Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp
Hoàng Văn Cương
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính
Email: hoangvancuong@mof.gov.vn
Nguyễn Thúy Quỳnh
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính
Phạm Phú Minh
Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
TỔNG QUAN VIỆC THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
Trong năm 2026, công tác xây dựng và thi hành pháp luật tại Việt Nam được định vị là “đột phá của đột phá” nhằm giải phóng nguồn lực xã hội. Thể chế pháp lý giai đoạn này chịu sự tác động sâu sắc từ Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật và Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật.
Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã quán triệt nguyên tắc chuyển đổi từ tư duy “quản lý hành chính” sang “phục vụ phát triển” (Nghị quyết số 29/ NQ-CP ngày 24/2/2026 của Chính phủ). Điểm nhấn lớn nhất là sự từ bỏ dứt khoát lối mòn tư duy “không quản được thì cấm”. Thay vào đó, hệ thống pháp luật hướng tới việc nới lỏng kiểm soát tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm, và giảm gánh nặng tuân thủ ở mức tối đa cho người dân lẫn cộng đồng doanh nghiệp.
Cột mốc pháp lý quan trọng nhất trong những tháng đầu năm 2026 là việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 12/02/2026 về Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030. Văn bản chiến lược này tái cấu trúc toàn diện lộ trình cải cách hành chính với các mục tiêu định lượng khắt khe; đóng vai trò là “kim chỉ nam”, buộc các bộ, ngành và địa phương phải xây dựng các bộ chỉ số đánh giá thực chất, công khai kết quả xử lý và mức độ hài lòng của người dân theo thời gian thực và chính sách này dịch chuyển hệ thống dịch vụ công từ vùng “hiệu năng thấp” tiến thẳng sang mô hình “quản trị xuất sắc”. Trên cơ sở Quyết định số 282/QĐ-TTg, các bộ, ngành đã ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030 tương ứng. Tiêu biểu như Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1419/QĐ-BTC ngày 10/6/2026 với trọng tâm: (i) Tiếp tục quán triệt, thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đẩy mạnh triển khai, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ tại Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, Quyết định số 282/ QĐ-TTg ngày 12/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030; (ii) Cải cách hành chính phải gắn liền với việc thực hiện Chiến lược tài chính đến năm 2030…; (iii) Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xác định cải cách thủ tục hành chính là giải pháp then chốt nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước...; (iv) Nâng cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị; tăng cường đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả cải cách hành chính, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2030.
Các trọng tâm chính sách cải cách TTHC nổi bật thể hiện trong 6 tháng đầu năm 2026 gồm:
- Sửa đổi luật toàn diện: Chính phủ đã giao các bộ trình ban hành những Nghị quyết điều chỉnh gần 50 đạo luật, qua đó bãi bỏ và cắt giảm hàng chục ngành nghề kinh doanh có điều kiện và thủ tục đầu tư không cần thiết (đơn cử như việc bãi bỏ 10 TTHC trong lĩnh vực đầu tư) (Báo Chính phủ, 2026).
- Thực thi 11 Nghị quyết trọng điểm: Các bộ ngành đã tích cực triển khai các nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa tối đa các điều kiện kinh doanh, phân cấp mạnh mẽ quyền giải quyết công việc cho các cấp địa phương (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
- Quản trị dựa trên dữ liệu và số hóa: Thủ tướng Chính phủ nghiêm cấm các cơ quan tự ý ban hành thêm TTHC hoặc điều kiện kinh doanh mới. Việc cải cách chuyển trọng tâm từ Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, lấy người dân và dữ liệu làm trung tâm (Tiến Dũng, 2026).
- Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo: Quán triệt tiêu chí “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền) (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Điển hình như tại Hà Nội, thành phố đã áp dụng Kế hoạch cải cách hành chính 2026 đặt trọng tâm vào việc đơn giản hóa thủ tục, hướng tới sự hài lòng của cộng đồng.
Làn sóng cắt giảm, đơn giản hóa TTHC và điều kiện kinh doanh quy mô lớn: 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận các hành động pháp lý quyết liệt nhằm gỡ bỏ rào cản hành chính. Chiến dịch cắt giảm toàn diện (Báo Chính phủ, 2026): Cuối tháng 4/2026, Chính phủ ban hành 8 Nghị quyết chuyên đề nhằm đơn giản hóa TTHC và điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực trọng điểm như đất đai, đầu tư, xây dựng.
- Điểm nhấn từ ngành Tài chính (Báo cáo của Bộ Tài chính, 2026): Thực hiện Kết luận số 18-KL/ TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV và Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ, tính từ ngày 26/3/2025 đến ngày 31/5/2026, Bộ Tài chính đã hoàn thành việc cắt giảm, đơn giản hóa 797/962 thủ tục hành chính, đạt 82,84%, trong đó cắt giảm 237 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 560 thủ tục hành chính. Đồng thời, Bộ đã thực hiện cắt giảm 139/363 điều kiện kinh doanh, đạt 38,29%. Việc cắt giảm, đơn giản hóa các TTHC và ĐKKD đã góp phần giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Tổng thời gian giải quyết thủ tục được cắt giảm là 6.622/12.288 ngày, tương ứng 53,88%; tổng chi phí tuân thủ được cắt giảm là 39.407,1/75.430 tỷ đồng, tương ứng 52,24%. Kết quả nêu trên cho thấy Bộ Tài chính đã hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu về cải cách TTHC và ĐKKD theo yêu cầu của Trung ương và Chính phủ.
Bên cạnh đó, thông qua việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, số lượng thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ tiếp tục được tinh gọn. Tính đến ngày 31/5/2026, tổng số thủ tục hành chính còn hiệu lực thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính là 694 thủ tục, giảm 307 thủ tục so với thời điểm tháng 01/2025 và giảm 266 thủ tục so với thời điểm ngày 01/3/2025. Đây là kết quả quan trọng, thể hiện hiệu quả của việc lồng ghép yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính.
- Lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường: Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP bãi bỏ và đơn giản hóa điều kiện kinh doanh trong 15 lĩnh vực trọng yếu (đất đai, lâm nghiệp, thủy sản, tài nguyên nước...). Đáng chú ý là việc phân cấp thẩm quyền cấp phép nuôi trồng thủy sản từ Trung ương về địa phương.
- Lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Nghị quyết số 18/2026/NQ-CP cắt giảm, đơn giản hóa và phân cấp hàng chục thủ tục liên quan đến biểu diễn nghệ thuật, quảng cáo, mạng xã hội và trò chơi điện tử.
- Bộ Công Thương: Thông tư số 26/2026/TT-BCT cắt giảm thủ tục trong 8 lĩnh vực, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập thị trường.
- Các lĩnh vực Đầu tư, Xây dựng và Đất đai: Được tích hợp trong hệ thống các văn bản cải cách nhằm dỡ bỏ các thủ tục chồng chéo, cắt giảm mạnh các ngành nghề kinh doanh có điều kiện và tăng tính chủ động cho chính quyền địa phương.
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN VÀ DOANH NGHIỆP
Hiệu quả cải cách thủ tục hành chính đối với người dân
Thứ nhất, về cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ công.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, một trong những kết quả nổi bật của cải cách TTHC là việc mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và tăng khả năng tiếp cận của người dân. Cổng Dịch vụ công quốc gia tiếp tục được hoàn thiện, tích hợp thêm nhiều thủ tục thuộc các lĩnh vực thiết yếu như hộ tịch, cư trú, bảo hiểm xã hội, cấp căn cước công dân, y tế và giáo dục. Việc số hóa hồ sơ và triển khai định danh điện tử đã giúp người dân giảm đáng kể việc phải nộp lại giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Thứ hai, về giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục.
Hiệu quả cải cách thể hiện rõ qua việc giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính. Nhiều thủ tục trước đây phải mất từ 3 - 5 ngày hoặc thậm chí 1 - 2 tuần, nay có thể giải quyết trong 1 - 2 ngày hoặc xử lý trực tuyến ngay trên hệ thống. Đặc biệt, mô hình “một cửa điện tử” và “một cửa liên thông” tiếp tục phát huy hiệu quả. Người dân chỉ cần nộp hồ sơ tại một điểm duy nhất hoặc trên môi trường trực tuyến, sau đó hệ thống tự động chuyển xử lý giữa các cơ quan liên quan. Theo chỉ đạo của Chính phủ năm 2026, mục tiêu đặt ra là 100% kết quả giải quyết TTHC được cung cấp dưới dạng điện tử và tối thiểu 80% dữ liệu được tái sử dụng (Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026).
Thứ ba, về nâng cao mức độ hài lòng của người dân.
Kết quả Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025 (SIPAS 2025) (Báo Chính phủ, 2026) do Bộ Nội vụ công bố: SIPAS 2025 đạt 83,09%, giảm nhẹ so với năm trước. Điều này cho thấy người dân ngày càng được chủ động và nhận thức rõ ràng về quyền lợi, đánh giá tích cực hơn về thái độ phục vụ, tính minh bạch và hiệu quả giải quyết hồ sơ của cơ quan hành chính.
Trong bảng xếp hạng 34 tỉnh, thành phố có Hải Phòng, Quảng Ninh và Đồng Nai là 3 địa phương dẫn đầu, đã triển khai mạnh mẽ việc số hóa quy trình xử lý hồ sơ, công khai tiến độ giải quyết trên hệ thống điện tử, giúp người dân dễ dàng theo dõi trạng thái xử lý và hạn chế tình trạng chậm trễ.
Hiệu quả cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, về cải thiện môi trường kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp, cải cách TTHC trong 6 tháng đầu năm 2026 có tác động trực tiếp đến việc giảm chi phí gia nhập thị trường, đơn giản hóa quy trình cấp phép và rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục liên quan đến đầu tư, thuế, hải quan và đăng ký kinh doanh. Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết và chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” đã tạo thuận lợi đáng kể cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo định hướng cải thiện môi trường kinh doanh, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường năm 2026 dự kiến tăng 15 - 20% so với năm trước (Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026).
Thứ hai, về giảm chi phí tuân thủ và tăng tính minh bạch.
Một trong những lợi ích rõ rệt của cải cách TTHC là giảm chi phí không chính thức và tăng tính minh bạch trong giải quyết hồ sơ. Việc áp dụng dịch vụ công trực tuyến toàn trình giúp doanh nghiệp hạn chế tiếp xúc trực tiếp với cơ quan hành chính, từ đó giảm nguy cơ phát sinh tiêu cực. Ngoài ra, việc liên thông dữ liệu giữa các cơ quan thuế, hải quan, kế hoạch đầu tư và bảo hiểm xã hội giúp doanh nghiệp không phải nộp lại nhiều loại giấy tờ trùng lặp.
Thứ ba, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Cải cách TTHC có vai trò quan trọng trong nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Theo các mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, chỉ số PCI trung vị toàn quốc năm 2026 được định hướng tăng khoảng 1 điểm so với mức 63,90 điểm của năm 2025. Sự điều chỉnh này phản ánh nỗ lực không ngừng của chính quyền các cấp nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ và nâng cao năng lực cạnh tranh (Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026). Một số địa phương như thành phố Hải Phòng đặt mục tiêu nằm trong top đầu cả nước về PCI, PAR Index và chuyển đổi số, thể hiện quyết tâm cải cách mạnh mẽ ở cấp địa phương.
Một số tồn tại, hạn chế
Trong 6 tháng đầu năm 2026, mặc dù Chính phủ Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh cải cách TTHC gắn với chuyển đổi số, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, nhưng thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đáng chú ý. Những hạn chế này không chỉ làm giảm hiệu quả cải cách mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp khi tiếp cận dịch vụ công. Theo định hướng cải cách hành chính năm 2026, Chính phủ tiếp tục đặt mục tiêu cải thiện các chỉ số PCI, PAR Index và SIPAS, trong đó mức trung bình cả nước của SIPAS đạt khoảng 86% và PCI trung vị tăng 1 điểm so với năm trước, phản ánh nỗ lực cải thiện môi trường hành chính nhưng đồng thời cũng cho thấy dư địa cải cách vẫn còn lớn (Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026).
Mặc dù 6 tháng đầu năm, cả nước đã có những thành tích nổi bật trong cải cách thủ tục hành chính, nhưng vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục.
Một là, những hạn chế nổi bật là tình trạng cải cách không đồng đều giữa các địa phương, dẫn đến chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp chưa thống nhất trên phạm vi cả nước. Điều này dẫn đến sự chênh lệch lớn trong trải nghiệm dịch vụ công, làm giảm tính công bằng trong tiếp cận chính sách hành chính.
Hai là, hạn chế về liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin tiếp tục là điểm nghẽn quan trọng. Nhiều thủ tục hành chính vẫn yêu cầu người dân cung cấp lại giấy tờ đã có trong hệ thống, làm phát sinh tình trạng “số hóa hình thức”. Điều này không chỉ làm tăng thời gian xử lý hồ sơ mà còn gây bức xúc cho người dân và doanh nghiệp do chưa cảm nhận rõ lợi ích của chuyển đổi số.
Ba là, hệ thống pháp luật liên quan đến thủ tục hành chính còn phức tạp và thường xuyên thay đổi, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện. Số lượng văn bản pháp luật ban hành trong thời gian gần đây vẫn ở mức cao, kéo theo việc phải sửa đổi, cập nhật quy trình hành chính liên tục ở các cấp chính quyền. Tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các văn bản khiến cán bộ thực thi lúng túng, còn người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc nắm bắt quy định mới. Điều này làm tăng chi phí tuân thủ pháp luật, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn có nguồn lực hạn chế.
Bốn là, năng lực thực thi của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu cải cách và chuyển đổi số cũng là nguyên nhân quan trọng. Một số cán bộ còn lúng túng trong việc xử lý hồ sơ điện tử, dẫn đến tình trạng hồ sơ bị chậm trễ hoặc phải xử lý thủ công song song với hệ thống điện tử. Bên cạnh đó, tâm lý e ngại thay đổi phương thức làm việc truyền thống cũng khiến quá trình cải cách chưa đạt được tốc độ như kỳ vọng.
Năm là, hạn chế về hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ cũng góp phần làm chậm tiến trình cải cách. Tình trạng nghẽn mạng, lỗi hệ thống hoặc thiếu đồng bộ phần mềm giữa các cơ quan vẫn xảy ra, làm gián đoạn quá trình xử lý hồ sơ trực tuyến. Điều này buộc người dân đôi khi phải quay lại phương thức nộp hồ sơ trực tiếp, làm giảm hiệu quả của cải cách TTHC.
Ngoài ra, vẫn còn một bộ phận người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn, chưa quen với việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến, dẫn đến tỷ lệ hồ sơ trực tuyến chưa đạt kỳ vọng. Trong khi đó, một số cơ quan hành chính vẫn có xu hướng ưu tiên xử lý hồ sơ giấy do lo ngại sai sót kỹ thuật hoặc thiếu tin tưởng hoàn toàn vào hệ thống điện tử. Điều này khiến quá trình chuyển đổi từ hành chính truyền thống sang hành chính số diễn ra chậm hơn so với mục tiêu đề ra.
Bên cạnh đó, cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả cải cách TTHC chưa thực sự gắn chặt với trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan hành chính. Mặc dù các chỉ số như PAR Index, SIPAS và PCI đã phản ánh kết quả cải cách, nhưng việc sử dụng các chỉ số này trong đánh giá trách nhiệm điều hành chưa đồng đều giữa các địa phương. Điều này làm giảm động lực cải cách ở một số nơi, dẫn đến tình trạng triển khai mang tính hình thức hoặc chưa thực sự quyết liệt.
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN VÀ DOANH NGHIỆP TRONG THỜI GIAN TỚI
Trong bối cảnh 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều kết quả tích cực nhưng chưa đồng đều trong cải cách TTHC, giai đoạn 6 tháng cuối năm 2026 được xác định là thời điểm có ý nghĩa then chốt nhằm tăng tốc cải cách, khắc phục các điểm nghẽn và nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở định hướng xuyên suốt của Chính phủ tại Nghị quyết số 76/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, cùng các chương trình cải thiện môi trường kinh doanh và chuyển đổi số quốc gia, hệ thống giải pháp cần được triển khai một cách đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm và gắn với trách nhiệm giải trình của từng cơ quan, đơn vị.
Thứ nhất, giải pháp mang tính nền tảng là tiếp tục hoàn thiện thể chế và đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng thực chất, giảm tầng nấc và chi phí tuân thủ.
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong giải quyết thủ tục hành chính là giải pháp có tính đột phá.
Cần tập trung hoàn thiện mô hình “một cửa số thống nhất”, bảo đảm người dân và doanh nghiệp chỉ cần truy cập một hệ thống duy nhất để thực hiện toàn bộ thủ tục hành chính. Đồng thời, việc tích hợp dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thuế, bảo hiểm xã hội, đất đai và đăng ký doanh nghiệp cần được đẩy nhanh để thực hiện triệt để nguyên tắc “khai một lần, sử dụng nhiều lần”.
Thứ ba, tăng cường đầu tư và nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm tính ổn định, an toàn và an ninh dữ liệu.
Ưu tiên đầu tư nâng cấp trung tâm dữ liệu, hệ thống máy chủ và đường truyền tốc độ cao, đồng thời chuẩn hóa nền tảng tích hợp dữ liệu quốc gia. Bên cạnh đó, vấn đề bảo mật thông tin cá nhân của người dân và doanh nghiệp cần được đặc biệt chú trọng trong bối cảnh số hóa sâu rộng. Việc xây dựng hệ thống bảo mật nhiều lớp, giám sát an ninh mạng và quy trình sao lưu dữ liệu định kỳ là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm niềm tin của người sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố quyết định hiệu quả cải cách TTHC.
Cần tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng sử dụng hệ thống dịch vụ công điện tử, đồng thời nâng cao kỹ năng giao tiếp hành chính và tinh thần phục vụ nhân dân; gắn kết quả cải cách TTHC với đánh giá thi đua, khen thưởng và xử lý trách nhiệm của cán bộ, công chức. Việc sử dụng các chỉ số như PAR Index, SIPAS và PCI làm thước đo hiệu quả thực thi sẽ tạo áp lực cải cách thực chất.
Thứ năm, tăng cường hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong tiếp cận dịch vụ công trực tuyến.
Cần thiết lập các điểm hỗ trợ dịch vụ công tại cấp xã, phường, nơi người dân có thể được hướng dẫn trực tiếp khi thực hiện thủ tục. Đồng thời, đơn giản hóa giao diện của Cổng Dịch vụ công quốc gia, tăng cường hướng dẫn trực quan bằng video, biểu mẫu điện tử và trợ lý ảo để hỗ trợ người dùng. Đối với doanh nghiệp, tiếp tục mở rộng phạm vi dịch vụ công trực tuyến toàn trình trong các lĩnh vực như thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh, đầu tư, xây dựng và đất đai. Theo định hướng cải thiện môi trường kinh doanh năm 2026, mục tiêu là giảm tối đa thời gian gia nhập thị trường và chi phí tuân thủ pháp luật, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ sáu, tăng cường công khai, minh bạch và giám sát quá trình giải quyết TTHC là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao niềm tin của người dân và doanh nghiệp. Việc công khai tiến độ xử lý hồ sơ trên môi trường điện tử giúp người dân dễ dàng theo dõi, đồng thời hạn chế tình trạng chậm trễ hoặc gây phiền hà. Các chỉ số đánh giá như PCI, SIPAS và PAR Index cần được sử dụng hiệu quả hơn trong giám sát và xếp hạng chất lượng điều hành của các cơ quan hành chính.
Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò giám sát của người dân thông qua các nền tảng phản ánh kiến nghị trực tuyến, bảo đảm mọi phản ánh đều được tiếp nhận và xử lý kịp thời. Đây là cơ chế quan trọng để nâng cao tính trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước.
Thứ bảy, tăng cường phối hợp liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương. Một trong những nguyên nhân khiến cải cách TTHC chưa đạt hiệu quả cao là do thiếu sự phối hợp trong chia sẻ dữ liệu và xử lý liên ngành. Do đó, cần xây dựng cơ chế điều phối thống nhất về dữ liệu, bảo đảm các hệ thống thông tin được kết nối thông suốt. Việc liên thông hiệu quả sẽ giúp giảm đáng kể thời gian xử lý hồ sơ và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Nhìn chung, trong thời gian tới, để tạo bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính phục vụ người dân và doanh nghiệp, cần triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới về công nghệ, thể chế và quản trị cụ thể như: Cần tăng cường ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và tự động hóa trong toàn bộ quy trình tiếp nhận, xử lý, phê duyệt và trả kết quả hồ sơ nhằm giảm thời gian, chi phí và hạn chế sai sót. Song song với đó, cần hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương theo nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, chấm dứt tình trạng yêu cầu người dân và doanh nghiệp cung cấp lại thông tin đã có. Bên cạnh đó, cần mở rộng dịch vụ công trực tuyến toàn trình, thanh toán điện tử, ký số và định danh điện tử trên mọi nền tảng để mọi thủ tục có thể thực hiện mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời, cần công khai tiến độ xử lý hồ sơ theo thời gian thực, thiết lập hệ thống đánh giá mức độ hài lòng ngay sau khi hoàn thành thủ tục và gắn kết quả cải cách với trách nhiệm của người đứng đầu từng cơ quan. Những giải pháp này sẽ góp phần xây dựng nền hành chính số hiện đại, minh bạch, chuyên nghiệp, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng phục vụ.
Tài liệu tham khảo:
1. Báo điện tử Chính phủ (2026). Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 4/2026: Làm rõ nhiều vấn đề về cải cách thủ tục hành chính, xử lý “điểm nghẽn” thể chế. https://baochinhphu.vn/hop-bao-chinh-phu-thuong-ky-thang-4-2026-lam-ro-nhieu-van-de-ve-cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh-xu-ly-diem-nghen-the-che.
2. Bộ Tài chính (2026). Quyết định số 1419/QĐ-BTC ngày 10/6/2026 ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
3. Bộ Tài chính (2026). Báo cáo công tác cải cách hành chính 6 tháng đầu năm 2026 của Bộ Tài chính số 8440/BTC-VP ngày 19/6/2026.
4. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Lấy hiệu quả công việc làm thước đo, https://dangcongsan.org.vn/xay-dung-dang/ lay-hieu-qua-cong-viec-lam-thuoc-do.html.
6. Tiến Dũng (2026). Chuyển đổi số phải lấy người dân làm trung tâm và động lực, https://vneconomy.vn/thu-tuong-chuyen-doi-so-phai-lay-nguoi-dan-lam-trung-tam-va-dong-luc.htm.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026 |
Tin tức khác
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững
Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp
Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng và định hướng
Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực III kịp thời phổ biến, giáo dục pháp luật
Cảnh báo chiêu giả danh cơ quan nhà nước cài ứng dụng độc hại để chiếm đoạt tiền
PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính
PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất
INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững
Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển đất nước
Bài 1: Chính phủ hành động: Mở đường cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Lắng nghe từ thực tiễn để hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất)
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số
Đi tìm lời giải cho bài toán xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo thuận lợi cho lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh
Muốn tăng trưởng xanh phải đặt con người vào trung tâm chính sách








