aa

Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

08:17 | 15/07/2026
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, chuyển đổi xanh được xác định là một định hướng chiến lược quan trọng nhằm hiện thực hoá các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và 2045. Sự phát triển của thị trường carbon và các cơ chế định giá phát thải, đặc biệt là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) đang làm thay đổi căn bản điều kiện cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Với Việt Nam, Liên minh châu Âu (EU) là một thị trường xuất khẩu quan trọng, chiếm khoảng 12,3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2025, do đó việc áp dụng CBAM sẽ tạo ra áp lực đáng kể đối với doanh nghiệp Việt Nam trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn phát thải và chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, bền vững. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng chuyển đổi xanh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, làm rõ những khó khăn, thách thức đặt ra đối với doanh nghiệp từ đó đề ra một số định hướng chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp.

PGS.TS.Bùi Văn Huyền

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

TS.Đặng Thị Thu Hoài

Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương

ThS.Nguyễn Thị Lan Anh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Phan Thị Anh Đào

Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương

MỞ ĐẦU

Diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu trên toàn cầu đang thúc đẩy việc hình thành các cơ chế, chính sách đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh. Cơ chế định giá carbon đã được hình thành và phát triển, các quy định môi trường ngày càng chặt chẽ. Thị trường tín chỉ carbon quốc tế đã phát triển nhanh chóng cả về quy mô và mức độ phức tạp. Doanh thu từ các công cụ định giá carbon trên thế giới lần đầu vượt mốc 100 tỷ USD vào năm 2024. Hiện có khoảng 80 hệ thống định giá carbon đang hoạt động, bao gồm 37 hệ thống mua bán phát thải (ETS) và 43 cơ chế thuế carbon, bao phủ khoảng 28% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu (World Bank, 2025). Việc định giá carbon đã trở thành một xu thế chủ đạo trong hợp tác và thương mại quốc tế, buộc các doanh nghiệp phải tính toán chi phí carbon trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Từ ngày 01/01/2026, sau giai đoạn chuyển tiếp, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) bước vào giai đoạn chính thức, yêu cầu nhà nhập khẩu mua và nộp chứng chỉ tương ứng với lượng phát thải của hàng hóa nhập khẩu. Giá chứng chỉ CBAM gắn với giá đấu giá bình quân của hạn ngạch hệ thống mua bán phát thải của Liên minh châu Âu (EU) trên mỗi tấn CO2. Đáng chú ý, giá carbon ở châu Âu những năm gần đây ở mức rất cao, giá hạn ngạch EU đã vượt 92 EUR/tấn CO2 đầu năm 2026 (Jennifer L., 2026). CBAM hiện tập trung vào 6 nhóm hàng gồm sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydrogen - những lĩnh vực có liên quan đến chuỗi cung ứng xuất khẩu của Việt Nam. Riêng ngành thép, EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai, cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam sẽ chịu tác động trực tiếp từ chính sách mới.

Trước những yêu cầu quốc tế, Việt Nam đã sớm thể hiện chủ trương nhất quán về tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế bền vững. Tại COP26, Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đồng thời gắn với việc tham gia sáng kiến giảm 30% phát thải khí metan vào năm 2030. Các chính sách, kế hoạch trọng yếu được ban hành nhằm cụ thể hóa mục tiêu trung hòa carbon như Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh 2021-2030, Kế hoạch giảm phát thải metan 2030, Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng Xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050… đã tạo khung định hướng quan trọng. Áp lực của thị trường carbon, CBAM và định hướng chính sách đang hướng đến thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp, chỉ rõ những hạn chế, khó khăn, vướng mắc từ đó đề xuất định hướng chính sách thúc đẩy chuyển đổi xanh trong thời gian tới.

THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI XANH TRONG DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Về mức độ thực hiện chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp

Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

Nhận thức và hành động chuyển đổi xanh của doanh nghiệp mặc dù đã được cải thiện trong thời gian gần đây nhưng còn thấp. Theo đánh giá của MCG (2024) mức độ thực hành ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) của doanh nghiệp Việt Nam hiện mới ở ngưỡng trung bình. Trong đó, trụ cột Môi trường có điểm số thấp nhất với 52%, phản ánh sự hạn chế về nhận thức, năng lực quản lý phát thải và mức độ triển khai các mô hình kinh tế tuần hoàn. Ngược lại, trụ cột Xã hội đạt khoảng 68% nhờ doanh nghiệp tuân thủ tốt các quy định về lao động, an toàn và trách nhiệm cộng đồng. Trụ cột Quản trị đạt khoảng 63% cho thấy đã có nền tảng quản trị cơ bản nhưng còn hạn chế về minh bạch thông tin và vai trò giám sát ESG của hội đồng quản trị. Nhìn chung, nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp cận ESG theo hướng tuân thủ và dễ triển khai trước, chưa tích hợp đầy đủ vào chiến lược phát triển cốt lõi dài hạn.

Quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp tại Việt Nam đang diễn ra không đồng đều và có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm doanh nghiệp. Cụ thể, nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dẫn đầu về thực hành ESG, khoảng 71%, phản ánh mức độ hội nhập quốc tế sâu rộng và khả năng tiếp cận các tiêu chuẩn môi trường toàn cầu. Trong khi đó, các doanh nghiệp niêm yết tuy đã có những bước tiến nhất định nhờ áp lực từ thị trường vốn và yêu cầu minh bạch thông tin. Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có tỷ lệ triển khai thấp nhất, chỉ khoảng 27%, cho thấy những hạn chế đáng kể về nguồn lực tài chính, công nghệ và nhận thức. Thực trạng này thể hiện quá trình chuyển đổi xanh hiện nay chủ yếu được thúc đẩy bởi các yếu tố bên ngoài, thay vì xuất phát từ động lực nội sinh của doanh nghiệp trong nước.

Về vốn đầu tư và hạ tầng công nghệ

Vốn đầu tư vào chuyển đổi xanh có xu hướng gia tăng. Đến ngày 31/12/2025, dư nợ tín dụng đối với các lĩnh vực xanh đạt gần 780 nghìn tỷ đồng, tăng 14,62% so với cuối năm 2024, chiếm 4,19% tổng dư nợ toàn nền kinh tế (VnEconomy, 2026), thể hiện nhận thức của doanh nghiệp đã có sự chuyển biến rõ rệt, từ bị động sang chủ động thúc đẩy chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, tại khảo sát của Bùi Văn Huyền và cộng sự (2025) đối với 135 doanh nghiệp ở một số ngành công nghiệp chủ chốt (công nghệ, sản xuất, năng lượng tái tạo, dịch vụ) tại 9 tỉnh, thành phố trên cả nước, có đến 32,6% doanh nghiệp không lựa chọn đầu tư vào chuyển đổi xanh. Nguyên nhân được cho là do hạn chế về nguồn lực tài chính, thiếu thông tin và năng lực triển khai, cũng như lo ngại về chi phí đầu tư ban đầu cao và thời gian hoàn vốn dài.

Yêu cầu chuyển đổi xanh cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải áp dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa và năng lượng tái tạo trong sản xuất. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn chủ yếu vận hành theo công nghệ cũ, dây chuyền truyền thống, phần lớn chưa đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi. Một số đơn vị tiên phong, thường là các khu công nghiệp và doanh nghiệp lớn đã đầu tư mạnh cho công nghệ xanh. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp khó khăn trong huy động vốn để lắp đặt hệ thống đo và xử lý khí thải, hầu hết vẫn chưa có hệ thống tự động hoá và quản lý năng lượng thông minh; công nghệ số mới cho sản xuất sạch hầu như chưa phổ biến rộng rãi. Trong khi có 41,5% doanh nghiệp phản ánh đáp ứng một phần nhu cầu, 24,4% doanh nghiệp nhận định hạ tầng công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu, theo kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu đối với 135 doanh nghiệp nêu trên.

Về nguồn nhân lực thực hiện chuyển đổi xanh

Nguồn lao động sở hữu kỹ năng xanh tại các doanh nghiệp bộc lộ rõ những hạn chế về năng lực triển khai và khả năng đáp ứng yêu cầu chuyên môn mới. Theo Báo cáo Theo dõi tiến độ thực hành ESG (PwC, 2025), 89% doanh nghiệp Việt Nam đã có hoặc dự kiến triển khai ESG, nhưng chỉ 19% tích hợp đầy đủ vào mô hình kinh doanh, thể hiện rõ hạn chế về năng lực triển khai, trong đó yếu tố nhân lực là then chốt. Cũng tại khảo sát của Bùi Văn Huyền và cộng sự (2025) về mức độ đáp ứng kỹ năng và năng lực cho nhu cầu chuyển đổi xanh của nguồn nhân lực, chỉ có 6,7% nguồn nhân lực đáp ứng rất tốt yêu cầu chuyển đổi xanh trong doanh nghiệp trong khi 20,7% doanh nghiệp có nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu, còn lại phần lớn đáp ứng một phần nhu cầu của doanh nghiệp.

Trong khi đó, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước đối với chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp bắt đầu có tín hiệu khả quan, với khoảng 60% doanh nghiệp đánh giá tích cực. Điều này cho thấy các chính sách bước đầu phát huy hiệu quả và tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, cũng theo khảo sát trên, tỷ lệ doanh nghiệp chỉ đánh giá ở mức “giúp ích một phần” và “không hữu ích” vẫn còn đáng kể, lần lượt là 20% và 12,6%, phản ánh những dư địa để cải thiện kết quả thực thi, khả năng tiếp cận và mức độ phù hợp của chính sách; đồng thời, một bộ phận doanh nghiệp chưa nắm bắt đầy đủ thông tin về các chính sách hỗ trợ.

CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI XANH

Các cơ hội phát triển

Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

Xét về tiềm năng và cơ hội phát triển, doanh nghiệp Việt Nam tham gia quá trình chuyển đổi xanh được đánh giá cao với nhiều lợi thế cạnh tranh: Cơ hội tiếp cận nguồn tài chính bền vững trong tiến trình chuyển đổi xanh. Thị trường tài chính toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc, với dòng vốn dịch chuyển sang các khoản đầu tư xanh. Thị trường carbon vận hành chính thức vào năm 2028 sẽ tạo ra một động lực tài chính trực tiếp, khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào các giải pháp giảm phát thải. Doanh nghiệp Việt Nam có hồ sơ ESG minh bạch và hiệu quả sẽ có lợi thế vượt trội trong việc thu hút nguồn vốn này.

Cơ hội gia nhập và nâng tầm vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu xanh. Việc chủ động thích ứng với các quy định khắt khe giúp doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật và tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội khi tiếp cận các thị trường phát triển. Sự chuyển dịch này đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ phát thải thấp, nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên và giảm thiểu các rủi ro chuyển đổi trong dài hạn. Thông qua việc nâng cao năng lực tuân thủ bền vững, doanh nghiệp nội địa có khả năng thoát khỏi bẫy gia công giá trị thấp để tiến tới các phân khúc có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn.

Chuyển đổi xanh là đòn bẩy chiến lược trong quản trị và thu hút vốn nhân lực. Thế hệ lao động trẻ ngày càng quan tâm đến môi trường làm việc có mục tiêu, trách nhiệm xã hội và tính minh bạch. Doanh nghiệp theo đuổi ESG một cách thực chất có thể nâng cao sự gắn kết của người lao động, giảm chi phí tuyển dụng, tăng khả năng giữ chân nhân sự có chất lượng. Về dài hạn, việc sở hữu đội ngũ nhân sự chất lượng cao, đồng nhất về tư duy phát triển bền vững (PTBV) là nền tảng cốt lõi giúp doanh nghiệp củng cố nội lực, gia tăng khả năng thích ứng và khẳng định vị thế dẫn dắt trong cấu trúc kinh tế carbon thấp của tương lai.

Một số rào cản, thách thức

Khó khăn về nguồn lực tài chính đầu tư cho phát triển bền vững trong khu vực công. Việc huy động nguồn lực tài chính cho PTBV hiện đang đối mặt với những rào cản mang tính hệ thống và cấu trúc sâu sắc. Trước hết, khoảng cách tài chính lớn giữa nhu cầu đầu tư hạ tầng xanh và khả năng đáp ứng giới hạn của ngân sách quốc gia đang tạo ra áp lực lớn lên nợ công. Thứ hai, các rủi ro phi tài chính cùng tính bất định trong lộ trình chuyển đổi khiến chi phí vốn của các dự án xanh thường cao hơn đáng kể so với các ngành công nghiệp truyền thống.

Các dự án hướng tới tăng trưởng xanh, giảm phát thải có thời gian hoàn vốn dài, mức độ rủi ro cao và chưa có cơ chế đảm bảo lợi nhuận rõ ràng. Các dự án hạ tầng xanh và giảm phát thải thường yêu cầu chi phí đầu tư ban đầu lớn, dẫn đến thời gian hoàn vốn kéo dài, gây áp lực lên dòng tiền của doanh nghiệp. Mức độ rủi ro hệ thống tăng cao do sự bất định về lộ trình công nghệ và sự thiếu hụt các quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ trong nước. Đặc biệt, việc chưa có các cơ chế đảm bảo lợi nhuận rõ ràng khiến các chỉ số NPV (Giá trị hiện tại ròng) và IRR (Tỷ suất hoàn vốn nội bộ) trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

Hạ tầng công nghệ chưa thuận lợi để doanh nghiệp sẵn sàng cho chuyển đổi xanh. Quá trình chuyển đổi xanh đòi hỏi lực đẩy mạnh mẽ từ chuyển đổi số, sự thay đổi công nghệ, đặc biệt là công nghệ trong sản xuất để tạo ra sản phẩm chất lượng cao, thân thiện môi trường và hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay công nghệ của Việt Nam cơ bản vẫn là công nghệ và thiết bị cũ, nhất là các doanh nghiệp trong lĩnh vực xi măng, thép. Việc tiếp cận các công nghệ lõi từ khu vực FDI thường hạn chế; việc chuyển giao có thể gặp rào cản về chi phí bản quyền và thiếu đội ngũ chuyên gia kỹ thuật có trình độ cao để vận hành, bảo trì.

Thiếu nhân lực có kỹ năng cho việc chuyển đổi xanh, việc đào tạo chưa được phổ biến mạnh mẽ. Khoảng cách kỹ năng xanh đang ngày càng nới rộng khi nhu cầu về các chuyên gia trong lĩnh vực ESG, kiểm kê khí nhà kính và kinh tế tuần hoàn tăng đột biến nhưng nguồn cung lại khan hiếm. Hệ thống giáo dục và đào tạo vẫn chưa kịp thời cập nhật các giáo trình chuyên biệt. Việc phổ biến kiến thức và kỹ năng xanh hiện đang dừng lại ở các tập đoàn lớn, trong khi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn thiếu hụt các cơ hội tiếp cận các chương trình đào tạo bài bản.

ĐỊNH HƯỚNG THÚC ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH CHUYỂN ĐỔI XANH TRONG DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Thứ nhất, phát triển điện xanh, hợp đồng mua điện dài hạn và điện khí hóa phụ tải.

Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

Trong áp lực giảm phát thải ngày càng gia tăng từ thị trường carbon và cơ chế CBAM, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng chiến lược sử dụng điện sạch chuyển đổi sang sử dụng điện xanh kết hợp với các hợp đồng mua điện dài hạn (PPA) và điện khí hóa phụ tải các thiết bị, quy trình, đặc biệt đối với các ngành tiêu thụ điện lớn như nhôm, thép, xi măng và các khâu sản xuất phụ trợ. Về mặt kinh tế, giải pháp này mang lại lợi ích rõ rệt thông qua việc giảm chi phí carbon biên giới. Cụ thể, theo mức giá chứng chỉ CBAM trong quý I/2026, mỗi tấn CO2e giảm được trong phát thải hàm chứa có thể giúp doanh nghiệp tránh khoảng 75,36 euro chi phí (Directorate-General for Taxation and Customs Union, 2026). Như vậy, chỉ cần giảm 10.000 tCO2e đã tương đương khoảng 0,754 triệu euro chi phí carbon được tiết kiệm, bên cạnh các lợi ích bổ sung như ổn định giá điện dài hạn thông qua PPA và khả năng hưởng “ưu tiên xanh” khi xuất khẩu.

Thứ hai, xây dựng danh mục sản phẩm carbon thấp và chiến lược nguyên liệu thay thế.

Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy bị động sang chủ động tái cấu trúc danh mục sản phẩm. Thay vì áp chi phí carbon lên cùng một dòng sản phẩm truyền thống, cách tiếp cận hiệu quả là phân tách danh mục thành 2 tầng: (i) sản phẩm phục vụ thị trường đại trà và (ii) sản phẩm carbon đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường EU hoặc khách hàng quốc tế. Trong ngành xi măng, điều này đồng nghĩa với việc giảm tỷ lệ clinker, tăng sử dụng vật liệu bổ sung như tro bay, xỉ, và đẩy mạnh nhiên liệu thay thế nhằm giảm phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm. Đối với ngành thép, doanh nghiệp có thể tăng tỷ lệ sử dụng phế liệu, phát triển tuyến công nghệ lò điện hồ quang, hoặc tối thiểu là tách riêng dòng sản phẩm có mức phát thải thấp hơn phục vụ các thị trường yêu cầu tiêu chuẩn carbon. Trong ngành nhôm, chiến lược trọng tâm là nâng tỷ lệ tái chế và sử dụng điện sạch nhằm giảm phát thải gián tiếp. Theo IFC (2023), các giải pháp có tính khả thi thương mại trong giai đoạn hiện nay chủ yếu vẫn là nâng cao hiệu suất, tăng cường sử dụng nguyên liệu tái chế/thay thế và giảm phụ thuộc vào đầu vào có cường độ carbon cao. Trong khi đó, các công nghệ đột phá như hydrogen xanh hay thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS) vẫn chưa thực sự khả thi về mặt kinh tế trước năm 2035 nếu thiếu các cơ chế hỗ trợ tài khóa.

Thứ ba, xây dựng hệ thống hạch toán carbon, MRV và quản trị dữ liệu CBAM.

Trước các yêu cầu minh bạch hóa phát thải ngày càng chặt chẽ, việc xây dựng hệ thống hạch toán carbon, đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV) và quản trị dữ liệu CBAM là giải pháp hạ tầng mang tính nền tảng, đóng vai trò quyết định để các giải pháp giảm phát thải khác chuyển hóa thành giá trị tài chính cụ thể. Theo quy định, nhà nhập khẩu phải là người khai báo được uỷ quyền và có trách nhiệm khai báo phát thải hàm chứa của hàng hóa, đồng nghĩa dữ liệu phát thải từ phía nhà sản xuất ngoài EU có thể được tích hợp trực tiếp vào hệ thống đăng ký, và chỉ những doanh nghiệp có hệ thống dữ liệu đạt chuẩn mới được chấp nhận sử dụng trong báo cáo chính thức (Directorate-General for Taxation and Customs Union (2026). Song song, tại Việt Nam, các cơ sở thuộc danh mục kiểm kê khí nhà kính bắt buộc phải thực hiện báo cáo kiểm kê và xây dựng kế hoạch giảm phát thải cấp cơ sở. Một hệ thống MRV và quản trị dữ liệu được đầu tư bài bản đồng thời phục vụ cả nghĩa vụ pháp lý trong nước và yêu cầu từ khách hàng, đối tác tại EU.

Thứ tư, giảm phát thải chuỗi cung ứng gắn với tài chính carbon và tín dụng xanh.

Về nguyên tắc của CBAM, chỉ phần giá carbon đã thực sự được trả tại nước xuất khẩu thông qua thuế carbon hoặc hệ thống ETS mới được ghi nhận, tín chỉ carbon tự nguyện không được sử dụng trực tiếp để bù trừ nghĩa vụ CBAM. Tuy nhiên, các công cụ tài chính carbon và tín dụng xanh vẫn đóng vai trò rất quan trọng giúp doanh nghiệp tài trợ cho các dự án giảm phát thải, giảm chi phí sử dụng vốn (WACC), đồng thời tạo thêm dòng doanh thu từ việc bán tín chỉ carbon trong thị trường. Tại Việt Nam, tài chính carbon đã được thể hiện ở các giao dịch với giá trị thực, khoảng 51,5 triệu USD cho 10,3 triệu tCO2e (tương đương khoảng 5 USD/tấn CO2e), và nhiều giao dịch/dự án đang hướng tới mức giá tối thiểu khoảng 10 USD/tấn CO2e (World Bank, 2024), phản ánh rằng doanh nghiệp hoàn toàn có thể khai thác nguồn lực tài chính từ thị trường carbon để phục vụ chiến lược chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp cần tích hợp quản trị phát thải vào quản trị chuỗi cung ứng, đồng thời chủ động tiếp cận các công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh, và thị trường carbon, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng trong kỷ nguyên kinh tế carbon thấp.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bùi Văn Huyền và cộng sự (2025). Báo cáo kết quả khảo sát doanh nghiệp về chuyển đổi kép.
  2. Directorate-General for Taxation and Customs Union (2026). CBAM Registry and Reporting. European Commission.
  3. International Finance Corporation (2023). Building green and sustainable construction in emerging markets. IFC.
  4. Jennifer, L. (2026). EU carbon prices hit highest since August 2023: What causes the surge? CarbonCredits.com.
  5. Mai Trí Hiếu (2025). Phát triển xanh cho ngành thép Việt Nam: Lộ trình chuyển đổi hướng tới sản xuất bền vững và giảm phát thải carbon. Trường Đại học Trà Vinh.
  6. MCG (2024). Đánh giá mức độ thực hành ESG của doanh nghiệp Việt Nam.
  7. PwC Vietnam (2025). From commitment to execution: ESG adoption trends in Vietnam’s banking industry. PwC Vietnam.
  8. Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp (2025). Xanh hoá bất động sản công nghiệp.
  9. VnEconomy (2026). Năng lượng xanh và nông, lâm nghiệp chiếm 90% dư nợ tín dụng xanh.
  10. Vũ Thị Phương Liên (2025). Xu hướng ESG & chuyển đổi xanh trên thế giới và cơ hội cho doanh nghiệp Việt.
  11. World Bank (2024). Việt Nam nhận được khoản chi trả 51,5 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới cho giảm phát thải thông qua bảo tồn rừng.
  12. World Bank (2025). State and Trends of Carbon Pricing 2025. Washington, DC.
Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026

Tin tức khác

Gần 2,6 triệu lượt người tham gia cuộc thi tìm hiểu Hiến pháp và pháp luật

Gần 2,6 triệu lượt người tham gia cuộc thi tìm hiểu Hiến pháp và pháp luật

Cuộc thi trực tuyến trên Cổng Pháp luật quốc gia Tìm hiểu Hiến pháp và pháp luật do Bộ Tư pháp tổ chức đã chính thức kết thúc và ghi nhận 2.584.819 lượt người tham gia.
Siết tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe công theo biên chế và đặc thù địa bàn

Siết tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe công theo biên chế và đặc thù địa bàn

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 379/2026/NĐ-CP ngày 2/10/2026 quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô.
Tăng tới 1,5 lần mức hỗ trợ khuyến công để thu hút đầu tư vào ngành nghề ưu tiên

Tăng tới 1,5 lần mức hỗ trợ khuyến công để thu hút đầu tư vào ngành nghề ưu tiên

Việc tăng mức hỗ trợ đối với các địa bàn, ngành nghề ưu tiên lên tới 1,5 lần mức hỗ trợ thông thường là một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư 139/2026/TT-BTC.
Cảnh báo loạt thủ đoạn lừa đảo, vi phạm trên thị trường bất động sản

Cảnh báo loạt thủ đoạn lừa đảo, vi phạm trên thị trường bất động sản

Cục An ninh kinh tế (Bộ Công an) cảnh báo nhiều thủ đoạn trên thị trường bất động sản tiềm ẩn nguy cơ khiến người mua mất tiền, vướng tranh chấp.
Bổ sung nhiệm vụ vào Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa

Bổ sung nhiệm vụ vào Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa

Nghị quyết số 299/NQ-CP bổ sung các quan điểm, định hướng lớn tại phần II Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW.
Dự kiến hỗ trợ ngân sách cho hợp tác xã chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo

Dự kiến hỗ trợ ngân sách cho hợp tác xã chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo

Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi thường xuyên để thực hiện các chính sách hỗ trợ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Cảnh giác website giả mạo Bộ Tài chính để lừa đảo liên quan đến khoản vay

Cảnh giác website giả mạo Bộ Tài chính để lừa đảo liên quan đến khoản vay

Hàng loạt website, cổng thông tin điện tử có dấu hiệu giả mạo Bộ Tài chính đang xuất hiện trên không gian mạng, trong đó đáng chú ý là các trang lợi dụng thông tin về khoản vay, thu hồi nợ để tiếp cận người dân.
Gấp rút chuẩn bị nhân lực để thí điểm luật sư công từ 1/10

Gấp rút chuẩn bị nhân lực để thí điểm luật sư công từ 1/10

Bộ Tư pháp đề nghị các cơ quan thực hiện thí điểm chế định luật sư công khẩn trương rà soát nhân sự, gửi hồ sơ đợt đầu trước ngày 5/10 để bảo đảm công bố danh sách luật sư công đợt đầu chậm nhất ngày 15/10.
Xem thêm
video gia han uu dai thue o to den nam 2032 cu hich thuc day san xuat va xuat khau xe viet

VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt

Nhằm tạo môi trường chính sách ổn định và có tính dự báo cao cho các nhà sản xuất, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 26/2023/NĐ-CP. Điểm nhấn quan trọng nhất là đề xuất kéo dài Chương trình ưu đãi thuế suất 0% đối với linh kiện ô tô nhập khẩu thêm 5 năm, tức kéo dài đến hết năm 2032. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video mo rong kenh dan von cho giai doan tang truong moi

VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới

Chiều ngày 2/10, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Hội nghị thường niên lần thứ 31 của Diễn đàn Chứng khoán châu Á, Diễn đàn chuyên đề Việt Nam với chủ đề “Đầu tư vào Việt Nam - Vươn mình trong kỷ nguyên mới” đã diễn ra, quy tụ các chuyên gia, tổ chức tài chính quốc tế và thành viên thị trường. Một trong những nội dung trọng tâm tại diễn đàn là bài toán huy động nguồn lực cho giai đoạn tăng trưởng mới của Việt Nam. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast buc tranh tang truong grdp 9 thang nam 2026 nhung cu but toc dang chu y

PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý

Quý III/2026 chứng kiến đà tăng tốc rõ nét của kinh tế địa phương, khi 27/34 tỉnh, thành phố có tốc độ tăng GRDP cao hơn quý trước. Sau 9 tháng, có 12 địa phương đạt mức tăng trưởng hai con số, với những cú bứt phá đáng chú ý làm thay đổi cục diện trên bảng xếp hạng. ------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast bo tai chinh luu y 5 noi dung quan trong trong cham diem giai ngan dau tu cong

PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công

Thực hiện Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương án chấm điểm các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương về thực hiện giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công, Bộ Tài chính vừa có văn bản đề nghị các đơn vị tiếp tục triển khai phương án chấm điểm và lưu ý một số nội dung trong các kỳ tiếp theo. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video giai bai toan chi phi logistics coi troi bien loi nhuan cho hang xuat khau viet

VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt

Dù kim ngạch xuất nhập khẩu 8 tháng năm 2026 đạt kỷ lục 770,14 tỷ USD, chi phí logistics hiện vẫn chiếm tới 16 - 17% GDP, cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung thế giới. ------------------------------ Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV xem xét nhiều nội dung quan trọng

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV xem xét nhiều nội dung quan trọng

Sáng 5/10, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Hội nghị xem xét, thảo luận nhiều nội dung quan trọng về công tác cán bộ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững

Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh đang đặt ra yêu cầu chuyển dịch mô hình phát triển: tăng trưởng nhanh đi đôi với phát triển bền vững.
Khai mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

Khai mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

Sáng ngày 5/10, tại Hà Nội, Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV chính thức khai mạc để xem xét những vấn đề quan trọng về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển đất nước.
Đưa đổi mới sáng tạo thành năng lực phát triển của toàn xã hội

Đưa đổi mới sáng tạo thành năng lực phát triển của toàn xã hội

Sáng 4/10, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Lễ hưởng ứng Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 với chủ đề “Đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển của toàn xã hội”.
Các địa phương tăng tốc, tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Các địa phương tăng tốc, tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Trên nền tảng tăng trưởng 9 tháng đạt kết quả tích cực, nhiều địa phương đang tăng tốc giải ngân đầu tư công, tháo gỡ dự án và khơi thông nguồn lực, tạo dư địa quyết tâm hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Khơi thông nguồn lực, tạo sức bật cho tăng trưởng 2 con số

Khơi thông nguồn lực, tạo sức bật cho tăng trưởng 2 con số

Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, trong những tháng cuối năm, yêu cầu đặt ra là khơi thông, sử dụng hiệu quả nguồn lực và rút ngắn khoảng cách từ chính sách đến thực thi.
Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ

Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ

Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài gồm cả vốn cấp mới và điều chỉnh trong 9 tháng năm 2026 đạt 2,77 tỷ USD, gấp 3,3 lần so với cùng kỳ năm trước.
Dư nợ tín dụng đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tiếp tục hướng vốn vào các động lực tăng trưởng

Dư nợ tín dụng đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tiếp tục hướng vốn vào các động lực tăng trưởng

Đến ngày 30/9, tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025. Trong quý IV, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng, đồng thời kiểm soát chặt tín dụn
Chính phủ kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tăng tốc trong 3 tháng cuối năm

Chính phủ kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tăng tốc trong 3 tháng cuối năm

Chính phủ tiếp tục kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tăng tốc trong 3 tháng cuối năm, phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ, tài khóa, giải ngân 100% vốn đầu tư công và khơi thông các nguồn lực cho tă
Nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ nhịp tăng trưởng, củng cố trụ đỡ nền kinh tế

Nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ nhịp tăng trưởng, củng cố trụ đỡ nền kinh tế

Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02% trong 9 tháng, cao nhất từ năm 2019, tiếp tục là trụ đỡ kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và nâng giá trị sản xuất.
Từ khai thác biển sang quản trị không gian biển, mở rộng dư địa tăng trưởng

Từ khai thác biển sang quản trị không gian biển, mở rộng dư địa tăng trưởng

Nghị quyết số 20- NQ/TW và Nghị quyết số 218/NQ-CP thúc đẩy chuyển tư duy từ khai thác tài nguyên sang quản trị không gian biển, mở dư địa xây dựng quốc gia biển mạnh.
Metro số 4 TP. Hồ Chí Minh dự kiến có 31 nhà ga, dài 45 km

Metro số 4 TP. Hồ Chí Minh dự kiến có 31 nhà ga, dài 45 km

Nhiều phường, xã tại TP. Hồ Chí Minh đang tổ chức tham vấn ý kiến cộng đồng dân cư về phương án tuyến và vị trí các công trình thuộc dự án Metro số 4.
Việt Nam - Tanzania mở thêm dư địa hợp tác thương mại, đầu tư

Việt Nam - Tanzania mở thêm dư địa hợp tác thương mại, đầu tư

Với những lợi thế bổ trợ về thị trường, sản xuất, tài nguyên và vị trí địa kinh tế, Việt Nam và Tanzania còn nhiều dư địa để mở rộng thương mại, đầu tư, cùng sản xuất và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực.
Bức tranh thị trường qua lăng kính Top 10 Công ty uy tín ngành Nông nghiệp công nghệ cao năm 2026

Bức tranh thị trường qua lăng kính Top 10 Công ty uy tín ngành Nông nghiệp công nghệ cao năm 2026

Vietnam Report vừa công bố danh sách Top 10 Công ty uy tín ngành Nông nghiệp công nghệ cao năm 2026 cùng những điểm nhấn xu hướng thị trường ngành.
Nâng cấp chuỗi giá trị: Động lực tăng trưởng nhanh và bền vững, kiến tạo lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam

Nâng cấp chuỗi giá trị: Động lực tăng trưởng nhanh và bền vững, kiến tạo lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam

Phát triển bền vững chỉ thực chất và bền lâu khi gắn liền với lợi ích kinh tế thiết thực của từng mắt xích trong chuỗi giá trị, từ nông dân, nhà máy đến các doanh nghiệp
Tháo điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo

Tháo điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo

Triển khai thi hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học.
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững

Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh đang đặt ra yêu cầu chuyển dịch mô hình phát triển: tăng trưởng nhanh đi đôi với phát triển bền vững.
Dòng vốn FDI mới ưu tiên công nghệ, logistics và hạ tầng

Dòng vốn FDI mới ưu tiên công nghệ, logistics và hạ tầng

TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) với hơn 18 tỷ USD đăng ký, dịch chuyển mạnh vào công nghệ cao, logistics và hạ tầng.