Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi quan trọng cả về nhận thức lý luận và định hướng thực tiễn qua các thời kỳ đổi mới. Từ chỗ chỉ xem kinh tế tư nhân là khu vực mang tính bổ trợ, tồn tại có giới hạn trong thời kỳ đầu đổi mới, thì đến nay, khu vực này không chỉ được thừa nhận là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế mà còn được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường nội lực quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Lê Gia Phong, Phó Trưởng Ban, Ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính) cho rằng, chỉ khi đánh giá đúng “sức khỏe” của khu vực kinh tế tư nhân thì chúng ta mới xây dựng được những giải pháp trúng và hiệu quả để có thể tạo động lực tăng trưởng kinh tế như kỳ vọng.
![]() |
| Chỉ khi đánh giá đúng “sức khỏe” của khu vực kinh tế tư nhân thì mới xây dựng được những giải pháp trúng và hiệu quả để tạo động lực tăng trưởng kinh tế như kỳ vọng. |
Phóng viên: Đảng, Nhà nước đang dành sự quan tâm, ưu tiên đặc biệt để khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, để các giải pháp phát triển khu vực này thực sự hiệu quả, như ông nói, chúng ta cần nhìn thẳng thắn về thực trạng hiện nay. Vậy theo ông, bức tranh hiện nay của khối doanh nghiệp tư nhân đang cho thấy những vấn đề nào cần được quan tâm?
Ông Lê Gia Phong: Vâng thực tế cho thấy, nếu chúng ta không nhìn thẳng thắn thực trạng thì tất cả những giải pháp đang được triển khai khó đạt được kết quả như kỳ vọng. Sức khỏe khu vực kinh tế tư nhân sẽ được phản ánh rõ qua lăng kính phân tích chuỗi dữ liệu thực chứng xuyên suốt 15 năm (2011-2024) và kết quả vận hành của nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2026.
Bước vào năm 2026 - năm bản lề thực hiện khát vọng của Đại hội XIV Đảng, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ với GDP 6 tháng ước tăng 8,18%, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8%. Tuy nhiên, đằng sau những con số vĩ mô tích cực là một bức tranh phân hóa sâu sắc và sự sàng lọc khắc nghiệt. Trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bứt tốc mạnh mẽ với kim ngạch xuất khẩu đạt 213,01 tỷ USD (tăng 26,0%), thì khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng khiêm tốn 4,6%. Điều này thể hiện sự “hụt hơi” của khu vực kinh tế tư nhân.
![]() |
| Ông Lê Gia Phong, Phó Trưởng Ban, Ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính) |
Đặc biệt, hệ thống dữ liệu điều tra doanh nghiệp toàn diện 3 giai đoạn 5 năm (2011-2015; 2016-2020; 2021-2024) sẽ cho chúng ta góc nhìn phân tích chuyên sâu năng lực cạnh tranh cốt lõi của khu vực kinh tế tư nhân trong thế đối sánh với khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực FDI.
Những năm qua, thực thi chủ trương cơ cấu lại nền kinh tế, khu vực doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện thu hẹp quy mô theo lộ trình, giảm từ mức bình quân 3.117 doanh nghiệp (giai đoạn 2011-2015) xuống còn 1.838 doanh nghiệp (giai đoạn 2021-2024). Quá trình tái cấu trúc này đã mở ra không gian thị trường rộng lớn, tạo bệ phóng cho khu vực kinh tế tư nhân (ngoài nhà nước) bứt tốc, tăng vọt từ mức bình quân 364.542 doanh nghiệp lên 741.736 doanh nghiệp trong cùng kỳ.
Đồng hành cùng sự gia tăng về số lượng, khu vực tư nhân chính thức xác lập vị thế là lực lượng nòng cốt trong giải quyết việc làm của toàn xã hội. Tính bình quân giai đoạn 2021-2024, khu vực này đã hấp thụ nguồn nhân lực lên tới 9,17 triệu lao động, chiếm ưu thế hoàn toàn so với quy mô tinh gọn chưa tới 1 triệu lao động (988.808 người) của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, điều đáng nói là động lực tăng trưởng của khu vực tư nhân gần như phụ thuộc hoàn toàn vào sự gia tăng thuần túy về mặt số lượng của nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ (hiện chiếm xấp xỉ 94% tổng số doanh nghiệp toàn nền kinh tế).
Vấn đề đáng chú ý là sự bứt phá ấn tượng về “lượng” lại đang bộc lộ nghịch lý về “chất”, đặc biệt là sự hụt hơi trong năng lực tích lũy tài sản. Dưới góc độ thống kê kinh tế, để tiếp thu “lực lượng sản xuất mới”, nền tảng tài sản cố định là điều kiện tiên quyết. Thế nhưng, số liệu thống kê chỉ ra mức độ trang bị tài sản cố định bình quân một lao động của khu vực tư nhân giai đoạn 2021-2024 chỉ đạt 388,65 triệu đồng.
Con số này thấp hơn đáng kể so với con số 515,97 triệu đồng của khu vực FDI và chỉ bằng xấp xỉ 1/3 so với mức 1.118,36 triệu đồng/lao động của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Điều này dẫn tới nền tảng tài sản mỏng, khu vực tư nhân gặp rào cản lớn trong việc thoát khỏi mô hình gia công thâm dụng lao động, thiếu hụt nguồn lực tài chính để đầu tư cho Nghiên cứu & Phát triển (R&D) và tự động hóa chuỗi sản xuất.
Hạn chế về năng lực tích lũy tài sản đã bộc lộ những điểm nghẽn hiệu quả sinh lời và sức chống chịu của khối doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Mặc dù khối ngoài nhà nước chiếm áp đảo về số lượng (với trên 94% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ) và tạo ra quy mô doanh thu bình quân vô cùng lớn, đạt 20,66 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2024, song hiệu quả sinh lời lại ở mức thấp nhất toàn nền kinh tế.
Bình quân giai đoạn 2021-2024, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) của khu vực này chỉ đạt 2,21%, chênh lệch đáng kể so với mức 5,14% của khu vực FDI và thấp hơn rất nhiều so với mức 8,19% của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Xét về hiệu quả sử dụng vốn, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của khu vực tư nhân chỉ đạt 3,99%, thấp hơn nhiều trước mức sinh lời dẫn đầu nền kinh tế của khu vực doanh nghiệp nhà nước là 13,94%.
Biên lợi nhuận ở mức thấp khiến các doanh nghiệp ngoài nhà nước không tích lũy đủ thặng dư để dự phòng rủi ro, thường xuyên phải đối mặt với áp lực duy trì thanh khoản và sự sống còn. Tính bình quân giai đoạn 2021-2024, tỷ lệ doanh nghiệp ngoài nhà nước báo lỗ lên tới 46,88%, cao hơn cả tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động có lãi (chỉ đạt 43,38%).
Thực trạng này đồng nghĩa với việc cứ 10 doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia thị trường thì có tới gần 5 doanh nghiệp lâm vào cảnh kinh doanh thua lỗ. Nền tảng tài chính thiếu vắng nguồn lực dự phòng vững chắc này đã biến khối nội địa thành mắt xích dễ bị đứt gãy nhất khi nền kinh tế đối mặt với các cú sốc chi phí ngoại sinh.
Phóng viên: Bên cạnh các vấn đề về sức khỏe nội tại, khu vực kinh tế tư nhân đang phải chịu áp lực gì từ các yếu tố thị trường, thưa ông?
Ông Lê Gia Phong: Năm 2025, bức tranh doanh nghiệp tiếp tục phản ánh rõ nét nghịch lý giữa sự mở rộng cơ học và sự mỏng manh của nền tảng vốn. Bề mặt thị trường ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ với hơn 195.100 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 24,1% so với năm 2024) và trên 102.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, đằng sau sự gia tăng về số lượng, quy mô vốn đăng ký bình quân của một doanh nghiệp mới thành lập vẫn duy trì ở mức rất khiêm tốn, chỉ đạt khoảng 10 tỷ đồng.
Hệ lụy của việc gia tăng số lượng nhưng thiếu hụt nguồn lực tích lũy đã lập tức bộc lộ qua sự sàng lọc khắc nghiệt ngay trong năm 2025. Số lượng doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể lên tới gần 35.900 doanh nghiệp (tăng 66,1% so với năm trước), đồng thời có hơn 114.400 doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (tăng 14,3%). Các con số này phản ánh sự sàng lọc khắc nghiệt của thị trường.
Những điểm nghẽn mang tính cấu trúc tích tụ trong thời gian dài (hiệu quả sinh lời hạn chế, nền tảng vốn mỏng, phụ thuộc thâm dụng lao động) đã bộc lộ rõ nét khi khu vực kinh tế tư nhân phải đối mặt với các biến số ngoại sinh bất lợi trong quý I và II của năm 2026.
Thứ nhất là áp lực từ sự gia tăng đột biến của chi phí đầu vào. Xung đột địa chính trị, nhất là tại khu vực Trung Đông (Mỹ - Israel - Iran) gây ra gián đoạn nguồn cung năng lượng lớn nhất từ trước đến nay, gia tăng áp lực lạm phát, tác động tiêu cực đến thương mại, đầu tư và triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Dữ liệu thống kê cho thấy chi phí đầu vào của ngành sản xuất đã tăng với tốc độ nhanh nhất trong gần 15 năm qua.
Tác động trực tiếp từ yếu tố chi phí đẩy đã khiến Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất tháng 3/2026 của Việt Nam sụt giảm xuống còn 51,2 điểm, xếp thứ 5 trong khu vực ASEAN. Dù Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 6/2026 lấy lại đà tăng song vẫn ở mức khiêm tốn 51,8 điểm. Sự gia tăng mạnh mẽ của chi phí nguyên nhiên vật liệu và logistics đã tạo áp lực nghiêm trọng lên biên lợi nhuận vốn đang ở mức rất khiêm tốn của khối doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Thứ hai là sự đứt gãy của chuỗi cung ứng và rủi ro thanh khoản. Chi phí hoạt động tăng cao kết hợp với tổng cầu phục hồi chậm đã dẫn đến một đợt sàng lọc thị trường khắc nghiệt. Trong quý I/2026, toàn nền kinh tế ghi nhận 91.800 doanh nghiệp phải rút lui khỏi thị trường, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước.
Mức độ tổn thương sâu sắc nhất nằm ở phân khúc doanh nghiệp quy mô vừa (quy mô vốn từ 50-100 tỷ đồng). Số lượng doanh nghiệp giải thể thuộc nhóm này ghi nhận mức tăng đột biến 102,5%. Đây là phân khúc đóng vai trò nòng cốt trong việc duy trì chuỗi cung ứng nội địa; tuy nhiên, do không thể linh hoạt tạm ngừng hoạt động như nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, đồng thời thiếu hụt nguồn lực tài chính dự phòng đủ lớn như khu vực FDI hay DNNN, các doanh nghiệp này gặp khó khăn nghiêm trọng trước áp lực chi phí tăng cao.
Sang quý II, dù mọi lĩnh vực của nền kinh tế đều đang trên đà phục hồi song vẫn còn không ít doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đưa con số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 6 tháng đầu năm 2026 là 151.100 doanh nghiệp. Bình quân một tháng có 25.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Đồng thời, tình trạng mất cân đối dòng tiền tiếp tục hiện hữu rõ rệt ở một số lĩnh vực. Cụ thể, tỷ lệ nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài đã khiến nhiều doanh nghiệp ngành xây dựng phải đối diện với rủi ro mất thanh khoản. Thực trạng này minh chứng rõ nét cho việc: khi thiếu đi nền tảng tư bản vững chắc, khu vực kinh tế tư nhân rất dễ bị tổn thương và đứt gãy trước những biến động khó lường của trật tự kinh tế toàn cầu.
Phóng viên: Từ các vấn đề trên, theo ông, đâu là những ưu tiên chính sách để khắc phục các điểm nghẽn mang tính cấu trúc và nâng cao khả năng chống chịu của khu vực kinh tế tư nhân trước những biến động của kinh tế toàn cầu?
Ông Lê Gia Phong: Mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP 2 con số và định hướng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ theo tinh thần Đại hội XIV đòi hỏi một sự chuyển dịch căn bản về mô hình tăng trưởng. Tầm nhìn chiến lược này không thể hiện thực hóa nếu hơn 94% lực lượng doanh nghiệp nội địa vẫn duy trì ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ, giới hạn trong các công đoạn gia công thâm dụng lao động với tỷ suất sinh lời ở mức thấp.
Để khắc phục các điểm nghẽn mang tính cấu trúc, công tác điều hành vĩ mô cần thiết lập một hệ thống chính sách can thiệp toàn diện theo hướng hoàn thiện thể chế kiến tạo. Từ quan điểm cá nhân, tôi cho rằng chúng ta nên tập trung vào 3 nhóm giải pháp.
Thứ nhất, nhóm giải pháp ổn định ngắn hạn (giảm sốc và khơi thông thanh khoản)
Trước hết cần kiểm soát lạm phát chi phí đẩy. Dữ liệu cho thấy Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) bình quân của khối doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ đạt 2,21%, khiến khu vực này vô cùng nhạy cảm trước mọi biến động của giá năng lượng. Do đó, Chính phủ cần linh hoạt sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, đồng thời xem xét tiếp tục giảm thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) và phí bảo vệ môi trường nhằm kìm hãm đà tăng của chi phí đầu vào. Song song đó, Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế giãn, hoãn nợ tín dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu đang chịu sức ép từ chi phí vận tải biển do hệ lụy đứt gãy chuỗi cung ứng tại Trung Đông.
Bên cạnh đó là khơi thông dòng vốn qua kênh đầu tư công bằng việc tháo gỡ dứt điểm điểm nghẽn nợ đọng xây dựng cơ bản. Các chủ đầu tư và ban quản lý dự án cần khẩn trương hoàn thiện thủ tục nghiệm thu, thanh quyết toán ngay khi có khối lượng hoàn thành, không nên không dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm. Nguồn vốn đầu tư công phải nhanh chóng được đưa vào lưu thông để hỗ trợ thanh khoản cho các nhà thầu thi công.
Thứ hai, nhóm giải pháp tái cấu trúc chuỗi cung ứng trung hạn
Việc thiết lập hệ thống thông tin cảnh báo sớm và công cụ phòng vệ là cần thiết. Các cơ quan quản lý cần xây dựng và chia sẻ hệ thống dữ liệu lớn (Big Data) để cảnh báo sớm về các tuyến vận tải, chi phí logistics và chuỗi cung ứng. Đồng thời, khuyến khích và hướng dẫn doanh nghiệp sử dụng các công cụ tài chính phái sinh (mua bán kỳ hạn, hợp đồng tương lai nguyên vật liệu) để chủ động phòng vệ trước rủi ro biến động giá hàng hóa trên thị trường thế giới.
Các chính sách cũng cần thiết chuyển dịch trọng tâm sang phân khúc doanh nghiệp quy mô vừa. Theo đó, thay vì dàn trải nguồn lực hỗ trợ, các chính sách tín dụng và khoa học công nghệ cần tập trung vào nhóm doanh nghiệp quy mô vừa (quy mô vốn 50-100 tỷ đồng) - hạt nhân cốt lõi của chuỗi cung ứng nội địa. Mục tiêu là hỗ trợ nhóm này tăng cường trang bị tài sản cố định, nâng cấp quy trình tự động hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe, từ đó kết nối hiệu quả vào chuỗi giá trị của các tập đoàn FDI công nghệ lớn đang mở rộng đầu tư tại Việt Nam.
Thứ ba, nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và kiến tạo lực lượng sản xuất mới
Ở nhóm giải pháp này, tôi cho rằng, chúng ta cần tái định vị sứ mệnh của kinh tế nhà nước. Số liệu thực chứng khẳng định khu vực DNNN đang sở hữu hiệu quả sinh lời dẫn đầu nền kinh tế, với mức ROE đạt 13,94% và ROS đạt 8,19%. Nguồn thặng dư tích lũy này cần được định hướng đầu tư vào việc kiến tạo các “hạ tầng nền tảng” mang tính dẫn dắt như viễn thông, trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo (AI), và năng lượng xanh. Trong kỷ nguyên số, hạ tầng công nghệ và dữ liệu minh bạch chính là “tư liệu sản xuất mới” thiết yếu mà Nhà nước kiến tạo để bảo vệ và thúc đẩy không gian phát triển cho khu vực tư nhân.
Cùng với đó là việc thiết lập không gian thể chế linh hoạt. Cải cách thể chế không chỉ dừng ở việc cắt giảm thủ tục hành chính, mà cần chủ động xây dựng các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho các lĩnh vực mới như công nghệ tài chính (Fintech), kinh tế tuần hoàn và trí tuệ nhân tạo. Cần hoàn thiện khung pháp lý bảo vệ quyền tài sản và bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm, tạo môi trường an toàn, minh bạch để khu vực tư nhân yên tâm tích lũy tư bản, dồn nguồn lực vào nghiên cứu công nghệ lõi thay vì phân bổ vốn vào các kênh đầu tư mang tính đầu cơ ngắn hạn.
Với những giải pháp trên, chỉ khi những hạn chế về năng lực tích lũy tài sản, nguồn vốn và công nghệ được giải quyết triệt để, khu vực kinh tế tư nhân mới đủ nội lực để làm chủ “lực lượng sản xuất mới”, thực sự trở thành động lực nòng cốt đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững và tự chủ trong kỷ nguyên mới.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!
Tin tức khác
Mô hình phát triển mới: Mở thêm “biên giới tăng trưởng” cho nền kinh tế
TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm: Quy hoạch mới tạo dư địa để Hà Nội nâng tầm vị thế
Kiến tạo thương hiệu quốc gia từ sức mạnh kinh tế tư nhân
Cần cá nhân hóa hành trình đầu tư của mỗi nhà đầu tư
11 triệu tỷ đồng tiền gửi tiết kiệm và dư địa cho ngành quản lý quỹ
Cổ phiếu Việt Nam vào rổ FTSE: Mở rộng dư địa hút dòng vốn chủ động
Từ chính sách giảm thuế đến động lực tăng trưởng bền vững
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing
Đưa quan hệ Đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam - Myanmar bước vào giai đoạn phát triển mới
Nhà trường phải trở thành trung tâm kiến tạo tri thức, đổi mới sáng tạo
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ đón chính thức Tổng thống Myanmar
Việt Nam đề xuất ba ưu tiên thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số tại APEC
Mở rộng dư địa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc
Từ đà hợp tác đến những bước phát triển mới với Nga và Pháp
UBND TP. Hồ Chí Minh đề xuất giữ nguyên 168 phường, xã, đặc khu
INFOGRAPHIC: Kinh tế việt nam 8 tháng 2026 - những con số nổi bật
Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và Seoul Chemical ký kết hợp tác mở rộng tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Hàn Quốc
Hà Nội tăng tốc các động lực, giữ mục tiêu tăng trưởng 11%
Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 17,25 tỷ USD; Vinhomes bắt tay SGC làm 2 dự án đường sắt
Mở rộng dư địa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc
Hà Nội: Cộng đồng doanh nghiệp tích lực để tiến xa hơn
Nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Xuất khẩu thủy sản 8 tháng đạt 7,94 tỷ USD, hướng tới mục tiêu 12,5 tỷ USD
Đối thoại Hữu nghị TP. Hồ Chí Minh mở hướng kết nối nguồn lực quốc tế













