Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững
Nguyễn Thị Thùy Dương
Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính
Nguyễn Tuấn Linh
Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính
Email: nguyentuanlinh@mof.gov.vn
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày 6/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Có thể nói, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã định vị rõ hơn vai trò của kinh tế nhà nước, trong đó có doanh nghiệp nhà nước Việt Nam. Theo quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế, là nguồn lực quan trọng để Nhà nước ổn định vĩ mô, định hướng phát triển, can thiệp khi cần thiết. Song khu vực này cũng bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được quản lý, sử dụng theo nguyên tắc thị trường, hạch toán đầy đủ, chống thất thoát, lãng phí. Khu vực kinh tế nhà nước cần tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và dẫn dắt sự phát triển của các ngành, lĩnh vực then chốt.
Nghị quyết số 79-NQ/TW tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển hài hòa các thành phần kinh tế; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế và định hướng chiến lược phát triển, nhưng không tách rời các nguyên tắc của thị trường. Điểm mới là kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất và toàn diện, bao gồm các nguồn lực tài chính, tài sản công, tài nguyên và các tổ chức do Nhà nước đầu tư, quản lý.
Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, khu vực kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò quan trọng trong định hướng và điều tiết nền kinh tế. Vai trò này được thể hiện rõ trong quy mô và hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2024, cả nước có 673 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, trong đó có 476 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và 197 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Tổng tài sản của các doanh nghiệp đạt hơn 4,1 triệu tỷ đồng; tổng doanh thu khoảng 2,9 triệu tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế khoảng 248,7 nghìn tỷ đồng. Khu vực kinh tế nhà nước đóng góp khoảng 29% GDP.
Khu vực doanh nghiệp nhà nước tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược và thiết yếu như năng lượng, khai khoáng, viễn thông, hạ tầng giao thông, vận tải… Vốn nhà nước hiện diện và chi phối tại nhiều doanh nghiệp đứng đầu trong các lĩnh vực năng lượng như Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN); công nghệ, viễn thông như: Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng công ty Viễn thông Mobifone (MobiFone), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT); vận tải hàng không như: Tổng công ty Hàng không Việt nam (Vietnam Airlines).
Trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng tiếp tục xác định kinh tế nhà nước có vai trò quan trọng trong dẫn dắt, tạo động lực và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển; hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp; thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị gia tăng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
YÊU CẦU ĐỔI MỚI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Bối cảnh, tình hình quốc tế và trong nước đang đặt ra nhiều vấn đề mới cho khu vực doanh nghiệp nhà nước, trong đó có doanh nghiệp nhà nước.
Bối cảnh quốc tế
Những biến động kinh tế, địa chính trị trên thế giới dự báo tiếp tục chuyển biến nhanh chóng và phức tạp, khó lường theo hướng phân tách, phân mảnh, đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ diễn ra ngày càng gay gắt, phức tạp mở rộng về phạm vi và gia tăng về cường độ. Đặc biệt việc điều chỉnh chính sách của một số quốc gia trong thời gian gần đây, nhất là chính sách thuế đối ứng của các nền kinh tế lớn, khiến thị trường tài chính thế giới và trong nước biến động mạnh, tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức mới, có tính chất ngày càng nghiêm trọng. Nguy cơ “đa khủng hoảng” và chiến tranh thương mại có thể ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu và đặc biệt là kinh tế nước ta do có độ mở lớn.
Mặt khác, bất ổn và xung đột vũ trang tại một số khu vực trên thế giới - đặc biệt là xung đột ở Trung Đông từ cuối tháng 2/2026 đến nay - đã và đang làm cho chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, gián đoạn, ảnh hưởng nặng nề đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo đó, không loại trừ kịch bản kinh tế thế giới tăng trưởng chậm kéo dài. Dự báo sẽ đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta.
Đáng chú ý, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số có bước phát triển đột phá trên phạm vi toàn cầu, tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Kinh tế số đã và đang tạo ra những thay đổi mang tính cách mạng về phương thức sản xuất và cách sống, tạo nên nhiều thách thức mới đối với những nguyên lý và mô hình quản lý và điều hành kinh tế truyền thống. Sự bùng nổ của các công nghệ mới tác động mạnh mẽ, căn bản đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Các doanh nghiệp nói chung, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước cần nhận thức được tầm quan trọng của phát triển kinh tế số và ứng dụng công nghệ mới như AI vào quản trị doanh nghiệp và sản xuất để tăng cường hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ.
Bối cảnh trong nước
Tình hình chính trị - xã hội, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Quá trình hội nhập kinh tế với thế giới ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Với các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết và có hiệu lực, Việt Nam đã và đang tích cực, chủ động hội nhập với kinh tế thế giới. Nhờ đó, Việt Nam đã nổi lên là địa điểm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU... Hội nhập ngày càng sâu, rộng với kinh tế thế giới mở ra những cơ hội to lớn về mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước.
Trước bối cảnh quốc tế và trong nước như vậy, cùng với việc coi trọng phát triển kinh tế tư nhân, Đảng tiếp tục kiên trì khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; đồng thời yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước. Nghị quyết số 79-NQ/TW là sự cụ thể hóa quan điểm đó.
Mục tiêu phát triển khu vực kinh tế nhà nước
Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra các mục tiêu cụ thể là: Đến năm 2030, nước ta có 50 doanh nghiệp nhà nước nằm trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; có từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước nằm trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; có ít nhất 3 ngân hàng nhà nước được xếp hạng trong top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á theo tổng tài sản.
Đến năm 2045, kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc đảm bảo tính tự chủ chiến lược và năng lực cạnh tranh toàn diện của quốc gia.
Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu phấn đấu 100% doanh nghiệp nhà nước triển khai quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số và áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD.
Các doanh nghiệp nhà nước được kỳ vọng sẽ tiên phong trong đổi mới, dẫn đầu phát triển thị trường và tạo dựng mối liên kết với các doanh nghiệp thuộc khu vực đầu tư nước ngoài dọc theo chuỗi giá trị.
Việc tái cấu trúc và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước không còn đơn thuần là mở rộng thị trường chứng khoán mà là một giải pháp chiến lược để cải thiện quản trị doanh nghiệp, tăng cường tính minh bạch và thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế dài hạn. Trong bối cảnh áp lực ngày càng tăng đối với tăng trưởng tín dụng ngân hàng, các yêu cầu kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn và chi phí vốn leo thang, vai trò của thị trường chứng khoán như một kênh huy động vốn dài hạn đã trở nên vô cùng quan trọng.
Đối với các tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước, đây vừa là yêu cầu khách quan vừa là cơ hội để tái cấu trúc nguồn vốn, tăng cường năng lực tài chính và huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển. Các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều công cụ thị trường vốn khác nhau, bao gồm phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, chào bán riêng lẻ cho các nhà đầu tư chiến lược và huy động vốn quốc tế thông qua quản trị tốt hơn và tính minh bạch cao hơn.
Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh - hai trụ cột của phát triển bền vững
Trong bối cảnh toàn cầu chuyển mình mạnh mẽ, Việt Nam được đánh giá là điểm sáng khu vực về tăng trưởng và thu hút đầu tư. Việt Nam đang đứng trước cơ hội vàng để bứt phá, khi chuyển đổi xanh và chuyển đổi số trở thành hai trụ cột chiến lược trong giai đoạn phát triển mới,
Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2025 (VBF 2025), lãnh đạo Bộ Tài chính nhận định, Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để chuyển mình mạnh mẽ, bắt kịp, tiến cùng và vượt lên trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội, môi trường. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, Việt Nam được đánh giá là điểm sáng khu vực về tăng trưởng và thu hút đầu tư và đang đứng trước cơ hội vàng để bứt phá, khi chuyển đổi xanh và chuyển đổi số trở thành hai trụ cột chiến lược trong giai đoạn phát triển mới.
Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng tầm năng lực đổi mới sáng tạo, tối ưu hóa quản trị, mà còn mở rộng không gian phát triển thông qua thương mại điện tử, kết nối thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, bảo vệ môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam.
Để khẳng định cam kết phát triển bền vững, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản chiến lược như: Chiến lược Tăng trưởng xanh quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050; Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh; Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn... Những văn bản này là chìa khóa để Việt Nam tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, hiệu quả và bền vững - hướng tới thịnh vượng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Trong tiến trình đó, các doanh nghiệp - trong đó có doanh nghiệp nhà nước - được xem là nhân tố trung tâm, vừa là đối tượng thụ hưởng chính sách, vừa là chủ thể tiên phong thực thi các giải pháp phát triển xanh, phát triển số.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ cùng những thách thức ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang hội tụ thành xu thế phát triển mới - chuyển đổi kép. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế mà còn là con đường tất yếu để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
GIẢI PHÁP
Để khu vực kinh tế nhà nước thực sự phát triển bền vững, tiên phong trong chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, cần triển khai đồng bộ các giải pháp lớn như sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý, sử dụng các nguồn lực của nhà nước theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước; tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Theo tinh thần Nghị quyết số 79- NQ/TW, cần đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước, áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, nâng cao trách nhiệm giải trình, công khai minh bạch thông tin, đồng thời trao quyền chủ động lớn hơn cho doanh nghiệp đi đôi với cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả.
Thứ hai, Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong lĩnh vực then chốt như năng lượng, hạ tầng, tài chính, viễn thông, công nghệ cao, đi đầu trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển xanh. Các doanh nghiệp nhà nước cần được giao nhiệm vụ dẫn dắt hình thành các ngành, lĩnh vực mới, phát triển hạ tầng số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và các chuỗi giá trị xanh, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đối với khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, bám sát Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cần coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế nhà nước. Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQTW (Nghị quyết số 03/NQ-CP), sau đó cập nhật bằng Nghị quyết số 71/NQ-CP và Nghị quyết số 11/NQ-CP, nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao, cơ chế tài chính cho khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, ưu tiên nguồn lực tài chính cho các dự án chuyển đổi xanh, chuyển đổi số của doanh nghiệp nhà nước thông qua cơ chế đầu tư công, tín dụng xanh, trái phiếu xanh, quỹ phát triển khoa học - công nghệ, cũng như cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đối với các dự án có tính dẫn dắt thị trường nhưng thời gian thu hồi vốn dài.
Thứ năm, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo hướng không chỉ dựa vào chỉ tiêu tài chính ngắn hạn, mà còn tính đến đóng góp về đổi mới sáng tạo, phát thải carbon, sử dụng năng lượng hiệu quả, quản trị dữ liệu, an ninh mạng, liên kết chuỗi giá trị và tác động lan tỏa đối với nền kinh tế. Đây là cơ sở để khu vực kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo theo cách hiện đại hơn: không làm thay thị trường, mà dẫn dắt, mở đường, tạo chuẩn mực và kích hoạt các nguồn lực xã hội cho phát triển nhanh, bền vững.
KẾT LUẬN
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, yêu cầu đặt ra đối với khu vực kinh tế nhà nước không chỉ là duy trì vai trò chủ đạo trong bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, mà còn phải trở thành lực lượng tiên phong dẫn dắt đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược quốc gia.
Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo ra khuôn khổ định hướng toàn diện để hiện thực hóa mục tiêu đó.
Với sự hoàn thiện thể chế, cơ chế quản trị hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng việc phát huy hiệu quả các nguồn lực tài chính, khoa học - công nghệ và dữ liệu, khu vực kinh tế nhà nước sẽ có điều kiện nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh, đồng thời phát huy vai trò dẫn dắt, lan tỏa đối với toàn bộ nền kinh tế. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình phát triển bền vững mà còn là tiền đề quan trọng để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hiện đại, hội nhập sâu rộng và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
3. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 01/1/2025Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
5. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/1/2025 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bố sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
6. Chính phủ (2025). Báo cáo số 846/BC-CP về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2024.
7. OECD (2025). OECD Review of the Corporate Governance of State-Owned Enterprises in Thailand. OECD Publishing, Paris. https://doi.org/10.1787/345f9e00-en
8. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
9. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030.
10. World Bank Group (2022). Vietnam Country Climate and Development Report. World Bank, Washington, DC.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026 |
Tin tức khác
Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp
Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng và định hướng
Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp
Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực III kịp thời phổ biến, giáo dục pháp luật
Cảnh báo chiêu giả danh cơ quan nhà nước cài ứng dụng độc hại để chiếm đoạt tiền
PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính
PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất
INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững
Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển đất nước
Bài 1: Chính phủ hành động: Mở đường cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số
Đi tìm lời giải cho bài toán xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo thuận lợi cho lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh
Muốn tăng trưởng xanh phải đặt con người vào trung tâm chính sách








