Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng
![]() |
| PGS.TS Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới. |
Bức tranh doanh nghiệp còn nhiều vấn đề đáng quan tâm
Chia sẻ tại Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số” được tổ chức ngày 14/7, PGS.TS Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho biết, Việt Nam đang đặt ra mục tiêu tăng trưởng rất cao cho giai đoạn 2026-2030 và có thể cả những giai đoạn tiếp theo.
Theo chuyên gia, trong 20 năm, từ năm 2006 đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng bình quân của các giai đoạn 5 năm chủ yếu ở mức khoảng 6,2-6,3%. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% trong giai đoạn 2026-2030 là một mục tiêu rất lớn.
Để đạt được tốc độ tăng trưởng cao, các định hướng chính sách hiện nay đã xác định khá rõ rằng Việt Nam phải nâng cao năng suất lao động; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và các thị trường.
Đây phải là những động lực tăng trưởng mới, thay thế dần các động lực truyền thống như huy động thêm vốn, lao động hoặc khai thác lợi thế về chi phí thấp.
“Trong bức tranh kinh tế quốc tế và trong nước hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam vừa là đối tượng chịu tác động của chính sách, vừa là chủ thể trung tâm quyết định khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng tiếp nhận chính sách mà còn là lực lượng quyết định nền kinh tế có thể cất cánh và đạt tốc độ tăng trưởng cao hay không”, PGS.TS Phạm Anh Tuấn khẳng định.
Theo đó, để kích hoạt tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cũng như nền kinh tế nói chung, chuyên gia nhấn mạnh cần có những chính sách vi mô mang tính đột phá.
“Chính sách không thể triển khai một cách dàn trải, nhưng cũng không thể chỉ tập trung nguồn lực cho một số ít doanh nghiệp. Chính sách cần giải quyết được những vấn đề có tác động đến toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp, qua đó hình thành một lực lượng doanh nghiệp thực sự vững mạnh”, ông Tuấn nói.
Trong bối cảnh đó, theo PGS.TS Phạm Anh Tuấn, sự ra đời của Nghị quyết số 68-NQ/TW là rất đúng thời điểm, với những mục tiêu hết sức cụ thể nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức.
Dẫn chứng mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, ông Tuấn cho biết, đến cuối năm 2025, đầu năm 2026, Việt Nam có khoảng hơn 1 triệu doanh nghiệp. Như vậy, để đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, trong 5 năm tới, trung bình mỗi năm nền kinh tế phải có thêm ít nhất 200.000 doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo chuyên gia, số liệu về doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường trong giai đoạn 2016-2025 cho thấy, chưa năm nào trong 10 năm vừa qua số doanh nghiệp tăng thêm vượt quá 100.000 doanh nghiệp.
“Mục tiêu tăng thêm khoảng 200.000 doanh nghiệp mỗi năm thực sự là một thách thức rất lớn. Đây mới chỉ là mục tiêu về số lượng, chưa đề cập đến các mục tiêu về chất lượng và sức khỏe của doanh nghiệp”, chuyên gia lưu ý.
Theo ông, bức tranh chung của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm. Việt Nam có một số doanh nghiệp lớn đang phát triển tốt, nhưng nhìn chung, các doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ vẫn gặp rất nhiều khó khăn.
“Với quy mô và năng lực như hiện nay, khả năng tích lũy nguồn lực để đầu tư cho công nghệ, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, lớn lên và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp là rất khó khăn”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Nhiều thách thức, cơ hội đan xen
Xét về bối cảnh quốc tế, chuyên gia cho rằng, tình hình hiện nay đang tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế cũng như đối với doanh nghiệp Việt Nam, trong đó thách thức có phần nhiều hơn cơ hội.
Theo đó, thách thức đầu tiên đến từ các cuộc xung đột địa chính trị đang diễn ra tại nhiều khu vực trên thế giới. Những bất ổn này khiến triển vọng tăng trưởng toàn cầu thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của những năm trước, đồng thời làm gia tăng giá nguyên liệu đầu vào, chi phí vận tải và các hoạt động logistics, qua đó tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Thách thức thứ hai là các tiêu chuẩn mới tại những quốc gia phát triển ngày càng được nâng cao. Những thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ và Liên minh châu Âu đang đặt ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về phát triển xanh, phát triển bền vững và các tiêu chuẩn ESG.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam đang phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ hàng hóa giá rẻ, đặc biệt là hàng hóa đến từ Trung Quốc, một trong những công xưởng lớn của thế giới với chi phí sản xuất thấp.
Sự phát triển của các nền tảng thương mại điện tử cũng khiến hoạt động giao dịch xuyên biên giới trở nên thuận lợi hơn rất nhiều, qua đó làm gia tăng áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, theo PGS. TS Phạm Anh Tuấn, bối cảnh quốc tế cũng mở ra một số cơ hội.
Trước hết, Việt Nam có điều kiện tận dụng xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng, thường được gọi là xu hướng “Trung Quốc +1”, để trở thành một địa điểm sản xuất thay thế trong bối cảnh rủi ro địa chính trị gia tăng. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện có nhiều hiệp định thương mại tự do, trong đó có các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tạo thêm điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường.
“Tuy nhiên, việc chuyển những cơ hội từ các FTA thành kết quả cụ thể đối với doanh nghiệp không phải là vấn đề dễ dàng”, ông Tuấn lưu ý.
Một cơ hội khác được chuyên gia đề cập là Việt Nam đang tiếp tục thu hút được làn sóng đầu tư mới trong bối cảnh nhiều khu vực trên thế giới có biến động về địa chính trị. Việc duy trì được sự ổn định của nền kinh tế cũng như hệ thống chính trị - xã hội giúp Việt Nam trở thành điểm đến của các dòng vốn đầu tư nước ngoài.
“Tuy nhiên, làm thế nào để tận dụng được những dòng vốn này và chuyển hóa chúng thành nguồn lực lâu dài cho nền kinh tế vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với Việt Nam”, ông Phạm Anh Tuấn nói.
Chính sách phải hỗ trợ doanh nghiệp lớn lên
Đề xuất một số định hướng chính sách vi mô cho doanh nghiệp, PGS.TS Phạm Anh Tuấn cho rằng, trước hết, chính sách cần hỗ trợ phát triển năng lực của doanh nghiệp theo từng giai đoạn.
Theo ông, nền kinh tế hiện nay cần có sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp. Trong đó, các hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ góp phần bảo đảm sinh kế và an sinh xã hội; các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo công ăn, việc làm và góp phần bảo đảm sự cân đối trong hệ thống doanh nghiệp; các doanh nghiệp lớn có khả năng tăng trưởng cao và được kỳ vọng trở thành những lực lượng lớn của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, nền kinh tế cũng cần những doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong, dẫn dắt, có năng lực cạnh tranh toàn cầu và đại diện cho nền kinh tế Việt Nam tham gia thị trường quốc tế.
Mục tiêu đặt ra là doanh nghiệp siêu nhỏ có thể phát triển thành doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát triển thành doanh nghiệp lớn; doanh nghiệp lớn có thể trở thành những doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt trong khu vực và trên thế giới.
Do đó, các chính sách hướng đến mục tiêu này không thể chỉ mang tính ngắn hạn. Để doanh nghiệp phát triển từ quy mô thấp lên quy mô cao hơn cần có thời gian, đồng thời phải bảo đảm năng lực của doanh nghiệp được cải thiện một cách thực chất, thay vì chỉ triển khai những chính sách hỗ trợ ngắn hạn.
Để thực hiện mục tiêu đó, lãnh đạo Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới kiến nghị 6 nhóm chính sách vi mô cần được đặc biệt quan tâm.
Đó là tiếp tục cải cách thể chế, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; khơi thông các nguồn lực cho doanh nghiệp; phát triển thị trường vốn cho toàn bộ hệ thống doanh nghiệp; có chính sách thuế nhằm hỗ trợ đầu tư, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển dữ liệu và hạ tầng số; nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước.
PGS.TS Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh, tăng trưởng cao, hay mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phải dựa trên hai động lực căn bản là nâng cao năng suất lao động và nâng cao năng lực của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong nước.
Theo ông, những điểm nghẽn đối với sự phát triển của doanh nghiệp hiện nay chủ yếu nằm ở thể chế vi mô, khả năng tiếp cận nguồn lực, thị trường và năng lực đổi mới sáng tạo.
“Điểm nghẽn của tăng trưởng không hoàn toàn nằm ở phía tổng cầu. Nền kinh tế đã có những điều kiện nhất định để phát triển nhanh, nhưng điều quan trọng là phải cải thiện năng lực của doanh nghiệp để có thể kích hoạt tốt hơn các động lực tăng trưởng”, ông Phạm Anh Tuấn nói.
Chuyên gia nhấn mạnh, trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, thay đổi và thách thức, cần kích hoạt khả năng tồn tại, lớn lên, đổi mới và tham gia vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu của doanh nghiệp.
“Phát triển doanh nghiệp là câu chuyện dài hạn, không thể chỉ dựa vào những biện pháp hỗ trợ ngắn hạn để giải quyết”, ông Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh.
Tin tức khác
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo thuận lợi cho lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh
Muốn tăng trưởng xanh phải đặt con người vào trung tâm chính sách
Sức sống hàng Việt mang "Điện Biên phố" đến Hà Nội
Petrovietnam giữ vững chuỗi cung ứng năng lượng trước biến động Trung Đông
Hiệu quả sử dụng năng lượng tăng 10%, GDP Việt Nam có thể tăng khoảng 1%
Đầu tư ra nước ngoài: Doanh nghiệp Việt cần một "chiếc kiềng ba chân" vững chắc
Nhập khẩu tăng phản ánh xu hướng mở rộng đầu tư và năng lực sản xuất của doanh nghiệp
PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính
PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất
INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững
Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển đất nước
Bài 1: Chính phủ hành động: Mở đường cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Lắng nghe từ thực tiễn để hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất)
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số
Đi tìm lời giải cho bài toán xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo thuận lợi cho lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh
Muốn tăng trưởng xanh phải đặt con người vào trung tâm chính sách
Sức sống hàng Việt mang "Điện Biên phố" đến Hà Nội
Petrovietnam giữ vững chuỗi cung ứng năng lượng trước biến động Trung Đông
Hiệu quả sử dụng năng lượng tăng 10%, GDP Việt Nam có thể tăng khoảng 1%










