Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số
Lam Anh
Văn phòng Bộ Tài chính
Email: nguyenngoccham@mof.gov.vn
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và chuyển đổi số toàn diện, cải cách thủ tục hành chính (TTHC) ngày càng gắn trực tiếp với hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực cạnh tranh quốc gia. Với phạm vi quản lý trải rộng trên các lĩnh vực thuế, hải quan, chứng khoán, bảo hiểm, đầu tư, kế toán - kiểm toán và tài sản công, cải cách TTHC trong lĩnh vực tài chính có tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và đời sống người dân.
YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Trong nhiều năm, cải cách TTHC chủ yếu được đo bằng số lượng thủ tục được cắt giảm hoặc đơn giản hóa. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc giảm đầu mục thủ tục chưa đồng nghĩa với việc giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Dù nhiều quy trình đã được điện tử hóa, không ít thủ tục vẫn yêu cầu cung cấp lặp lại thông tin, phụ thuộc vào hồ sơ giấy hoặc phải qua nhiều khâu xác nhận trung gian. Trong một số trường hợp, thời gian xử lý thực tế vẫn kéo dài hơn đáng kể so với quy định do quy trình phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ hoặc dữ liệu chưa được kết nối hiệu quả.
Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí tuân thủ không chỉ nằm ở lệ phí hay thời gian xử lý hồ sơ mà còn bao gồm chi phí nhân lực, chi phí cơ hội và cả tính bất định trong quá trình thực hiện thủ tục. Một quy trình kéo dài hoặc thiếu thống nhất có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ đầu tư, vòng quay dòng tiền và kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Ở góc độ rộng hơn, TTHC không đơn thuần là vấn đề hành chính mà là một dạng “chi phí giao dịch” của nền kinh tế. Một nền hành chính xử lý chậm không chỉ làm doanh nghiệp mất thời gian mà còn làm tăng chi phí vốn, kéo dài chu kỳ đầu tư và làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực. Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng lớn, tốc độ xử lý thủ tục, mức độ minh bạch và khả năng dự đoán chính sách đang trở thành những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh quốc gia. Chính vì vậy, yêu cầu cải cách hiện nay không còn dừng ở việc “bớt giấy tờ” hay rút ngắn thời hạn giải quyết trên quy định, mà là giảm thực chất chi phí giao dịch thông qua việc thay đổi cách thức vận hành của hệ thống quản lý nhà nước.
Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ đã đặt ra yêu cầu rõ ràng đối với các bộ, ngành trong việc rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC và điều kiện kinh doanh; phấn đấu giảm tối thiểu 30% thời gian giải quyết thủ tục, 30% chi phí tuân thủ và 30% điều kiện kinh doanh không cần thiết. Điểm đáng chú ý của yêu cầu này là trọng tâm không còn nằm ở số lượng thủ tục được sửa đổi, mà ở hiệu quả thực thi và mức độ giảm chi phí thực tế đối với người dân, doanh nghiệp.
Trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước, Bộ Tài chính là cơ quan quản lý nhà nước có phạm vi quản lý rộng, với hệ thống TTHC trải dài trên nhiều lĩnh vực như thuế, hải quan, chứng khoán, bảo hiểm, đầu tư, kế toán - kiểm toán, quản lý tài sản công (Bộ Tài chính, 2025). Các lĩnh vực này đều gắn trực tiếp với hoạt động của doanh nghiệp và dòng vận động của nền kinh tế. Vì vậy, hiệu quả cải cách trong lĩnh vực tài chính không chỉ tác động đến hoạt động của từng doanh nghiệp riêng lẻ mà còn ảnh hưởng tới tốc độ lưu chuyển nguồn lực và môi trường đầu tư kinh doanh nói chung.
TỪ “CẮT GIẢM CƠ HỌC” SANG TÁI CẤU TRÚC QUY TRÌNH
Giai đoạn đầu của cải cách TTHC tập trung nhiều vào cắt giảm đầu mục thủ tục và điện tử hóa quy trình hiện hữu. Tuy nhiên, khi số lượng thủ tục đã giảm đến một ngưỡng nhất định, dư địa cải cách không còn nằm chủ yếu ở việc bãi bỏ thêm hồ sơ hay rút ngắn thời hạn xử lý trên văn bản, mà ở khả năng thay đổi mô hình vận hành của bộ máy quản lý.
Thời gian qua, Bộ Tài chính đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực quản lý. Theo báo cáo tình hình và kết quả công tác cải cách TTHC tháng 5 của Bộ Tài chính (Bộ Tài chính, 2026), từ khi triển khai Nghị quyết số 66/NQ-CP đến nay, khoảng 734/962 TTHC đã được cắt giảm, đơn giản hóa; hơn 6.300 ngày xử lý thủ tục được cắt giảm, tương ứng mức tiết kiệm chi phí tuân thủ khoảng 39,4 nghìn tỷ đồng cho người dân và doanh nghiệp.
Để thực hiện các phương án cải cách, Bộ Tài chính đã ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành 26 văn bản quy phạm pháp luật gồm luật, nghị định và thông tư nhằm thực thi các phương án đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh theo Quyết định số 2421/QĐ-BTC và Quyết định số 1848/QĐ-TTg.
Điểm thay đổi đáng chú ý là việc cắt giảm TTHC hiện nay được triển khai đồng thời với rà soát lại quy trình quản lý, cơ chế phối hợp và phương thức kiểm soát. Điều này cho thấy cải cách đang chuyển từ tư duy “giảm đầu việc” sang thay đổi cách thức vận hành của quy trình hành chính. Song song với cắt giảm TTHC, Bộ Tài chính cũng đẩy mạnh rà soát, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh trong nhiều lĩnh vực như chứng khoán, bảo hiểm, thuế, hải quan và dịch vụ tài chính. Đến nay, 101 điều kiện kinh doanh đã được cắt giảm hoặc đơn giản hóa (Bộ Tài chính, 2026).
Sự thay đổi này phản ánh xu hướng chuyển từ mô hình quản lý dựa nhiều vào tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm, quản lý rủi ro và khai thác dữ liệu trong giám sát. Đây cũng là hướng cải cách đang được nhiều quốc gia áp dụng nhằm giảm chi phí gia nhập thị trường nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước.

KHI DỮ LIỆU TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC CỦA CẢI CÁCH
Bộ Tài chính đã xây dựng và đưa vào khai thác nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành quan trọng như cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; cơ sở dữ liệu đầu tư công; cơ sở dữ liệu đấu thầu và nhiều hệ thống dữ liệu chuyên ngành khác. Trên cơ sở đó, Bộ đã triển khai tái cấu trúc 35 TTHC trong các lĩnh vực doanh nghiệp, thuế, hải quan, chứng khoán, kế toán - kiểm toán theo hướng sử dụng dữ liệu có sẵn để thay thế hồ sơ giấy và các thông tin phải kê khai lặp lại.
Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình “người dân mang hồ sơ đi chứng minh thông tin” sang mô hình “cơ quan nhà nước chủ động khai thác dữ liệu để giải quyết thủ tục”. Khi dữ liệu được kết nối và chia sẻ giữa các cơ quan quản lý, nhiều thông tin đã có trong hệ thống không còn phải kê khai lại, qua đó giảm đáng kể thời gian chuẩn bị hồ sơ, chi phí đi lại và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Hiệu quả của quá trình chuyển đổi số được thể hiện rõ trong các lĩnh vực có số lượng giao dịch lớn như thuế, hải quan và đăng ký doanh nghiệp. Theo Bộ Tài chính, tính đến hết năm 2025, có 1.015.910 doanh nghiệp sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử, đạt tỷ lệ 99,31% số doanh nghiệp đang hoạt động. Trong năm 2025, các doanh nghiệp đã thực hiện 5.595.602 giao dịch nộp thuế điện tử với tổng số tiền hơn 1,229 triệu tỷ đồng. Ngành Thuế hiện đã triển khai 223 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và tích hợp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; đồng thời hơn 99% doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ khai, nộp và hoàn thuế điện tử (Quang Minh, 2026).
Đối với doanh nghiệp, những thay đổi này mang lại lợi ích trực tiếp và dễ nhận thấy. Các thủ tục khai, nộp và hoàn thuế được thực hiện trực tuyến giúp doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian đi lại, chi phí in ấn, lưu trữ hồ sơ và chi phí nhân sự phục vụ công tác kê khai. Việc sử dụng hóa đơn điện tử và các nền tảng thuế điện tử cũng giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian xử lý chứng từ, tăng tính minh bạch và thuận lợi trong quản trị tài chính.
Những kết quả đạt được cho thấy cải cách TTHC trong lĩnh vực tài chính đang chuyển từ mục tiêu đơn giản hóa thủ tục sang nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Nếu trước đây phần lớn thời gian và chi phí được dành cho việc chuẩn bị hồ sơ, xác minh thông tin và thực hiện các thủ tục trực tiếp, thì hiện nay ngày càng nhiều quy trình được thực hiện trên môi trường điện tử với dữ liệu được sử dụng xuyên suốt trong quá trình giải quyết thủ tục.
Việc đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến và khai thác dữ liệu số đã giúp người dân, doanh nghiệp giảm đáng kể số lần đi lại, giảm chi phí in ấn, lưu trữ hồ sơ, đồng thời rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục liên quan đến thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh và nhiều lĩnh vực tài chính khác. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, những thay đổi này góp phần giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ công.
Ở góc độ quản lý nhà nước, dữ liệu số đang trở thành nền tảng để đổi mới phương thức quản trị. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào việc kiểm tra hồ sơ thủ công, cơ quan quản lý có điều kiện tăng cường ứng dụng công nghệ trong đối chiếu, xác thực thông tin, quản lý rủi ro và giám sát theo thời gian thực. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả xử lý công việc mà còn góp phần tăng tính minh bạch, công khai và khả năng giải trình của bộ máy hành chính.
Trong bối cảnh Chính phủ đang thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và phát triển khu vực kinh tế tư nhân, việc tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý sẽ tạo thêm dư địa để nâng cao chất lượng dịch vụ công, giảm chi phí giao dịch cho nền kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Từ thực tiễn triển khai có thể thấy, giá trị lớn nhất của cải cách TTHC hiện nay không chỉ nằm ở việc giảm bớt giấy tờ hay rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, mà ở việc thay đổi phương thức vận hành của cơ quan quản lý nhà nước theo hướng hiện đại, minh bạch và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Khi dữ liệu được kết nối, quy trình được tái cấu trúc và dịch vụ công được cung cấp trên môi trường số, cải cách TTHC sẽ không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tài chính (2025). Quyết định số 1474/QĐ-BTC ngày 24/4/2025 về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
2. Bộ Tài chính (2026). Công văn số 6946/BTC-VP ngày 26/5/2026 về việc báo cáo tình hình và kết quả công tác cải cách thủ tục hành chính tháng 5 năm 2026 theo chế độ báo cáo định kỳ hằng tháng về công tác cải cách thủ tục hành chính theo yêu cầu tại Công điện số 644/CĐ-TTg ngày 13/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ.
3. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026.
4. Quang Minh (2026). Hiện đại hóa, chuyển đổi số trong quản lý thuế. Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính. https://mof. gov.vn/chuyen-doi-so/bo-tai-chinh-chuyen-doi-so/hien-dai-hoa-chuyen-doi-so-trong-quanly-thue
5. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1848/QĐ-TTg ngày 27/8/2025 về việc phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026 |
Tin tức khác
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số
Đi tìm lời giải cho bài toán xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo thuận lợi cho lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh
Muốn tăng trưởng xanh phải đặt con người vào trung tâm chính sách
Sức sống hàng Việt mang "Điện Biên phố" đến Hà Nội
PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính
PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất
INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững
Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển đất nước
Bài 1: Chính phủ hành động: Mở đường cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số
Đi tìm lời giải cho bài toán xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo thuận lợi cho lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh
Muốn tăng trưởng xanh phải đặt con người vào trung tâm chính sách









