 giao Chính phủ giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ pháp luật và 30% điều kiện kinh doanh.

Các quy định này thể hiện sự chuyển đổi triết lý quản lý từ “kiểm tra đồng loạt để yên tâm” sang “quản lý bằng dữ liệu, kiểm tra có trọng tâm theo rủi ro”. Miễn kiểm tra thực tế đối với người tuân thủ tốt còn có tác dụng khuyến khích tự nguyện: tuân thủ tốt mang lại lợi ích cụ thể và ngay lập tức, chứ không chỉ là nghĩa vụ mang tính trừu tượng. Khi người nộp thuế thấy rằng minh bạch dữ liệu và kê khai đúng được đền đáp bằng ít phiền hà hơn, động lực chính thức hóa sẽ mạnh hơn bất kỳ biện pháp cưỡng chế nào.

Nhóm giải pháp 7: Triển khai mô hình quản lý thuế thông minh theo Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15. Nhóm giải pháp này đang được triển khai nhằm xây dựng nền tảng quản trị thuế hiện đại, lấy người nộp thuế làm trung tâm

Nếu 6 nhóm giải pháp trước là các công cụ chính sách cụ thể, thì Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 là kiến trúc nền tảng để toàn bộ cấu trúc hỗ trợ vận hành có hệ thống và bền vững, đồng thời là văn bản thể chế hóa đầy đủ nhất mô hình quản trị thuế lấy người nộp thuế làm trung tâm.

Đối với khu vực kinh doanh nhỏ, Luật này mang lại 6 giá trị thiết thực. Một là, xác lập triết lý quản lý “phục vụ để tuân thủ” thay vì “kiểm soát để thu”, thông qua nguyên tắc lấy người nộp thuế làm trung tâm tại khoản 1, Điều 6. Hai là, phân nhóm người nộp thuế theo Điều 3 giúp cơ quan thuế không quản lý đồng loạt, dành nguồn lực cho nhóm rủi ro cao, giảm phiền hà cho nhóm rủi ro thấp. Ba là, quản lý rủi ro (Điều 32, Điều 33) và quản lý tuân thủ (Điều 34) tạo nền tảng để giảm kiểm tra dàn trải, xây dựng hồ sơ tuân thủ điện tử và áp dụng chế độ ưu tiên cho người tuân thủ tốt. Bốn là, dịch vụ công trực tuyến toàn trình theo Điều 35 đặc biệt có ý nghĩa với hộ kinh doanh ở địa bàn xa, thiếu nhân sự hoặc không có điều kiện đi lại. Năm là, nguyên tắc không yêu cầu nộp lại tài liệu đã có trong hồ sơ thuế theo Điều 37 là cải cách thiết thực giúp cắt giảm chi phí tuân thủ tức thì. Sáu là, Điều 36 bảo vệ người nộp thuế khi sự cố kỹ thuật làm họ không thể thực hiện nghĩa vụ đúng hạn - một quy định quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi số còn nhiều rủi ro vận hành.

Như vậy, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 không đơn thuần là luật về quy trình mà đây còn là văn bản pháp lý nền tảng của mô hình quản trị thuế thế hệ mới tại Việt Nam: quản trị bằng dữ liệu, bằng phân nhóm rủi ro, bằng dịch vụ số và bằng quyền được bảo vệ của người nộp thuế.

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Bảy nhóm giải pháp chính sách thuế và quản lý thuế nêu trên tạo thành một hệ thống giải pháp đồng bộ hỗ trợ người nộp thuế là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được thiết kế theo chuỗi hỗ trợ xuyên suốt từ giảm gánh nặng tài chính, duy trì thanh khoản, nâng cao năng lực tuân thủ, cải cách quản lý đến thúc đẩy phát triển dài hạn có mối quan hệ chặt chẽ gồm: hỗ trợ tài chính trực tiếp giảm gánh nặng nghĩa vụ; hỗ trợ thanh khoản qua gia hạn thuế duy trì khả năng hoạt động ngắn hạn; hỗ trợ năng lực tuân thủ qua phần mềm, nền tảng số và tư vấn giúp người nộp thuế làm đúng; hỗ trợ thể chế quản lý qua cải cách thanh tra kiểm tra giảm chi phí phi tài chính; và hỗ trợ phát triển dài hạn qua ưu đãi đổi mới sáng tạo và khuyến khích chính thức hóa.

Điểm mấu chốt là các giải pháp này không vận hành độc lập. Chấm dứt thuế khoán sẽ thất bại nếu thiếu phần mềm kế toán đơn giản và tư vấn thuế tiếp cận được. Giảm thanh tra kiểm tra sẽ không khả thi nếu thiếu dữ liệu, phân nhóm rủi ro và hồ sơ tuân thủ điện tử. Ưu đãi thuế tạo hiệu ứng ngắn hạn, nhưng muốn nuôi dưỡng nguồn thu dài hạn thì phải đi cùng chính thức hóa và minh bạch hóa cơ sở thuế. Đây chính là logic liên kết của mô hình quản trị thuế lấy người nộp thuế làm trung tâm: mỗi biện pháp đơn lẻ chỉ có tác dụng đầy đủ khi được vận hành trong tổng thể.

Để nâng cao hiệu quả thực thi, nhóm tác giả đề xuất 5 kiến nghị. Thứ nhất, truyền thông chính sách cần được thiết kế riêng cho từng nhóm đối tượng, theo tình huống thực tế, ngắn gọn và dễ tiếp cận, không phải theo mẫu văn bản pháp quy. Thứ hai, phần mềm kế toán dùng chung cần được thiết kế theo nguyên tắc đơn giản hóa tối đa - tự động hóa bước lặp lại, cảnh báo sai sót và kết nối hóa đơn điện tử - không phải là phiên bản thu nhỏ của phần mềm doanh nghiệp lớn. Thứ ba, cần xây dựng và công khai hồ sơ tuân thủ điện tử cho từng người nộp thuế, không chỉ phục vụ quản lý mà còn để người nộp thuế tự biết mình đang ở mức tuân thủ nào và cần khắc phục gì. Thứ tư, cần triển khai thực chất nguyên tắc không yêu cầu lại dữ liệu đã có - điều này đòi hỏi cải tiến quy trình nội bộ, kết nối và chuẩn hóa dữ liệu liên cơ quan. Thứ năm, cần gắn kết quả quản lý rủi ro và tuân thủ với quyền lợi cụ thể cho người nộp thuế tốt - giảm kiểm tra, ưu tiên xử lý hồ sơ, nhận cảnh báo sớm - để tuân thủ tự nguyện có lợi ích thực, không chỉ là nghĩa vụ đạo đức.

KẾT LUẬN

Các giải pháp chính sách thuế và quản lý thuế giai đoạn 2025-2026 đánh dấu một bước chuyển có tính nền tảng: từ mô hình “quản lý để thu” - trong đó người nộp thuế là đối tượng bị kiểm soát - sang mô hình “quản trị thuế lấy người nộp thuế làm trung tâm”, trong đó người nộp thuế là chủ thể được phục vụ, được hỗ trợ và được bảo vệ để tuân thủ đúng.

Bước chuyển này được luật hóa rõ ràng tại khoản 1, Điều 6, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 nhưng ý nghĩa của nó vượt ra ngoài một điều khoản đơn lẻ. Đây là nguyên tắc kiến trúc của toàn bộ hệ thống: từ phân nhóm rủi ro đến hồ sơ tuân thủ điện tử, từ dịch vụ công trực tuyến đến quyền từ chối kiểm tra không đúng căn cứ - tất cả đều vận hành quanh trục người nộp thuế là trung tâm.

Đối với khu vực hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, mô hình quản trị này có ý nghĩa đặc biệt: đây là nhóm dễ bị tổn thương nhất trước chi phí tuân thủ, dễ bị nản lòng bởi thủ tục, nhưng cũng là nhóm có tiềm năng lớn nhất để chính thức hóa nếu được hỗ trợ đúng cách. Khi quản trị thuế thực sự lấy họ làm trung tâm - giảm gánh nặng, cung cấp công cụ, bảo vệ quyền lợi và tạo lợi ích cụ thể cho việc tuân thủ - khu vực này sẽ không chỉ “nộp thuế” mà còn trở thành đối tác bền vững của Nhà nước trong việc nuôi dưỡng nguồn thu.

Thành công của chính sách vì vậy cần được đo bằng các chỉ số phản ánh đúng triết lý quản trị mới: mức độ giảm chi phí tuân thủ, số lượng hộ kinh doanh chuyển đổi minh bạch, tỷ lệ tuân thủ tự nguyện, chất lượng dữ liệu quản lý và mức độ hài lòng của người nộp thuế - chứ không chỉ là số thuế thu được trong ngắn hạn. Đó mới là thước đo của một nền quản trị thuế hiện đại: nhân văn trong hỗ trợ - thông minh trong quản lý - công bằng trong thực thi - bền vững trong nuôi dưỡng nguồn thu.

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2025). Nghị định số 174/2025/NĐ-CP quy định chính sách giảm thuế giá trị gia tăng theo Nghị quyết số 204/2025/QH15 của Quốc hội.

2. Chính phủ (2025). Nghị định số 82/2025/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2025.

3. Chính phủ (2026). Nghị định số 141/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2026/NĐ-CP và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

4. Chính phủ (2026). Nghị định số 68/2026/NĐ-CP hướng dẫn chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

5. OECD (2022). Tax Administration 3.0: From Vision to Strategy, OECD Publishing, đặc biệt nội dung: “Embedding taxpayer-centric thinking in governance and processes”.

6. OECD (2024). Tax Administration 2024: Comparative Information on OECD and Other Advanced and Emerging Economies..

7. OECD, IMF, CIAT & IOTA (2024). VITARA Reference Guide: Institutional Governance, OECD Publishing.

8. Quốc hội (2025). Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.

9. Quốc hội (2025). Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.

10. Quốc hội (2025). Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15.

11. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.

12. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 204/2025/QH15 về giảm thuế giá trị gia tăng.

13. Quốc hội (2026). Luật số 09/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026

Tin tức khác

Phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu phân tích quá trình phát triển của thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam trong bối cảnh thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số trong ngành ngân hàng. Trên cơ sở tổng hợp các quy định pháp lý và số liệu thị trường, nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển, mức độ cạnh tranh, kết quả đạt được và các hạn chế trong hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tín dụng. Kết quả cho thấy, thị trường đang tăng trưởng nhanh nhưng vẫn còn tồn tại các vấn đề về chi phí chấp nhận thẻ, rủi ro tín dụng, gian lận thanh toán và sự chênh lệch về hạ tầng thanh toán. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao quản trị rủi ro, mở rộng hạ tầng thanh toán và phát triển thị trường thẻ tín dụng theo hướng an toàn, minh bạch và bền vững.
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững

Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ cùng những thách thức ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang hội tụ thành xu thế phát triển mới - chuyển đổi kép. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế mà còn là con đường tất yếu để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bối cảnh này đặt ra trọng trách lớn đối với khu vực kinh tế nhà nước. Bài viết làm rõ vai trò của khu vực kinh tế nhà nước, những cơ hội và thách thức đặt ra trong bối cảnh mới; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ khu vực kinh tế nhà nước phát triển bền vững, tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp

Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những chuyển dịch địa chính trị toàn cầu, Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử tiến vào “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc. Bài viết phân tích toàn diện tiến trình đổi mới của Hải quan Việt Nam giai đoạn 2025-2026 trên các phương diện: hoàn thiện thể chế pháp lý, tinh gọn bộ máy hành chính và tăng cường hạ tầng số. Bằng phương pháp phân tích thực tiễn và tổng hợp số liệu, nghiên cứu làm rõ vai trò chuyển dịch mang tính bước ngoặt của ngành Hải quan từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vụ”, góp phần tối ưu hóa chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh đó, bài viết xác định các “nút thắt” hiện tại và đề xuất định hướng chiến lược hướng tới mục tiêu Hải quan thông minh vào năm 2030.
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng và định hướng

Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng và định hướng

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, xuất khẩu, tạo việc làm và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa và năng lực lan tỏa vẫn còn hạn chế. Bài viết phân tích vai trò, những điểm nghẽn chủ yếu và đề xuất giải pháp chuyển từ thu hút vốn đầu tư nước ngoài đơn thuần sang kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả và đóng góp của khu vực này đối với nền kinh tế.
Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân

Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững giai đoạn 2026-2030, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích những kết quả nổi bật trong công tác hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Kết quả cho thấy Chính phủ đã triển khai mạnh mẽ các giải pháp rà soát văn bản quy phạm pháp luật, cắt giảm điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh chuyển đổi số, hỗ trợ tiếp cận vốn, đất đai và nguồn nhân lực chất lượng cao cho doanh nghiệp. Đồng thời, nhiều chỉ số quốc tế và trong nước như SDG, BREADY, LPI, SIPAS, PAR Index, PCI ghi nhận sự cải thiện tích cực của môi trường kinh doanh Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế liên quan đến tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, chất lượng thực thi thủ tục hành chính, năng lực chuyển đổi số và khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp tư nhân. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng dịch vụ công, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững khu vực kinh tế tư nhân trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp

Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp

Cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam trong những năm gần đây. Nhờ việc rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa nhiều thủ tục, thời gian giải quyết hồ sơ ở nhiều lĩnh vực như đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép đầu tư, đất đai, thuế, hải quan và bảo hiểm xã hội đã được rút ngắn đáng kể. Những kết quả đạt được không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, công khai và minh bạch. Trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo quan trọng để xây dựng nền hành chính phục vụ, phát triển và hội nhập.
Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực III kịp thời phổ biến, giáo dục pháp luật

Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực III kịp thời phổ biến, giáo dục pháp luật

Thời gian qua, Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực III đã kịp thời phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động dự trữ quốc gia.
Cảnh báo chiêu giả danh cơ quan nhà nước cài ứng dụng độc hại để chiếm đoạt tiền

Cảnh báo chiêu giả danh cơ quan nhà nước cài ứng dụng độc hại để chiếm đoạt tiền

Các đối tượng lừa đảo liên tục thay đổi thủ đoạn, mạo danh cán bộ công an, ngân hàng, bảo hiểm xã hội hoặc cơ quan thuế để yêu cầu người dân cập nhật dữ liệu, cài đặt ứng dụng giả mạo. Khi nạn nhân cấp quyền truy cập, mã độc sẽ chiếm quyền điều khiển điện thoại, đánh cắp thông tin ngân hàng và chuyển tiền khỏi tài khoản.
Xem thêm
podcast tinh gon 3 600 dau moi va dau an quan tri so o bo tai chinh

PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa 12, Bộ Tài chính đã thực hiện một cuộc "đại phẫu" toàn diện từ cấu trúc tổ chức đến tư duy nhân sự, trở thành điểm sáng lớn trong công tác cải cách hành chính quốc gia.
podcast luat quan ly thue 2025 hoan thien khung phap ly de trien khai thong nhat

PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất

Luật Quản lý thuế năm 2025 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, cùng với hệ thống nghị định và thông tư hướng dẫn được Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho công tác quản lý thuế trong giai đoạn mới. Các văn bản không chỉ quy định chi tiết việc thi hành luật mà còn hướng dẫn cụ thể về hóa đơn điện tử, quản lý hộ kinh doanh và các thủ tục quản lý thuế.
infographic binh quan 6 thang dau nam 2026 chi so gia tieu dung tang 4 38 so voi cung ky nam truoc

INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,12%.
video quy dinh moi ve quan ly thue xuat nhap khau khong phai nop lai chung tu da co tren cac cong thong tin so

VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 86 năm 2026 quy định về quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và chính thức có hiệu lực thi hành. Đây là văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa Luật Quản lý thuế năm 2025, hướng tới mục tiêu hoàn thiện cơ sở pháp lý, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực hải quan để tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu.
video siet chat nhap khau o to bieu tang kiem soat ho so ngay tu dau thay vi giam sat sau thong quan

VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan

Việc nhập khẩu xe ô tô theo diện quà biếu, quà tặng hay tài sản di chuyển là nhu cầu có thật trong đời sống. Tuy nhiên, để ngăn chặn triệt để tình trạng trục lợi, đưa xe vào thị trường nội địa để kinh doanh thương mại trá hình, dự thảo quy định mới đang được hoàn thiện theo hướng siết chặt kiểm soát ngay từ khâu nhập khẩu.
Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất định hướng xây dựng kế hoạch giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2021-2026.
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa

Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng được Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng ngày 14/7.
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể

Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể

Sau khi xác lập quyết tâm tăng trưởng 2 con số, Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa mục tiêu bằng 2 nghị quyết quan trọng để lượng hóa trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương.
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Ngày 13/7, Hội nghị tham vấn, lấy ý kiến đối với dự án Luật Phát triển đô thị được tổ chức dưới sự đồng chủ trì của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm.
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều nhiệm vụ lập pháp quan trọng trong lĩnh vực tài chính, ngân sách, thuế, đầu tư và doanh nghiệp.
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Đây là một trong những nội dung được Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, Trưởng ban Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương nhấn mạnh tại Hội nghị tổng kết Tổng điều tra chiều ngày 13/7.
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững

Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững

Cục Kế hoạch - Tài chính đã chủ động tham mưu, điều hành hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, hoàn thiện cơ chế chính sách, thúc đẩy giải ngân đầu tư công.
Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển đất nước

Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển đất nước

Ngày 13/7, Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến, tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026.
Bài 1: Chính phủ hành động: Mở đường cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Bài 1: Chính phủ hành động: Mở đường cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà còn là phép thử đối với năng lực điều hành, khả năng khơi thông nguồn lực và sức mạnh phối hợp của cả hệ thống chính trị.
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số

Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số

Thời gian qua, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính chủ yếu tập trung vào cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục. Tuy nhiên, yêu cầu cải cách hiện nay là tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số.
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân

Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân

Chỉ khi đánh giá đúng "sức khỏe" của khu vực kinh tế tư nhân mới có thể thiết kế những chính sách trúng, đúng và đủ mạnh để khơi thông động lực tăng trưởng, hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long

Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang chuyển trọng tâm sản xuất nông sản từ tăng sản lượng sang gia tăng giá trị, lấy thị trường, người nông dân làm động lực phát triển.
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng

Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng

Các doanh nghiệp là lực lượng quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó, cần các giải pháp cải thiện năng lực của doanh nghiệp để có thể kích hoạt tốt hơn các động lực tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số

Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số

Mục tiêu tăng trưởng cao phải dựa trên 2 động lực căn bản là nâng cao năng suất lao động và nâng cao năng lực của doanh nghiệp. Muốn vậy, bên cạnh việc tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô, những cải cách vi mô có tính đột phá là hết sức cần thiết.
Đi tìm lời giải cho bài toán xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD

Đi tìm lời giải cho bài toán xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản muốn đạt 100 tỷ USD cần đột phá thể chế, chuyển đổi số, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh nông sản Việt.
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo thuận lợi cho lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh

Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo thuận lợi cho lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh

Nghị định số 274/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành giúp tháo gỡ các vướng mắc và tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh.
Muốn tăng trưởng xanh phải đặt con người vào trung tâm chính sách

Muốn tăng trưởng xanh phải đặt con người vào trung tâm chính sách

Chuyển dịch năng lượng đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của chiến lược phát triển Việt Nam. Tuy nhiên, thành công của quá trình này phụ thuộc vào khả năng hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế.
Sức sống hàng Việt mang "Điện Biên phố" đến Hà Nội

Sức sống hàng Việt mang "Điện Biên phố" đến Hà Nội

Chương trình “Sức sống hàng Việt” số 9 với chủ đề “Điện Biên phố” sẽ diễn ra từ ngày 16 đến 19/7/2026 tại 62 Tràng Tiền (phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).