eMagazine

EMAGAZINE: Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi: Kỳ vọng tháo gỡ “điểm nghẽn” về tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

05:45 | 15/07/2026

Phóng viên: Thưa ông, dự thảo Luật BHXH sửa đổi lần này ngoài việc bổ sung những yêu cầu mới vẫn kế thừa nền tảng đã được thực tiễn kiểm nghiệm, từ góc độ nghị trường, ông đánh giá các quy định mới này đã đủ độ "chín" và có tính khả thi?

Ông Vũ Văn Tiến: Sửa Luật BHXH không chỉ là điều chỉnh một số quy định mang tính kỹ thuật. Đây là cơ hội thiết kế lại bức tranh an sinh được vận hành trong tình hình mới. Bối cảnh hiện nay đã rất khác: tinh gọn bộ máy, phân cấp rõ chính quyền địa phương, cùng với sự bứt phá của chuyển đổi số và liên thông dữ liệu dân cư - lao động - thuế. Luật sửa đổi phải nắm bắt được lợi thế này để tạo ra một hệ thống chính sách vừa linh hoạt, vừa hiện đại, đáp ứng nhu cầu của người lao động

Thực tiễn quản trị xã hội luôn vận động không ngừng, đòi hỏi hành lang pháp lý phải chuyển động đồng bộ để không trở thành 'điểm nghẽn'. Đối với hệ thống BHXH, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải có cơ chế quy định rõ ràng trách nhiệm của các bên, số hóa thông suốt để liên thông dữ liệu, đảm bảo minh bạch tối đa trong quản lý quỹ và trên hết là phải lấy sự hài lòng, thuận tiện của người dân làm thước đo phục vụ.

Việc sửa đổi Luật BHXH là yêu cầu cấp thiết nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, kế thừa các giá trị cốt lõi đã được thực tiễn kiểm chứng. Qua đó, đáp ứng kịp thời những thách thức mới, đồng thời chuẩn hóa cơ chế vận hành để hệ thống an sinh thích ứng linh hoạt, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người dân trước sự phát triển năng động của xã hội.

Trước hết, sửa đổi luật là để bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật khi tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Việc sửa đổi Luật BHXH được đặt trong mối liên hệ với nhiều chủ trương lớn của Đảng, nhất là yêu cầu cải cách chính sách BHXH theo hướng linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế và tiến tới BHXH toàn dân.

Muốn vậy, hệ thống BHXH không thể vận hành hiệu quả nếu trách nhiệm giữa các cấp, các ngành thiếu rõ ràng, dữ liệu phân tán, người dân phải đi lại nhiều nơi, doanh nghiệp lúng túng về thủ tục, còn người lao động có thể bị chậm bảo vệ quyền lợi chỉ vì “khoảng trống”, “vùng trũng” trong phối hợp quản lý.

Vì thế, Luật sửa đổi cần làm rõ hơn trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, cấp xã trong tổ chức thực hiện chính sách, phát triển người tham gia, giảm chậm đóng, trốn đóng BHXH; đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan liên quan.

Phóng viên: Luật BHXH năm 2024 là bước tiến quan trọng trong mở rộng diện bao phủ, bảo đảm an sinh và thúc đẩy chuyển đổi số. Theo ông, việc sửa đổi Luật BHXH lần này cần đáp ứng những yêu cầu thực tiễn nào trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay?

Ông Vũ Văn Tiến: Đích đến cuối cùng của chính sách BHXH không nằm ở sự thông suốt của hệ thống quản lý trên giấy, mà phải đo lường bằng độ thẩm thấu thực tế. Đó là sự bảo vệ kịp thời quyền lợi người lao động, là sự an tâm của người cao tuổi khi tiếp cận lương hưu và là tấm lưới an sinh nâng đỡ vững chắc cho các nhóm yếu thế trong xã hội.

Trong kỷ nguyên mới, hệ thống BHXH cần đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, hướng tới một hệ sinh thái an sinh hiện đại và minh bạch; đảm bảo mọi người dân đều dễ dàng tiếp cận các dịch vụ công cốt lõi: tra cứu quá trình đóng - hưởng, nộp hồ sơ, hay giải quyết chế độ. Cần lưu ý, số hóa phải đi đôi với sự công bằng; việc ứng dụng công nghệ cần có các phương án hỗ trợ thiết thực, dứt khoát không để người yếu thế hay vùng sâu, vùng xa bị bỏ lại phía sau.

Thực tế hiện nay ở nhiều địa phương đã cho thấy xu hướng này. Có nơi 100% đơn vị sử dụng lao động thực hiện nộp hồ sơ điện tử đối với các chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức trên Cổng dịch vụ công ngành BHXH và Cổng dịch vụ công quốc gia. Có địa phương đã cập nhật, xác thực dữ liệu căn cước công dân, định danh cá nhân với tỷ lệ rất cao; triển khai ứng dụng VssID, giao dịch điện tử cho toàn bộ đơn vị sử dụng lao động.

Khi dữ liệu dân cư, lao động, thuế, đăng ký kinh doanh và BHXH được kết nối an toàn, minh bạch, Nhà nước sẽ quản lý tốt hơn tình trạng chậm đóng, trốn đóng, đồng thời có thêm cơ sở để mở rộng diện bao phủ tới lao động phi chính thức, lao động nền tảng số, hộ kinh doanh và những người làm việc linh hoạt.

Mặt khác, việc bổ sung trách nhiệm của người tham gia, người thụ hưởng chế độ BHXH là cần thiết. Người hưởng lương hưu, trợ cấp phải phối hợp xác minh thông tin, cập nhật điều kiện hưởng, bảo đảm quỹ BHXH được chi trả đúng người, đúng chế độ. Nhưng trách nhiệm ấy không được biến thành gánh nặng hành chính. Không thể yêu cầu một cụ già trên 80 tuổi, bệnh nặng, không dùng điện thoại thông minh phải tự xoay xở với xác thực điện tử, giấy ủy quyền, tài khoản ngân hàng, rồi phải ‘canh cánh’ nỗi lo bị gián đoạn lương hưu nếu chậm hoàn tất thủ tục.

Người dân cần cung cấp, cập nhật thông tin cần thiết, nhưng đồng thời chính sách phải được thiết kế cơ chế hỗ trợ đủ gần, dễ hiểu để người cao tuổi, người yếu thế không bị đặt vào thế khó khi thực hiện thủ tục.

Lương hưu là thu nhập, nhưng cũng là sự ghi nhận quá trình lao động của người thụ hưởng. Vì vậy, sửa Luật lần này cần đặt rõ một nguyên tắc: hiện đại hóa nhưng phải bao trùm. Người có khả năng nhận lương hưu qua tài khoản thì khuyến khích mạnh mẽ. Người chưa quen công nghệ thì được hướng dẫn. Người già yếu, khuyết tật, neo đơn, ở vùng sâu, vùng xa thì cần được hỗ trợ tận nơi, hoặc thông qua chính quyền cơ sở, tổ chức dịch vụ, người đại diện hợp pháp.

Việc chi trả không dùng tiền mặt là xu hướng đúng, nhưng không nên trở thành “lối đi một chiều”. Với những người không có tài khoản, không thể sử dụng tài khoản, không có điều kiện tiếp cận dịch vụ ngân hàng hoặc dịch vụ số, vẫn cần có phương thức chi trả phù hợp, an toàn, kịp thời.

Đặc biệt, với lương hưu và trợ cấp hằng tháng, không nên vì vướng mắc thủ tục ủy quyền hoặc xác minh thông tin mà dừng chi trả một cách máy móc, nhất là khi người hưởng thuộc nhóm yếu thế và cơ quan chức năng vẫn đang trong quá trình kiểm tra, hỗ trợ. An sinh xã hội không thể bị ngắt quãng chỉ vì một thủ tục chưa kịp hoàn tất.

Cũng cần nhìn sâu hơn vào ý nghĩa của việc đi nhận lương hưu. Với nhiều người già, đó là một phần đời sống cộng đồng. Khi mọi thứ chuyển lên môi trường số, tiền có thể về nhanh hơn, nhưng những dịp gặp gỡ, giao lưu của tuổi già có thể mất đi. Nếu không tính tới điều này, số hóa có thể vô tình làm người cao tuổi cô đơn hơn. 

Phóng viên: Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã nhiều lần nhấn mạnh tinh thần xây dựng luật phải "bám sát yêu cầu của thực tiễn, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm". Theo ông, Luật BHXH sửa đổi lần này đã thể hiện tinh thần kiến tạo và tháo gỡ "điểm nghẽn" về tình trạng chậm đóng, trốn đóng như thế nào?

Ông Vũ Văn Tiến: Tình trạng trốn đóng, chậm đóng BHXH không đơn thuần là vi phạm về nghĩa vụ tài chính, mà là hành vi làm tổn thương trực tiếp quyền an sinh của người lao động. Đây là một “điểm nghẽn” nhức nhối tước đoạt đi các quyền lợi chính đáng của người tham gia BHXH - từ chế độ ốm đau, thai sản đến hưu trí. Chúng ta cần xem xét lại tính nghiêm minh của các chế tài để bảo vệ tối đa quyền lợi của người lao động

Chính vì thế, sửa luật cần tăng tính răn đe, nhưng cũng phải minh bạch cơ chế phát hiện, cảnh báo sớm, công khai thông tin vi phạm và phối hợp giữa cơ quan bảo hiểm xã hội, thuế, lao động, đăng ký kinh doanh, chính quyền địa phương.

Minh bạch ở đây không chỉ để quản lý tốt hơn, mà còn để củng cố niềm tin. Người lao động phải có quyền biết doanh nghiệp có đóng đầy đủ cho mình hay không. Chính quyền địa phương phải có dữ liệu để nhận diện điểm nóng. Cơ quan quản lý phải có công cụ để can thiệp sớm trước khi vi phạm tích tụ thành tranh chấp lớn.

Tinh thần ấy cũng phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy trong công tác xây dựng pháp luật mà Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã nhiều lần nhấn mạnh: bám sát yêu cầu của thực tiễn, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể, tập trung nghiên cứu, tham gia đóng góp ý kiến các dự thảo luật, nghị quyết nhằm tháo gỡ hiệu quả các vướng mắc, bất cập, nhất là các “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển, bảo đảm các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua đạt chất lượng cao, tạo hành lang pháp lý thuận lợi…

Từ yêu cầu đó, Luật BHXH sửa đổi không dừng lại ở xử lý những vướng mắc trước mắt. Quan trọng hơn, sửa luật cần mở đường cho một mô hình an sinh mới: đa tầng, linh hoạt, dựa trên dữ liệu, lấy người dân làm trung tâm và coi niềm tin của nhân dân là một tài sản chính sách quan trọng.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thu Hương - Dương Hưng

Tin tức khác

Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

Pháp luật
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, chuyển đổi xanh được xác định là một định hướng chiến lược quan trọng nhằm hiện thực hoá các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và 2045. Sự phát triển của thị trường carbon và các cơ chế định giá phát thải, đặc biệt là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) đang làm thay đổi căn bản điều kiện cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Với Việt Nam, Liên minh châu Âu (EU) là một thị trường xuất khẩu quan trọng, chiếm khoảng 12,3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2025, do đó việc áp dụng CBAM sẽ tạo ra áp lực đáng kể đối với doanh nghiệp Việt Nam trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn phát thải và chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, bền vững. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng chuyển đổi xanh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, làm rõ những khó khăn, thách thức đặt ra đối với doanh nghiệp từ đó đề ra một số định hướng chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp.
Phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Pháp luật
Nghiên cứu phân tích quá trình phát triển của thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam trong bối cảnh thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số trong ngành ngân hàng. Trên cơ sở tổng hợp các quy định pháp lý và số liệu thị trường, nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển, mức độ cạnh tranh, kết quả đạt được và các hạn chế trong hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tín dụng. Kết quả cho thấy, thị trường đang tăng trưởng nhanh nhưng vẫn còn tồn tại các vấn đề về chi phí chấp nhận thẻ, rủi ro tín dụng, gian lận thanh toán và sự chênh lệch về hạ tầng thanh toán. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao quản trị rủi ro, mở rộng hạ tầng thanh toán và phát triển thị trường thẻ tín dụng theo hướng an toàn, minh bạch và bền vững.
Kiểm soát lạm phát: Không nên đồng thời nới lỏng mạnh cả tài khóa và tiền tệ

Kiểm soát lạm phát: Không nên đồng thời nới lỏng mạnh cả tài khóa và tiền tệ

Góc chuyên gia & nhà quản lý
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, TS. Lê Quốc Phương, Nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương) nhận định mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 sẽ đối mặt với nhiều thách thức. Do đó cần điều hành linh hoạt, phối hợp hài hòa giữa chính sách tài khóa và tiền tệ.
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân

Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân

Góc chuyên gia & nhà quản lý
Chỉ khi đánh giá đúng "sức khỏe" của khu vực kinh tế tư nhân mới có thể thiết kế những chính sách trúng, đúng và đủ mạnh để khơi thông động lực tăng trưởng, hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.
Niềm tin - lợi thế cạnh tranh mới của thị trường vốn

Niềm tin - lợi thế cạnh tranh mới của thị trường vốn

Góc chuyên gia & nhà quản lý
Trong bối cảnh các dòng vốn toàn cầu ngày càng coi trọng tính minh bạch, khả năng quản trị và các tiêu chuẩn phát triển bền vững, niềm tin đang trở thành yếu tố quyết định sức hấp dẫn của mỗi thị trường vốn.
Nghị định số 200/2026/NĐ-CP gỡ nút thắt lớn trong phát hành trái phiếu

Nghị định số 200/2026/NĐ-CP gỡ nút thắt lớn trong phát hành trái phiếu

Góc chuyên gia & nhà quản lý
Nghị định số 200/2026/NĐ-CP đã làm rõ mục đích phát hành trái phiếu, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho doanh nghiệp phát hành và đơn vị tư vấn, giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn thuận lợi và minh bạch hơn.
Đầu tư ra nước ngoài: Doanh nghiệp Việt cần một "chiếc kiềng ba chân" vững chắc

Đầu tư ra nước ngoài: Doanh nghiệp Việt cần một "chiếc kiềng ba chân" vững chắc

Góc chuyên gia & nhà quản lý
Sau nhiều năm chủ yếu thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI). Theo ông Đỗ Nguyễn Hồng Linh, Giám đốc Vietnam Industry Zone (VIZ), Chuyên gia nghiên cứu đầu tư quốc tế, đây là thời điểm mở ra nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực quản trị, thích ứng với môi trường quốc tế và xây dựng một chiến lược đầu tư bài bản, bền vững.
Những động lực mới sẽ tiếp sức cho tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm

Những động lực mới sẽ tiếp sức cho tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm

Góc chuyên gia & nhà quản lý
Mức tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm 2026 đã tạo nền tảng tích cực cho nền kinh tế, song để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm ở mức 10%, trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Ban Hệ thống tài khoản quốc gia (Cục Thống kê - Bộ Tài chính) đã chia sẻ những áp lực sẽ đối mặt và phân tích rõ những động lực đủ mạnh để kinh tế Việt Nam tạo nên cú bứt phá quyết định.
Xem thêm