eMagazine

EMAGAZINE: Kỷ luật chính sách và bài toán phân bổ nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế

07:30 | 29/06/2026

Phóng viên: Theo các chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, GDP phấn đấu tăng từ 10% trở lên. Mới đây, Chính phủ đã cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm cho những quý còn lại của năm, trong đó tăng trưởng GDP 6 tháng cuối năm được đặt ra ở mức khoảng 11,9% để thực hiện mục tiêu cả năm. Trong khi đó, GDP quý I/2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ. Theo bà, mục tiêu tăng trưởng cao trong bối cảnh hiện nay nên được nhìn nhận như thế nào?

TS. Nguyễn Thị Hoa: Tăng trưởng cao không nên được hiểu đơn thuần là tạo ra một con số GDP ấn tượng trong ngắn hạn. Với kịch bản tăng trưởng 6 tháng cuối năm ở mức cao, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng tốc, mà là tăng tốc có chất lượng, phù hợp với khả năng hấp thụ của nền kinh tế và không đánh đổi ổn định vĩ mô Điều quan trọng hơn là tăng trưởng đó đến từ đâu, có tạo thêm năng lực sản xuất thực chất hay không, có cải thiện năng suất hay không, có làm cho khu vực doanh nghiệp vững hơn hay không, và có giúp đời sống người dân được cải thiện một cách thực chất hay không.

GDP quý I/2026 ước tăng 7,83% cho thấy nền kinh tế vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Nhưng nếu đặt trong tương quan với mục tiêu cả năm từ 10% trở lên, và kịch bản 6 tháng cuối năm cần tăng 11,9%, có thể thấy yêu cầu nỗ lực trong các quý còn lại là đáng kể. Trong bối cảnh đó, vấn đề không chỉ là thúc đẩy tổng cầu trong ngắn hạn, mà còn là mở rộng năng lực tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế.

Nếu tăng trưởng đến từ mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ, tăng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thì đó là tăng trưởng có chất lượng. 

Ngược lại, nếu tăng trưởng dựa quá nhiều vào mở rộng tín dụng theo chiều rộng, đầu tư dàn trải hoặc kích cầu ngắn hạn, trong khi năng suất và hiệu quả đầu tư không cải thiện tương ứng, thì các rủi ro vĩ mô có thể xuất hiện và cần được nhận diện, theo dõi thận trọng.

Phóng viên: Trong bối cảnh vừa đặt mục tiêu tăng trưởng cao, vừa đặt mục tiêu kiểm soát CPI bình quân khoảng 4,5%, theo bà, đâu là ranh giới giữa hỗ trợ tăng trưởng cần thiết và mức hỗ trợ có thể vượt quá khả năng hấp thụ của nền kinh tế - vốn có thể tạo sức ép lên ổn định vĩ mô?

TS. Nguyễn Thị Hoa: Trong điều hành kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng là cần thiết, nhất là khi nền kinh tế cần củng cố đà tăng trưởng, mở rộng sản xuất và tạo thêm việc làm. Tuy nhiên, mức độ hỗ trợ phải phù hợp với khả năng hấp thụ của nền kinh tế và yêu cầu giữ ổn định vĩ mô. Ranh giới nằm ở chỗ chính sách có tạo thêm năng lực sản xuất, năng suất và niềm tin thị trường hay chỉ tạo thêm sức cầu ngắn hạn.

Theo tôi, điều hành vĩ mô cần dựa trên sự phối hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, đặc biệt là nâng cao hiệu quả đầu tư công, cùng với cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh. Chính sách tiền tệ có thể góp phần duy trì thanh khoản hệ thống, ổn định mặt bằng lãi suất hợp lý và định hướng tín dụng vào các khu vực sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, nhưng không nên để áp lực hỗ trợ tăng trưởng dồn quá nhiều vào tín dụng. Nếu tín dụng tăng nhanh nhưng chất lượng tín dụng không được kiểm soát tương ứng, rủi ro nợ xấu, rủi ro trên thị trường tài sản và mất cân đối tài chính có thể gia tăng.

Phóng viên: CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản tăng 4,04%, trong khi mục tiêu CPI bình quân cả năm khoảng 4,5%. Diễn biến này cho thấy điều gì về dư địa điều hành trong nửa cuối năm?

TS. Nguyễn Thị Hoa: Khi CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước và lạm phát cơ bản tăng 4,04%, trong khi mục tiêu CPI bình quân cả năm khoảng 4,5%, có thể thấy dư địa điều hành để vừa kiểm soát lạm phát vừa hỗ trợ tăng trưởng không còn rộng. Vì vậy, chính sách cần được tính toán thận trọng, linh hoạt và phối hợp chặt chẽ hơn. Điều này không có nghĩa là phải lo ngại quá mức, nhưng cũng không nên chủ quan.

Ở góc độ điều hành, kiểm soát lạm phát không nên được nhìn nhận như một vấn đề kỹ thuật riêng của chính sách tiền tệ. Nếu chỉ dựa vào các công cụ tiền tệ như lãi suất, thanh khoản hoặc kiểm soát tín dụng để xử lý mọi áp lực giá, chi phí đối với tăng trưởng có thể lớn. 

Lạm phát cần được kiểm soát bằng sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, điều hành giá phù hợp đối với một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do Nhà nước quản lý, bảo đảm nguồn cung, giảm chi phí logistics và truyền thông chính sách rõ ràng, nhất quán để ổn định kỳ vọng thị trường.

Phóng viên: Cán cân thương mại hàng hóa 5 tháng đầu năm 2026 chuyển sang nhập siêu 13,8 tỷ USD, nhưng nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch nhập khẩu. Tín hiệu nhập siêu này như thế nào, thưa bà?

TS. Nguyễn Thị Hoa: Nhập siêu cần được phân tích thận trọng, không nên mặc định là tiêu cực, nhưng cũng không nên xem nhẹ tác động đối với ổn định vĩ mô. Điều quan trọng là phải nhìn vào quy mô nhập siêu, cơ cấu hàng nhập khẩu, mục đích nhập khẩu và khả năng chuyển hóa phần nhập khẩu này thành năng lực sản xuất, năng lực xuất khẩu trong các kỳ sau.

Trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt 445,12 tỷ USD, tăng 25,0% so với cùng kỳ năm trước. Do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân thương mại hàng hóa chuyển sang nhập siêu 13,8 tỷ USD. Đây là con số cần theo dõi, nhất là trong bối cảnh Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, hoạt động thương mại quốc tế có quan hệ chặt chẽ với sản xuất, việc làm, tỷ giá và lạm phát nhập khẩu.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào con số nhập siêu tuyệt đối thì chưa đủ. Điểm đáng chú ý là nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 215,99 tỷ USD, chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2026. Trong đó, nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và nhóm nguyên, nhiên, vật liệu lần lượt chiếm 55,7% và 38,4% tổng kim ngạch nhập khẩu. 

Cơ cấu nhập khẩu cho thấy phần lớn hàng nhập khẩu có liên quan trực tiếp đến sản xuất, đầu tư và mở rộng năng lực sản xuất. Tuy nhiên, tác động tích cực của nhập khẩu tư liệu sản xuất chỉ thực sự rõ nét nếu phần nhập khẩu này được chuyển hóa hiệu quả thành năng lực sản xuất, năng suất và khả năng xuất khẩu trong thời gian tới.

Phóng viên: Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao có thể tạo áp lực mở rộng tín dụng, trong khi thanh khoản hệ thống ngân hàng và mặt bằng lãi suất vẫn cần được theo dõi thận trọng, đâu là rủi ro doanh nghiệp dễ bỏ qua nhất?

TS. Nguyễn Thị Hoa: Với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, rủi ro dễ bị bỏ qua nhất là rủi ro dòng tiền. Một doanh nghiệp có thể có doanh thu tăng, lợi nhuận kế toán dương, nhưng vẫn rơi vào căng thẳng thanh khoản nếu công nợ phải thu kéo dài, tồn kho lớn, chi phí vốn tăng hoặc khách hàng thanh toán chậm. Trong thực tế quản trị, lợi nhuận kế toán không thay thế được dòng tiền. Doanh nghiệp có thể báo lãi nhưng vẫn thiếu tiền để trả nợ, trả lương, thanh toán cho nhà cung cấp hoặc duy trì hoạt động thường xuyên.

Doanh nghiệp cần rà soát ít nhất bốn nhóm rủi ro. Một là rủi ro lãi suất, tức khả năng chi phí vay tăng lên hoặc điều kiện tín dụng chặt hơn. Hai là rủi ro tỷ giá, đặc biệt với doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu hoặc vay ngoại tệ. Ba là rủi ro thanh khoản, khi dòng tiền vào không khớp với nghĩa vụ thanh toán. Bốn là rủi ro thị trường đầu ra, khi sức mua trong nước phục hồi không như kỳ vọng hoặc đơn hàng xuất khẩu biến động.

Tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy tăng trưởng doanh thu sang tư duy tăng trưởng có kiểm soát. Điều quan trọng là bảo toàn thanh khoản, kiểm soát đòn bẩy, bảo vệ năng lực cốt lõi, nâng chất lượng quản trị và chuẩn bị năng lực để nắm bắt cơ hội khi chu kỳ thị trường thuận lợi hơn. Doanh nghiệp nào kiểm soát tốt dòng tiền, có cấu trúc tài chính lành mạnh và có khả năng thích ứng với biến động sẽ có lợi thế lớn hơn trong trung và dài hạn.

Phóng viên: Trong bối cảnh giá vàng và một số loại tài sản có thời điểm biến động mạnh, người dân dễ bị cuốn vào tâm lý sợ bỏ lỡ cơ hội. Theo bà, sai lầm tài chính cá nhân phổ biến nhất trong bối cảnh này là gì?

TS. Nguyễn Thị Hoa: Sai lầm phổ biến nhất là nhầm lẫn giữa đầu tư và phản ứng theo đám đông. Khi giá vàng, chứng khoán, bất động sản hoặc một loại tài sản nào đó tăng nhanh, nhiều người không còn ra quyết định dựa trên mục tiêu tài chính, khả năng chịu rủi ro và hiểu biết của bản thân, mà ra quyết định vì sợ bị bỏ lỡ cơ hội. Đây là trạng thái rất dễ dẫn đến rủi ro tài chính cá nhân.

Một nguyên tắc quan trọng đối với tài chính hộ gia đình là phân bổ tài sản phù hợp với mục tiêu và khả năng chịu rủi ro. Trước khi nghĩ đến đầu tư, mỗi gia đình cần bảo đảm ba nền tảng: duy trì quỹ dự phòng thanh khoản, kiểm soát nợ vay và quản lý ngân sách chi tiêu hợp lý. Nếu ba nền tảng này chưa vững, việc chạy theo vàng, chứng khoán, bất động sản hoặc các sản phẩm tài chính được quảng bá với mức lợi nhuận cao bất thường có thể làm gia tăng rủi ro thay vì bảo vệ tài sản.

Rủi ro tài chính cá nhân nhiều khi không đến từ việc không biết đầu tư, mà đến từ việc đầu tư vượt quá hiểu biết, vượt quá khả năng chịu lỗ và vượt quá năng lực kiểm chứng thông tin. Khi thị trường biến động mạnh, người dân càng cần chậm lại trước mỗi quyết định tài chính lớn và tự hỏi: mình mua tài sản này vì mục tiêu gì, nắm giữ trong bao lâu, nếu giá giảm thì có chịu được không, tiền đầu tư có phải là tiền vay hay tiền dự phòng sinh hoạt không.

Nhìn rộng hơn, kỷ luật trong điều hành chính sách, năng lực chống chịu của doanh nghiệp và kỷ luật tài chính hộ gia đình là những nền tảng quan trọng để tăng trưởng cao được duy trì bền vững hơn trong khuôn khổ ổn định vĩ mô.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!

Thu Hương - Dương Hưng