Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM
PGS.TS.Bùi Văn Huyền
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: huyenqlkt@gmail.com
TS.Đặng Thị Thu Hoài
Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương
ThS.Nguyễn Thị Lan Anh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Phan Thị Anh Đào
Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương
MỞ ĐẦU
Diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu trên toàn cầu đang thúc đẩy việc hình thành các cơ chế, chính sách đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh. Cơ chế định giá carbon đã được hình thành và phát triển, các quy định môi trường ngày càng chặt chẽ. Thị trường tín chỉ carbon quốc tế đã phát triển nhanh chóng cả về quy mô và mức độ phức tạp. Doanh thu từ các công cụ định giá carbon trên thế giới lần đầu vượt mốc 100 tỷ USD vào năm 2024. Hiện có khoảng 80 hệ thống định giá carbon đang hoạt động, bao gồm 37 hệ thống mua bán phát thải (ETS) và 43 cơ chế thuế carbon, bao phủ khoảng 28% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu (World Bank, 2025). Việc định giá carbon đã trở thành một xu thế chủ đạo trong hợp tác và thương mại quốc tế, buộc các doanh nghiệp phải tính toán chi phí carbon trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ ngày 01/01/2026, sau giai đoạn chuyển tiếp, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) bước vào giai đoạn chính thức, yêu cầu nhà nhập khẩu mua và nộp chứng chỉ tương ứng với lượng phát thải của hàng hóa nhập khẩu. Giá chứng chỉ CBAM gắn với giá đấu giá bình quân của hạn ngạch hệ thống mua bán phát thải của Liên minh châu Âu (EU) trên mỗi tấn CO2. Đáng chú ý, giá carbon ở châu Âu những năm gần đây ở mức rất cao, giá hạn ngạch EU đã vượt 92 EUR/tấn CO2 đầu năm 2026 (Jennifer L., 2026). CBAM hiện tập trung vào 6 nhóm hàng gồm sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydrogen - những lĩnh vực có liên quan đến chuỗi cung ứng xuất khẩu của Việt Nam. Riêng ngành thép, EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai, cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam sẽ chịu tác động trực tiếp từ chính sách mới.
Trước những yêu cầu quốc tế, Việt Nam đã sớm thể hiện chủ trương nhất quán về tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế bền vững. Tại COP26, Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đồng thời gắn với việc tham gia sáng kiến giảm 30% phát thải khí metan vào năm 2030. Các chính sách, kế hoạch trọng yếu được ban hành nhằm cụ thể hóa mục tiêu trung hòa carbon như Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh 2021-2030, Kế hoạch giảm phát thải metan 2030, Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng Xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050… đã tạo khung định hướng quan trọng. Áp lực của thị trường carbon, CBAM và định hướng chính sách đang hướng đến thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp, chỉ rõ những hạn chế, khó khăn, vướng mắc từ đó đề xuất định hướng chính sách thúc đẩy chuyển đổi xanh trong thời gian tới.
THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI XANH TRONG DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Về mức độ thực hiện chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp
![]() |
Nhận thức và hành động chuyển đổi xanh của doanh nghiệp mặc dù đã được cải thiện trong thời gian gần đây nhưng còn thấp. Theo đánh giá của MCG (2024) mức độ thực hành ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) của doanh nghiệp Việt Nam hiện mới ở ngưỡng trung bình. Trong đó, trụ cột Môi trường có điểm số thấp nhất với 52%, phản ánh sự hạn chế về nhận thức, năng lực quản lý phát thải và mức độ triển khai các mô hình kinh tế tuần hoàn. Ngược lại, trụ cột Xã hội đạt khoảng 68% nhờ doanh nghiệp tuân thủ tốt các quy định về lao động, an toàn và trách nhiệm cộng đồng. Trụ cột Quản trị đạt khoảng 63% cho thấy đã có nền tảng quản trị cơ bản nhưng còn hạn chế về minh bạch thông tin và vai trò giám sát ESG của hội đồng quản trị. Nhìn chung, nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp cận ESG theo hướng tuân thủ và dễ triển khai trước, chưa tích hợp đầy đủ vào chiến lược phát triển cốt lõi dài hạn.
Quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp tại Việt Nam đang diễn ra không đồng đều và có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm doanh nghiệp. Cụ thể, nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dẫn đầu về thực hành ESG, khoảng 71%, phản ánh mức độ hội nhập quốc tế sâu rộng và khả năng tiếp cận các tiêu chuẩn môi trường toàn cầu. Trong khi đó, các doanh nghiệp niêm yết tuy đã có những bước tiến nhất định nhờ áp lực từ thị trường vốn và yêu cầu minh bạch thông tin. Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có tỷ lệ triển khai thấp nhất, chỉ khoảng 27%, cho thấy những hạn chế đáng kể về nguồn lực tài chính, công nghệ và nhận thức. Thực trạng này thể hiện quá trình chuyển đổi xanh hiện nay chủ yếu được thúc đẩy bởi các yếu tố bên ngoài, thay vì xuất phát từ động lực nội sinh của doanh nghiệp trong nước.
Về vốn đầu tư và hạ tầng công nghệ
Vốn đầu tư vào chuyển đổi xanh có xu hướng gia tăng. Đến ngày 31/12/2025, dư nợ tín dụng đối với các lĩnh vực xanh đạt gần 780 nghìn tỷ đồng, tăng 14,62% so với cuối năm 2024, chiếm 4,19% tổng dư nợ toàn nền kinh tế (VnEconomy, 2026), thể hiện nhận thức của doanh nghiệp đã có sự chuyển biến rõ rệt, từ bị động sang chủ động thúc đẩy chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, tại khảo sát của Bùi Văn Huyền và cộng sự (2025) đối với 135 doanh nghiệp ở một số ngành công nghiệp chủ chốt (công nghệ, sản xuất, năng lượng tái tạo, dịch vụ) tại 9 tỉnh, thành phố trên cả nước, có đến 32,6% doanh nghiệp không lựa chọn đầu tư vào chuyển đổi xanh. Nguyên nhân được cho là do hạn chế về nguồn lực tài chính, thiếu thông tin và năng lực triển khai, cũng như lo ngại về chi phí đầu tư ban đầu cao và thời gian hoàn vốn dài.
Yêu cầu chuyển đổi xanh cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải áp dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa và năng lượng tái tạo trong sản xuất. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn chủ yếu vận hành theo công nghệ cũ, dây chuyền truyền thống, phần lớn chưa đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi. Một số đơn vị tiên phong, thường là các khu công nghiệp và doanh nghiệp lớn đã đầu tư mạnh cho công nghệ xanh. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp khó khăn trong huy động vốn để lắp đặt hệ thống đo và xử lý khí thải, hầu hết vẫn chưa có hệ thống tự động hoá và quản lý năng lượng thông minh; công nghệ số mới cho sản xuất sạch hầu như chưa phổ biến rộng rãi. Trong khi có 41,5% doanh nghiệp phản ánh đáp ứng một phần nhu cầu, 24,4% doanh nghiệp nhận định hạ tầng công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu, theo kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu đối với 135 doanh nghiệp nêu trên.
Về nguồn nhân lực thực hiện chuyển đổi xanh
Nguồn lao động sở hữu kỹ năng xanh tại các doanh nghiệp bộc lộ rõ những hạn chế về năng lực triển khai và khả năng đáp ứng yêu cầu chuyên môn mới. Theo Báo cáo Theo dõi tiến độ thực hành ESG (PwC, 2025), 89% doanh nghiệp Việt Nam đã có hoặc dự kiến triển khai ESG, nhưng chỉ 19% tích hợp đầy đủ vào mô hình kinh doanh, thể hiện rõ hạn chế về năng lực triển khai, trong đó yếu tố nhân lực là then chốt. Cũng tại khảo sát của Bùi Văn Huyền và cộng sự (2025) về mức độ đáp ứng kỹ năng và năng lực cho nhu cầu chuyển đổi xanh của nguồn nhân lực, chỉ có 6,7% nguồn nhân lực đáp ứng rất tốt yêu cầu chuyển đổi xanh trong doanh nghiệp trong khi 20,7% doanh nghiệp có nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu, còn lại phần lớn đáp ứng một phần nhu cầu của doanh nghiệp.
Trong khi đó, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước đối với chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp bắt đầu có tín hiệu khả quan, với khoảng 60% doanh nghiệp đánh giá tích cực. Điều này cho thấy các chính sách bước đầu phát huy hiệu quả và tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, cũng theo khảo sát trên, tỷ lệ doanh nghiệp chỉ đánh giá ở mức “giúp ích một phần” và “không hữu ích” vẫn còn đáng kể, lần lượt là 20% và 12,6%, phản ánh những dư địa để cải thiện kết quả thực thi, khả năng tiếp cận và mức độ phù hợp của chính sách; đồng thời, một bộ phận doanh nghiệp chưa nắm bắt đầy đủ thông tin về các chính sách hỗ trợ.
CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Các cơ hội phát triển
![]() |
Xét về tiềm năng và cơ hội phát triển, doanh nghiệp Việt Nam tham gia quá trình chuyển đổi xanh được đánh giá cao với nhiều lợi thế cạnh tranh: Cơ hội tiếp cận nguồn tài chính bền vững trong tiến trình chuyển đổi xanh. Thị trường tài chính toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc, với dòng vốn dịch chuyển sang các khoản đầu tư xanh. Thị trường carbon vận hành chính thức vào năm 2028 sẽ tạo ra một động lực tài chính trực tiếp, khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào các giải pháp giảm phát thải. Doanh nghiệp Việt Nam có hồ sơ ESG minh bạch và hiệu quả sẽ có lợi thế vượt trội trong việc thu hút nguồn vốn này.
Cơ hội gia nhập và nâng tầm vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu xanh. Việc chủ động thích ứng với các quy định khắt khe giúp doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật và tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội khi tiếp cận các thị trường phát triển. Sự chuyển dịch này đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ phát thải thấp, nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên và giảm thiểu các rủi ro chuyển đổi trong dài hạn. Thông qua việc nâng cao năng lực tuân thủ bền vững, doanh nghiệp nội địa có khả năng thoát khỏi bẫy gia công giá trị thấp để tiến tới các phân khúc có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn.
Chuyển đổi xanh là đòn bẩy chiến lược trong quản trị và thu hút vốn nhân lực. Thế hệ lao động trẻ ngày càng quan tâm đến môi trường làm việc có mục tiêu, trách nhiệm xã hội và tính minh bạch. Doanh nghiệp theo đuổi ESG một cách thực chất có thể nâng cao sự gắn kết của người lao động, giảm chi phí tuyển dụng, tăng khả năng giữ chân nhân sự có chất lượng. Về dài hạn, việc sở hữu đội ngũ nhân sự chất lượng cao, đồng nhất về tư duy phát triển bền vững (PTBV) là nền tảng cốt lõi giúp doanh nghiệp củng cố nội lực, gia tăng khả năng thích ứng và khẳng định vị thế dẫn dắt trong cấu trúc kinh tế carbon thấp của tương lai.
Một số rào cản, thách thức
Khó khăn về nguồn lực tài chính đầu tư cho phát triển bền vững trong khu vực công. Việc huy động nguồn lực tài chính cho PTBV hiện đang đối mặt với những rào cản mang tính hệ thống và cấu trúc sâu sắc. Trước hết, khoảng cách tài chính lớn giữa nhu cầu đầu tư hạ tầng xanh và khả năng đáp ứng giới hạn của ngân sách quốc gia đang tạo ra áp lực lớn lên nợ công. Thứ hai, các rủi ro phi tài chính cùng tính bất định trong lộ trình chuyển đổi khiến chi phí vốn của các dự án xanh thường cao hơn đáng kể so với các ngành công nghiệp truyền thống.
Các dự án hướng tới tăng trưởng xanh, giảm phát thải có thời gian hoàn vốn dài, mức độ rủi ro cao và chưa có cơ chế đảm bảo lợi nhuận rõ ràng. Các dự án hạ tầng xanh và giảm phát thải thường yêu cầu chi phí đầu tư ban đầu lớn, dẫn đến thời gian hoàn vốn kéo dài, gây áp lực lên dòng tiền của doanh nghiệp. Mức độ rủi ro hệ thống tăng cao do sự bất định về lộ trình công nghệ và sự thiếu hụt các quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ trong nước. Đặc biệt, việc chưa có các cơ chế đảm bảo lợi nhuận rõ ràng khiến các chỉ số NPV (Giá trị hiện tại ròng) và IRR (Tỷ suất hoàn vốn nội bộ) trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
Hạ tầng công nghệ chưa thuận lợi để doanh nghiệp sẵn sàng cho chuyển đổi xanh. Quá trình chuyển đổi xanh đòi hỏi lực đẩy mạnh mẽ từ chuyển đổi số, sự thay đổi công nghệ, đặc biệt là công nghệ trong sản xuất để tạo ra sản phẩm chất lượng cao, thân thiện môi trường và hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay công nghệ của Việt Nam cơ bản vẫn là công nghệ và thiết bị cũ, nhất là các doanh nghiệp trong lĩnh vực xi măng, thép. Việc tiếp cận các công nghệ lõi từ khu vực FDI thường hạn chế; việc chuyển giao có thể gặp rào cản về chi phí bản quyền và thiếu đội ngũ chuyên gia kỹ thuật có trình độ cao để vận hành, bảo trì.
Thiếu nhân lực có kỹ năng cho việc chuyển đổi xanh, việc đào tạo chưa được phổ biến mạnh mẽ. Khoảng cách kỹ năng xanh đang ngày càng nới rộng khi nhu cầu về các chuyên gia trong lĩnh vực ESG, kiểm kê khí nhà kính và kinh tế tuần hoàn tăng đột biến nhưng nguồn cung lại khan hiếm. Hệ thống giáo dục và đào tạo vẫn chưa kịp thời cập nhật các giáo trình chuyên biệt. Việc phổ biến kiến thức và kỹ năng xanh hiện đang dừng lại ở các tập đoàn lớn, trong khi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn thiếu hụt các cơ hội tiếp cận các chương trình đào tạo bài bản.
ĐỊNH HƯỚNG THÚC ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH CHUYỂN ĐỔI XANH TRONG DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Thứ nhất, phát triển điện xanh, hợp đồng mua điện dài hạn và điện khí hóa phụ tải.
![]() |
Trong áp lực giảm phát thải ngày càng gia tăng từ thị trường carbon và cơ chế CBAM, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng chiến lược sử dụng điện sạch chuyển đổi sang sử dụng điện xanh kết hợp với các hợp đồng mua điện dài hạn (PPA) và điện khí hóa phụ tải các thiết bị, quy trình, đặc biệt đối với các ngành tiêu thụ điện lớn như nhôm, thép, xi măng và các khâu sản xuất phụ trợ. Về mặt kinh tế, giải pháp này mang lại lợi ích rõ rệt thông qua việc giảm chi phí carbon biên giới. Cụ thể, theo mức giá chứng chỉ CBAM trong quý I/2026, mỗi tấn CO2e giảm được trong phát thải hàm chứa có thể giúp doanh nghiệp tránh khoảng 75,36 euro chi phí (Directorate-General for Taxation and Customs Union, 2026). Như vậy, chỉ cần giảm 10.000 tCO2e đã tương đương khoảng 0,754 triệu euro chi phí carbon được tiết kiệm, bên cạnh các lợi ích bổ sung như ổn định giá điện dài hạn thông qua PPA và khả năng hưởng “ưu tiên xanh” khi xuất khẩu.
Thứ hai, xây dựng danh mục sản phẩm carbon thấp và chiến lược nguyên liệu thay thế.
Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy bị động sang chủ động tái cấu trúc danh mục sản phẩm. Thay vì áp chi phí carbon lên cùng một dòng sản phẩm truyền thống, cách tiếp cận hiệu quả là phân tách danh mục thành 2 tầng: (i) sản phẩm phục vụ thị trường đại trà và (ii) sản phẩm carbon đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường EU hoặc khách hàng quốc tế. Trong ngành xi măng, điều này đồng nghĩa với việc giảm tỷ lệ clinker, tăng sử dụng vật liệu bổ sung như tro bay, xỉ, và đẩy mạnh nhiên liệu thay thế nhằm giảm phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm. Đối với ngành thép, doanh nghiệp có thể tăng tỷ lệ sử dụng phế liệu, phát triển tuyến công nghệ lò điện hồ quang, hoặc tối thiểu là tách riêng dòng sản phẩm có mức phát thải thấp hơn phục vụ các thị trường yêu cầu tiêu chuẩn carbon. Trong ngành nhôm, chiến lược trọng tâm là nâng tỷ lệ tái chế và sử dụng điện sạch nhằm giảm phát thải gián tiếp. Theo IFC (2023), các giải pháp có tính khả thi thương mại trong giai đoạn hiện nay chủ yếu vẫn là nâng cao hiệu suất, tăng cường sử dụng nguyên liệu tái chế/thay thế và giảm phụ thuộc vào đầu vào có cường độ carbon cao. Trong khi đó, các công nghệ đột phá như hydrogen xanh hay thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS) vẫn chưa thực sự khả thi về mặt kinh tế trước năm 2035 nếu thiếu các cơ chế hỗ trợ tài khóa.
Thứ ba, xây dựng hệ thống hạch toán carbon, MRV và quản trị dữ liệu CBAM.
Trước các yêu cầu minh bạch hóa phát thải ngày càng chặt chẽ, việc xây dựng hệ thống hạch toán carbon, đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV) và quản trị dữ liệu CBAM là giải pháp hạ tầng mang tính nền tảng, đóng vai trò quyết định để các giải pháp giảm phát thải khác chuyển hóa thành giá trị tài chính cụ thể. Theo quy định, nhà nhập khẩu phải là người khai báo được uỷ quyền và có trách nhiệm khai báo phát thải hàm chứa của hàng hóa, đồng nghĩa dữ liệu phát thải từ phía nhà sản xuất ngoài EU có thể được tích hợp trực tiếp vào hệ thống đăng ký, và chỉ những doanh nghiệp có hệ thống dữ liệu đạt chuẩn mới được chấp nhận sử dụng trong báo cáo chính thức (Directorate-General for Taxation and Customs Union (2026). Song song, tại Việt Nam, các cơ sở thuộc danh mục kiểm kê khí nhà kính bắt buộc phải thực hiện báo cáo kiểm kê và xây dựng kế hoạch giảm phát thải cấp cơ sở. Một hệ thống MRV và quản trị dữ liệu được đầu tư bài bản đồng thời phục vụ cả nghĩa vụ pháp lý trong nước và yêu cầu từ khách hàng, đối tác tại EU.
Thứ tư, giảm phát thải chuỗi cung ứng gắn với tài chính carbon và tín dụng xanh.
Về nguyên tắc của CBAM, chỉ phần giá carbon đã thực sự được trả tại nước xuất khẩu thông qua thuế carbon hoặc hệ thống ETS mới được ghi nhận, tín chỉ carbon tự nguyện không được sử dụng trực tiếp để bù trừ nghĩa vụ CBAM. Tuy nhiên, các công cụ tài chính carbon và tín dụng xanh vẫn đóng vai trò rất quan trọng giúp doanh nghiệp tài trợ cho các dự án giảm phát thải, giảm chi phí sử dụng vốn (WACC), đồng thời tạo thêm dòng doanh thu từ việc bán tín chỉ carbon trong thị trường. Tại Việt Nam, tài chính carbon đã được thể hiện ở các giao dịch với giá trị thực, khoảng 51,5 triệu USD cho 10,3 triệu tCO2e (tương đương khoảng 5 USD/tấn CO2e), và nhiều giao dịch/dự án đang hướng tới mức giá tối thiểu khoảng 10 USD/tấn CO2e (World Bank, 2024), phản ánh rằng doanh nghiệp hoàn toàn có thể khai thác nguồn lực tài chính từ thị trường carbon để phục vụ chiến lược chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp cần tích hợp quản trị phát thải vào quản trị chuỗi cung ứng, đồng thời chủ động tiếp cận các công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh, và thị trường carbon, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng trong kỷ nguyên kinh tế carbon thấp.
Tài liệu tham khảo:
- Bùi Văn Huyền và cộng sự (2025). Báo cáo kết quả khảo sát doanh nghiệp về chuyển đổi kép.
- Directorate-General for Taxation and Customs Union (2026). CBAM Registry and Reporting. European Commission.
- International Finance Corporation (2023). Building green and sustainable construction in emerging markets. IFC.
- Jennifer, L. (2026). EU carbon prices hit highest since August 2023: What causes the surge? CarbonCredits.com.
- Mai Trí Hiếu (2025). Phát triển xanh cho ngành thép Việt Nam: Lộ trình chuyển đổi hướng tới sản xuất bền vững và giảm phát thải carbon. Trường Đại học Trà Vinh.
- MCG (2024). Đánh giá mức độ thực hành ESG của doanh nghiệp Việt Nam.
- PwC Vietnam (2025). From commitment to execution: ESG adoption trends in Vietnam’s banking industry. PwC Vietnam.
- Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp (2025). Xanh hoá bất động sản công nghiệp.
- VnEconomy (2026). Năng lượng xanh và nông, lâm nghiệp chiếm 90% dư nợ tín dụng xanh.
- Vũ Thị Phương Liên (2025). Xu hướng ESG & chuyển đổi xanh trên thế giới và cơ hội cho doanh nghiệp Việt.
- World Bank (2024). Việt Nam nhận được khoản chi trả 51,5 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới cho giảm phát thải thông qua bảo tồn rừng.
- World Bank (2025). State and Trends of Carbon Pricing 2025. Washington, DC.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026 |
Tin tức khác
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững
Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp
Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng và định hướng
Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp
Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực III kịp thời phổ biến, giáo dục pháp luật
PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính
PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất
INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
Đề xuất luật hóa tập đoàn xuất bản - truyền thông, xuất bản trên không gian mạng
Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững
Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển đất nước
Tăng trưởng 2 con số: Hoàn thiện thị trường vốn để nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực
Việt Nam cần vượt qua những điểm nghẽn của mô hình phát triển cũ
Đón dòng vốn xanh vào các khu công nghiệp
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số











