Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân
ThS.Trịnh Thị Hương
Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính
ThS.Nguyễn Thị Hồng Lam
rưởng phòng Chính sách, Môi trường kinh doanh và Hợp tác quốc tế - Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính
ThS.Ngô Thùy Dung
Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam thông qua đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gia tăng và yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững, việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ.
Nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, ngày 08/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026. Nghị quyết tập trung vào các nội dung trọng tâm như hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cắt giảm điều kiện kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số, khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp và hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
Bài viết tập trung phân tích kết quả cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo Nghị quyết số 02/NQ-CP, đồng thời đánh giá những hạn chế còn tồn tại và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong thời gian tới.
KẾT QUẢ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 02/NQ-CP
Hoàn thiện thể chế và tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý
Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật được triển khai lần đầu tiên trên quy mô toàn quốc nhằm nhận diện và xử lý các quy định chồng chéo, bất cập cản trở hoạt động đầu tư kinh doanh. Nhiều bộ, ngành đã chủ động sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để xử lý các điểm nghẽn trong lĩnh vực quản lý.
Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã thông qua 9 luật và 31 nghị quyết, trong đó có 5 nghị quyết quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Đồng thời, từ ngày 01/01/2026 đến ngày 25/5/2026, các bộ và cơ quan ngang bộ đã tham mưu để Chính phủ ban hành 9 nghị quyết nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc liên quan đến nhà ở xã hội, đất đai, công chứng, phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính. Những chính sách này góp phần giải phóng nguồn lực xã hội và thúc đẩy hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh.
Trong lĩnh vực thuế, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; đồng thời ban hành các thông tư hướng dẫn quản lý thuế và kê khai thuế trên thị trường tài sản mã hóa. Chính sách bãi bỏ phương pháp thu thuế khoán từ ngày 01/01/2026 được xem là bước chuyển quan trọng nhằm thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp minh bạch thông qua hóa đơn điện tử.
Trong lĩnh vực đầu tư, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/2026/NĐ-CP về trình tự, thủ tục thẩm định dự án quan trọng quốc gia và giám sát, đánh giá đầu tư. Hệ thống thông tin giám sát và đánh giá đầu tư bước đầu cho phép quản lý hiệu quả thông tin, số liệu đầu tư công, đầu tư theo hình thức hợp tác công tư (PPP) và đầu tư theo Luật Đầu tư, đồng thời giảm gánh nặng báo cáo cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Cắt giảm thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước
Bám sát Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 02/NQ-CP, công tác rà soát, điều chỉnh danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện từ đầu năm 2026 đến nay đã được triển khai đồng bộ, thực chất. Tính đến ngày 20/05/2026, toàn quốc đã hoàn thành rà soát và bãi bỏ 56/198 ngành, nghề so với Luật Đầu tư năm 2025 (đạt tỷ lệ 28,28%). Dự kiến từ ngày 01/7/2026, danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ rút gọn còn 142 ngành, nghề. Đồng thời, theo yêu cầu tại 11 Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, các bộ, ngành đã cắt giảm 1.754 điều kiện kinh doanh không cần thiết, từ ngày 01/7/2026, duy trì khoảng 3.000 điều kiện kinh doanh trong toàn hệ thống.
Bên cạnh đó, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được xem là giải pháp trọng tâm nhằm giảm chi phí tuân thủ và nâng cao chất lượng phục vụ doanh nghiệp. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các bộ, ngành đã phân cấp 362 thủ tục hành chính từ Trung ương về địa phương; cắt giảm 697 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 673 thủ tục khác. Tổng số thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh được cắt giảm hoặc đơn giản hóa đạt 63,1%, giúp rút ngắn khoảng 29.308 ngày làm việc và giảm 40,5% chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Theo ước tính, các biện pháp này giúp tiết kiệm khoảng 48,6 nghìn tỷ đồng mỗi năm cho xã hội.
Đặc biệt, các bộ, ngành và địa phương đã rà soát và thay thế thành phần hồ sơ bằng dữ liệu đối với 794 thủ tục hành chính. Người dân và doanh nghiệp không còn phải nộp lại nhiều giấy tờ nếu thông tin đã được tích hợp trong cơ sở dữ liệu quốc gia. Đồng thời, nhiều địa phương đã hoàn thành mục tiêu cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình cho doanh nghiệp. Tỷ lệ số hóa hồ sơ tại các địa phương đạt bình quân 94,84%.
Ngoài ra, nhiều mô hình đổi mới sáng tạo trong giải quyết thủ tục hành chính đã được triển khai hiệu quả. Những cải cách này góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với cơ quan hành chính nhà nước.
Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực phát triển
Một trong những nội dung quan trọng khác của Nghị quyết số 02/NQ-CP là khơi thông và đa dạng hóa các nguồn lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân. Trong lĩnh vực tín dụng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì ổn định các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp. Đồng thời, mức lãi suất trần cho vay ngắn hạn đối với 5 lĩnh vực ưu tiên được giữ ở mức 4%/năm.
Nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn tiếp tục được triển khai như Chương trình lâm sản, thủy sản với quy mô 185.000 tỷ đồng và gói tín dụng nhà ở xã hội 145.000 tỷ đồng. Các địa phương cũng chủ động phối hợp với ngành ngân hàng tổ chức đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn vay và đơn giản hóa thủ tục thẩm định.
Đối với nguồn lực đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai với mục tiêu hoàn thành số hóa và làm sạch dữ liệu trên toàn quốc vào cuối năm 2026. Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 178/2025/ NĐ-CP nhằm rút ngắn quy trình thẩm định quy hoạch đô thị và nông thôn, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận thông tin đất đai của doanh nghiệp.
Đáng chú ý, Nghị định số 20/2026/NĐ-CP yêu cầu các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp phải dành tối thiểu 5% diện tích đất hoặc quỹ đất 20 ha để cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại với giá ưu đãi. Chính sách này góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh.
Trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án đào tạo 10.000 giám đốc điều hành (CEO) đến năm 2030 theo Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 nhằm nâng cao năng lực quản trị hiện đại cho khu vực kinh tế tư nhân. Công tác giáo dục nghề nghiệp được đổi mới theo hướng gắn kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ thông tin và logistics.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh
Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được xem là động lực quan trọng thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Bộ Tài chính đã phối hợp với nhiều tập đoàn công nghệ và tổ chức quốc tế như Google, Meta, NVIDIA, UNDP, JICA, NIPA và Arup Ventures triển khai các chương trình hỗ trợ hơn 1.000 doanh nghiệp khởi nghiệp và kết nối trên 1.500 doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Qua đó, các doanh nghiệp được hỗ trợ hoàn thiện công nghệ, tiếp cận nhà đầu tư và mở rộng thị trường.
Trong chuyển đổi số, Đề án chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026-2030 được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Hệ thống nền tảng số quốc gia như SMEdx và OneSME hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường. Nhiều địa phương triển khai hỗ trợ ứng dụng internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất và thương mại điện tử; tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng hóa đơn và hợp đồng điện tử tại một số địa bàn đạt trên 80-90%.
Song song với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh cũng được thúc đẩy mạnh mẽ. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình kinh doanh bền vững giai đoạn 2026-2030 theo Quyết định số 926/QĐ-TTg ngày 25/5/2026. Bộ Công Thương triển khai hướng dẫn áp dụng hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi lò hơi sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tái tạo và xây dựng mô hình tái chế chất thải trong cụm công nghiệp.
Theo đó, nhiều mô hình phát triển bền vững đã được triển khai hiệu quả tại địa phương đã và đang góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững cho khu vực kinh tế tư nhân.
Cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh
Kết quả cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 được phản ánh khá rõ thông qua các chỉ số quốc tế và trong nước.
Trong nước, Chỉ số Cải cách hành chính (PAR Index) năm 2025 tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Giá trị trung bình PAR Index của các bộ, ngành đạt 87,20%, tăng 2,77 điểm phần trăm so với năm 2024; PAR Index cấp tỉnh đạt trung bình 89,96%, tăng 1,59 điểm phần trăm và là mức cao nhất từ trước đến nay. Đặc biệt, chỉ số cải cách thủ tục hành chính tăng 6,11%; chỉ số cải cách tài chính công tăng 10,53%; chỉ số cải cách thể chế tăng 4,56%. Những kết quả này cho thấy nỗ lực mạnh mẽ trong cải thiện chất lượng điều hành và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.
Theo kết quả Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) năm 2025, mức độ hài lòng chung của người dân và doanh nghiệp đạt 83,09%. Tuy nhiên, chỉ số tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị chỉ đạt 82,49%, thấp nhất trong các chỉ số thành phần.
Đáng chú ý, Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025 theo phương pháp PCI 2.0 đã chuyển mạnh từ tư duy “giảm gánh nặng hành chính” sang “chủ động kiến tạo” môi trường phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân. Điểm trung vị toàn quốc đạt 63,90 điểm, trong đó khoảng cách giữa địa phương cao nhất và thấp nhất là hơn 14 điểm. Nhiều địa phương vẫn còn hạn chế trong bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và năng lực quản trị của chính quyền kiến tạo.
Mặt khác, theo Báo cáo Nâng cao Chỉ số Hiệu quả Logistics (LPI) Việt Nam 2025 do Bộ Công Thương phối hợp cùng các chuyên gia logistics xây dựng, điểm LPI tổng hợp của Việt Nam năm 2025 đạt 3,493 điểm (trung bình cộng của sáu trụ cột LPI) tăng so với năm 2023 là 5,8%. Trụ cột Năng lực dịch vụ logistics tăng mạnh từ 3,2 lên 3,69, cho thấy hệ thống logistics Việt Nam có khả năng cạnh tranh tốt.
Đối với các chỉ số quốc tế, chỉ số B-READY là bộ công cụ đánh giá của Ngân hàng Thế giới nhằm đo lường và cải thiện môi trường kinh doanh tại các quốc gia. Bộ chỉ số này mới được xây dựng và đang trong giai đoạn thí điểm thực hiện, nên chưa chính thức được đưa vào quy định trong Nghị quyết số 02/NQ-CP. Tuy nhiên, kết quả đánh giá của chỉ số B-READY có tính tham khảo cao trong đánh giá kết quả cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam với các nước khác. Theo Chỉ số B-READY năm 2025, thứ hạng của Việt nam theo ba trụ cột cốt lõi như sau: (i) Về hiệu quả vận hành (Trụ cột III): Việt Nam đạt 70,44 điểm, chính thức lọt vào nhóm các quốc gia dẫn đầu toàn cầu (Nhóm 1), xếp thứ 16/101 quốc gia được khảo sát; (ii) Về khung pháp lý (Trụ cột I): Việt Nam đạt 67,03 điểm, xếp thứ 55/101, thuộc Nhóm 3 (Nhóm trung bình), tương đương với mặt bằng chung toàn cầu (66,32 điểm); (iii) Về dịch vụ công (Trụ cột II), Việt Nam chỉ đạt 53,93 điểm, xếp thứ 59/101 thuộc Nhóm 3 (Nhóm trung bình). Đáng chú ý, theo đánh giá của Chỉ số BREADY, trong 8 nước ASEAN, Việt Nam xếp thứ 2/8 sau Singapore tại trụ cột III; xếp thứ 3/8 sau Singapore và Philippines tại trụ cột I; đứng thứ 5/8 sau Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines tại Trụ cột II.
Còn theo Báo cáo Chỉ số Phát triển bền vững (SDG) năm 2025 do Liên hợp quốc công bố ngày 23/6/2026, Việt Nam đạt 73,8 điểm và đứng thứ 58/169 quốc gia được đánh giá. Mức điểm này cao hơn mức trung bình toàn cầu là 69,0 điểm và cao hơn mức trung bình khu vực Đông và Nam Á là 70,5 điểm. Trong ASEAN, Việt Nam đứng thứ 2/11 quốc gia, chỉ sau Thái Lan và đứng trên Singapore mặc dù có cùng điểm số.
Một số chỉ tiêu thành phần của SDG cho thấy những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam: tỷ lệ nghèo tính theo chuẩn 3 USD/ ngày và 4,2 USD/ngày lần lượt ở mức 0,8% và 3,0%; tỷ lệ thất nghiệp ở mức 2,3%; tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động đạt 88,7%; tỷ lệ dân cư thành thị được tiếp cận nước sạch đạt 95,2%. Những kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách phát triển bao trùm và cải thiện chất lượng sống của người dân. Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy Việt Nam vẫn còn một số hạn chế ở các mục tiêu liên quan đến biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên biển và hệ sinh thái trên cạn.
MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ THÁCH THỨC
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP vẫn còn một số hạn chế và khó khăn cần khắc phục.
Thứ nhất, hệ thống pháp luật mặc dù đã được rà soát, sửa đổi nhưng vẫn chưa thực sự đồng bộ và thống nhất. Một số luật và văn bản dưới luật thay đổi nhanh trong thời gian ngắn khiến địa phương và doanh nghiệp gặp khó khăn trong cập nhật và thích ứng. Đáng chú ý, tình trạng chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật vẫn chưa được khắc phục triệt để.
Thứ hai, một số mục tiêu về phân cấp, phân quyền và cắt giảm điều kiện kinh doanh chưa đạt yêu cầu. Tỷ lệ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp bộ vẫn ở mức 31,5%, chưa đáp ứng mục tiêu dưới 30% theo Kết luận số 18-KL/TW. Tỷ lệ cắt giảm ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện mới đạt hơn 28%, thấp hơn yêu cầu tối thiểu 30%.
Thứ ba, chất lượng thực thi thủ tục hành chính tại một số lĩnh vực như đất đai, đầu tư, môi trường và phòng cháy chữa cháy còn hạn chế. Tình trạng hồ sơ trễ hẹn vẫn phát sinh, đặc biệt đối với các thủ tục liên thông phức tạp. Đồng thời, hệ thống dịch vụ công trực tuyến của một số bộ, ngành còn thiếu ổn định; việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia và địa phương chưa đồng bộ.
Ngoài ra, khả năng tiếp cận vốn tín dụng của khu vực kinh tế tư nhân vẫn gặp khó khăn do phụ thuộc lớn vào tài sản bảo đảm truyền thống. Hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp tại một số địa phương còn thiếu tính liên kết; chất lượng nguồn nhân lực số và kỹ năng ngoại ngữ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI.
NHỮNG GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
Để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được đề ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP, trong đó, các bộ, cơ quan, địa phương tập trung rà soát, kịp thời sửa đổi hoặc đề xuất sửa đổi các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, bất cập; nâng cao chất lượng thực thi chính sách, tăng cường đối thoại, tiếp nhận, xử lý và phản hồi kịp thời các kiến nghị, khó khăn, vướng mắc của người dân, doanh nghiệp.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nội vụ (2026). Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính PAR Index 2025.
2. Bộ Nội vụ (2026). Báo cáo Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính SIPAS 2025.
3. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 08/01/2026 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026.
4. VCCI (2026). Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2025.
5. United Nations (2026). Sustainable Development Report 2025.
6. World Bank (2026). Business Ready (B-READY) 2025 Report.
7. World Bank (2026). Logistics Performance Index 2.0 Report 2025.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026 |
Tin tức khác
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững
Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp
Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng và định hướng
Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp
Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực III kịp thời phổ biến, giáo dục pháp luật
Cảnh báo chiêu giả danh cơ quan nhà nước cài ứng dụng độc hại để chiếm đoạt tiền
PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính
PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất
INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững
Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển đất nước
Bài 1: Chính phủ hành động: Mở đường cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số
Đi tìm lời giải cho bài toán xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo thuận lợi cho lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh
Muốn tăng trưởng xanh phải đặt con người vào trung tâm chính sách








