Kiểm toán hoạt động đối với mục tiêu phát triển bền vững 6.1: Cơ sở tiếp cận và gợi ý tiêu chí kiểm toán cho Việt Nam
ThS.Trần Thị Minh Hà
Vụ Tổng hợp, Kiểm toán nhà nước; Email: Minhha060890@gmail.com
GIỚI THIỆU
Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc đặt ra 17 mục tiêu phát triển bền vững (MTPTBV), trong đó mục tiêu 6 hướng tới bảo đảm sự sẵn có và quản lý bền vững nước và vệ sinh cho tất cả mọi người. Trong mục tiêu 6, mục tiêu cụ thể 6.1 tập trung vào việc đến năm 2030 đạt được tiếp cận phổ cập và công bằng với nước uống an toàn, có khả năng chi trả cho tất cả mọi người. Trong bối cảnh đó, Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) và Sáng kiến phát triển INTOSAI (IDI) đã nhấn mạnh vai trò của các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) trong kiểm toán việc thực hiện các MTPTBV. Mô hình kiểm toán các MTPTBV của IDI (ISAM), hướng dẫn các SAI thực hiện kiểm toán MTPTBV, trong đó nhấn mạnh cách tiếp cận toàn Chính phủ, tính gắn kết chính sách, sự tham gia của các bên liên quan và nguyên tắc không ai bị bỏ lại phía sau.
Tại Việt Nam, mục tiêu 6.1 đã được mở rộng thêm đối với nước sinh hoạt. Đối với bối cảnh trong nước, nước an toàn không chỉ là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân, mà còn liên quan trực tiếp đến sức khỏe
cộng đồng, chất lượng sống, an sinh xã hội, giảm nghèo, phát triển nông thôn, thích ứng với biến đổi khí hậu và thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, nhóm dân cư. Việc thực hiện mục tiêu 6.1, tương tự như các MTPTBV khác, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể quản lý và tiêu tốn nguồn lực công đáng kể cho công tác quy hoạch, đầu tư, vận hành, bảo trì và giám sát chất lượng.
Chính vì vậy, phát triển bền vững đã và đang trở thành định hướng quan trọng trong quản trị quốc gia, quản lý tài chính công và giám sát việc thực hiện chính sách công. Kiểm toán nhà nước có vai trò ngày càng quan trọng trong việc đánh giá quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến nguồn lực công. Nếu kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ tập trung nhiều hơn vào tính trung thực, hợp lý của thông tin tài chính và việc chấp hành quy định pháp luật, thì kiểm toán hoạt động (KTHĐ) hướng tới đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong quản lý, sử dụng nguồn lực. Đối với các MTPTBV, KTHĐ còn cần quan tâm đến các khía cạnh như: tính công bằng, tính bao trùm, tính bền vững và trách nhiệm giải trình.
Tuy nhiên, nghiên cứu về KTHĐ đối với việc thực hiện các MTPTBV hiện có thường tập trung vào KTHĐ nói chung hoặc kiểm toán môi trường, kiểm toán dự án đầu tư đơn lẻ. Việc chuyển hóa một mục tiêu phát triển cụ thể như MTPTBV 6.1 thành hệ thống câu hỏi, tiêu chí và bằng chứng KTHĐ vẫn là một khoảng trống lý luận và thực tiễn cần tiếp tục được nghiên cứu. Nếu thiếu tiêu chí kiểm toán phù hợp, việc kiểm toán các MTPTBV dễ bị thu hẹp thành kiểm toán tuân thủ thuần túy, chưa đánh giá đầy đủ về tác động thực tế đối với đời sống người dân. Bài viết này tập trung làm rõ cơ sở tiếp cận KTHĐ đối với MTPTBV 6.1 và đề xuất hệ thống nhóm tiêu chí kiểm toán khả thi nhằm xây dựng nền tảng lý luận ban đầu cho các các nghiên cứu sâu hơn về hoàn thiện KTHĐ đối với việc quản lý, sử dụng nguồn lực công nhằm thực hiện mục tiêu 6.1.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Kiểm toán hoạt động trong khu vực công
Theo tiếp cận của INTOSAI, KTHĐ là loại hình kiểm toán tập trung đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong việc quản lý, sử dụng nguồn lực công. Tính kinh tế liên quan đến việc nguồn lực có được huy động, mua sắm và sử dụng với chi phí hợp lý hay không. Tính hiệu quả xem xét mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra. Tính hiệu lực đánh giá mức độ đạt được mục tiêu, kết quả dự kiến hoặc tác động mong muốn.
Trong khu vực công, KTHĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nhiều chính sách, chương trình, dự án không thể được đánh giá đầy đủ chỉ bằng số liệu tài chính. Một chương trình sử dụng ngân sách đúng quy định nhưng nếu không đạt mục tiêu, tạo ra kết quả thấp, bỏ sót nhóm đối tượng cần hỗ trợ hoặc không bảo đảm tính bền vững thì vẫn cần được xem xét dưới góc độ KTHĐ. Do đó, KTHĐ là công cụ giúp nâng cao trách nhiệm giải trình, cải thiện quản trị công và thúc đẩy sử dụng hiệu quả nguồn lực công.
Đối với MTPTBV, KTHĐ càng có ý nghĩa bởi các MTPTBV thường có tính liên ngành, liên cấp và gắn với kết quả phát triển dài hạn. Việc đánh giá không thể chỉ dừng ở số tiền đã chi, công trình đã xây dựng hoặc số văn bản đã ban hành, mà cần xem xét sự thay đổi thực tế đối với người dân và cộng đồng, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương.
MTPTBV 6.1 và mối quan hệ với kiểm toán
MTPTBV 6.1 hướng tới tiếp cận phổ cập và công bằng với nước uống an toàn, có khả năng chi trả cho tất cả mọi người vào năm 2030. Chỉ tiêu theo dõi toàn cầu của mục tiêu này là 6.1.1, phản ánh tỷ lệ dân số sử dụng dịch vụ nước uống được quản lý an toàn. Theo UN Water (2024), dịch vụ nước uống được quản lý an toàn không chỉ là việc có nguồn nước cải thiện, mà còn phải bảo đảm nguồn nước ở tại nơi sử dụng, có sẵn khi cần và không bị ô nhiễm bởi phân hoặc các hóa chất.
Từ góc độ kiểm toán, mục tiêu 6.1 có một số đặc điểm đáng chú ý:
Thứ nhất, đây là mục tiêu hướng tới kết quả cuối cùng đối với người dân, không chỉ là kết quả đầu ra của chương trình, dự án. Việc xây dựng công trình cấp nước hoặc tăng vốn đầu tư chỉ có ý nghĩa khi người dân thực sự được tiếp cận dịch vụ nước an toàn, ổn định và có khả năng chi trả.
Thứ hai, mục tiêu 6.1 nhấn mạnh tính phổ cập và công bằng. Điều này đòi hỏi kiểm toán không chỉ đánh giá mức độ bao phủ bình quân mà còn cần xem xét chênh lệch giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng, nhóm dân cư, hộ nghèo, dân tộc thiểu số, vùng khan hiếm nước, vùng chịu ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn hoặc ô nhiễm nguồn nước.
Thứ ba, mục tiêu 6.1 gắn với chất lượng và an toàn nước. Do đó, bằng chứng kiểm toán không chỉ là hồ sơ đầu tư, quyết toán hay số hộ đấu nối, mà còn có thể bao gồm dữ liệu kiểm nghiệm chất lượng nước, tần suất giám sát, cơ chế cảnh báo và xử lý khi chất lượng nước không đạt yêu cầu.
Thứ tư, mục tiêu 6.1 có tính liên ngành rõ nét. Quản lý nước uống và nước sinh hoạt an toàn liên quan đến xây dựng, nông nghiệp, y tế, tài nguyên nước, môi trường, tài chính, đầu tư công, chính quyền địa phương và đơn vị cung cấp dịch vụ. Vì vậy, kiểm toán cần xem xét cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm giữa các tổ chức, đơn vị có liên quan.
Mô hình ISAM và khả năng vận dụng trong kiểm toán MTPTBV 6.1
ISAM là mô hình kiểm toán các MTPTBV do IDI phát triển nhằm hỗ trợ các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) thực hiện kiểm toán việc triển khai MTPTBV. Cách tiếp cận của ISAM không xem kiểm toán MTPTBV đơn thuần là kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu đề ra, mà hướng đến việc thực hiện mục tiêu phát triển trong bối cảnh chính sách, nguồn lực, tổ chức thực hiện, trách nhiệm giải trình và tác động đối với người dân.
Một trong những giá trị quan trọng của ISAM là gợi ý cách đưa các MTPTBV vào chủ đề kiểm toán. Đối với MTPTBV 6.1, vấn đề đặt ra không phải là “Việt Nam đã đạt MTPTBV 6.1 hay chưa”, mà là “việc quản lý, sử dụng nguồn lực công và tổ chức thực hiện chính sách có bảo đảm điều kiện để đạt được tiếp cận phổ cập, công bằng với nước uống và nước sinh hoạt an toàn hay không”. Cách đặt vấn đề này phù hợp hơn với vai trò của KTHĐ, bởi kiểm toán không thay thế cơ quan thống kê hay cơ quan quản lý chuyên ngành trong đo lường toàn bộ kết quả MTPTBV, mà đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực và trách nhiệm giải trình của hệ thống thực hiện.
ISAM cũng nhấn mạnh nguyên tắc không ai bị bỏ lại phía sau. Đối với MTPTBV 6.1, nguyên tắc này đặc biệt quan trọng vì nhóm không được tiếp cận nước an toàn thường là nhóm có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số hoặc vùng chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu. Do đó, tiêu chí kiểm toán không thể chỉ dựa trên tỷ lệ bao phủ chung mà cần xem xét tính công bằng trong phân bổ nguồn lực, khả năng tiếp cận thực tế và khả năng chi trả của các nhóm dân cư khác nhau.
Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, dựa trên tổng quan tài liệu, phân tích quy định và tổng hợp khung lý thuyết. Các tài liệu được xem xét gồm: chuẩn mực và hướng dẫn quốc tế và Việt Nam về KTHĐ; tài liệu của INTOSAI và IDI về kiểm toán MTPTBV; nội dung của MTPTBV 6.1; quy định, chiến lược và lộ trình của Việt Nam liên quan đến phát triển bền vững, cấp nước sạch, nước sinh hoạt an toàn và kiểm tra, giám sát chất lượng nước.
Trên cơ sở các tài liệu này, bài viết sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp để xác định các đặc điểm của MTPTBV 6.1 có ý nghĩa đối với KTHĐ, từ đó đề xuất khung tiêu chí kiểm toán gợi ý cho Việt Nam. Do mục tiêu của bài viết là xây dựng cơ sở tiếp cận ban đầu, bài viết không tiến hành khảo sát, phỏng vấn hoặc kiểm định định lượng. Các tiêu chí được đề xuất có tính chất gợi mở, cần tiếp tục được kiểm chứng, hoàn thiện và cụ thể hóa trong các nghiên cứu hoặc cuộc kiểm toán thực tế sau này.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Cách tiếp cận kiểm toán hoạt động đối với MTPTBV 6.1
KTHĐ đối với MTPTBV 6.1 cần được tiếp cận theo hướng đánh giá mối quan hệ giữa mục tiêu phát triển, chính sách công, nguồn lực công, tổ chức thực hiện, kết quả đầu ra và tác động đối với người dân. Cách tiếp cận này khác với kiểm toán một dự án cấp nước đơn lẻ, bởi mục tiêu 6.1 không chỉ quan tâm đến việc công trình có hoàn thành hay không, mà quan tâm đến việc người dân có được tiếp cận nước uống và nước sinh hoạt an toàn, công bằng, ổn định và có khả năng chi trả hay không.
Trước hết, cần xác định rõ mục tiêu kiểm toán. Với MTPTBV 6.1, mục tiêu kiểm toán có thể là đánh giá việc quản lý, sử dụng nguồn lực công trong các chính sách, chương trình, dự án cấp nước có bảo đảm tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực, công bằng và bền vững nhằm góp phần thực hiện mục tiêu tiếp cận nước uống, nước sinh hoạt an toàn hay không. Cách xác định này giúp kiểm toán tránh rơi vào cực đoan: hoặc quá hẹp, chỉ kiểm toán chi phí và hồ sơ đầu tư; hoặc quá rộng, cố gắng đánh giá toàn bộ kết quả phát triển ở cấp quốc gia.
Tiếp theo, kiểm toán cần xác định các bên liên quan. Với mục tiêu 6.1, các bên liên quan có thể bao gồm: cơ quan quản lý nhà nước về cấp nước, y tế, tài nguyên nước, môi trường, tài chính, kế hoạch và đầu tư; chính quyền địa phương; đơn vị cấp nước; tổ chức cộng đồng; hộ dân sử dụng nước, trong đó lưu ý nhóm dân cư dễ bị tổn thương. Việc nhận diện các bên liên quan giúp kiểm toán xác định rõ trách nhiệm, nguồn dữ liệu, rủi ro và đối tượng chịu tác động.
Ngoài ra, kiểm toán cần chú trọng dữ liệu. Dữ liệu cho kiểm toán MTPTBV 6.1 có thể đến từ nhiều nguồn: báo cáo ngân sách, báo cáo đầu tư công, hồ sơ dự án cấp nước, dữ liệu vận hành công trình, số liệu đấu nối, chất lượng nước, báo cáo kiểm tra giám sát của cơ quan chức năng, số liệu thống kê về tiếp cận nước sạch, dữ liệu giá nước và khả năng chi trả, cũng như phản ánh của người dân. Việc đánh giá chất lượng dữ liệu là yêu cầu quan trọng vì nếu dữ liệu thiếu đầy đủ, thiếu phân tách theo nhóm dân cư hoặc không đáng tin cậy thì việc theo dõi mục tiêu 6.1 sẽ gặp nhiều hạn chế.
Gợi ý hệ thống tiêu chí kiểm toán hoạt động đối với MTPTBV 6.1
Trên cơ sở tiếp cận KTHĐ, ISAM và đặc điểm của MTPTBV 6.1, nghiên cứu đề xuất 6 nhóm tiêu chí kiểm toán gợi ý cho Việt Nam kèm theo nội dung đánh giá và hệ thống câu hỏi tham khảo chi tiết tại Bảng.
|
BẢNG: GỢI Ý NHÓM TIÊU CHÍ KTHĐ ĐỐI MTPTBV 6.1 |
||
|
Nhóm tiêu chí |
Nội dung đánh giá gợi ý |
Câu hỏi kiểm toán tham khảo |
|
Tính kinh tế |
Công tác huy động, phân bổ, mua sắm, đầu tư và vận hành nguồn lực với chi phí hợp lý |
Nguồn lực công dành cho việc cấp nước có được lập kế hoạch, phân bổ và sử dụng tiết kiệm, phù hợp với nhu cầu ưu tiên không? |
|
Tính hiệu quả |
Quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra |
Nguồn lực đã sử dụng có tạo ra mức tăng tương xứng về số hộ được tiếp cận, công suất vận hành, phạm vi bao phủ và chất lượng dịch vụ không? |
|
Tính hiệu lực |
Mức độ đạt mục tiêu tiếp cận nước uống, nước sinh hoạt an toàn |
Chính sách, chương trình, dự án có góp phần cải thiện khả năng tiếp cận nước an toàn, ổn định và có khả năng chi trả không? |
|
Tính công bằng |
Mức độ ưu tiên nhóm yếu thế, vùng khó khăn và nguyên tắc không ai bị bỏ lại phía sau |
Việc phân bổ nguồn lực có ưu tiên hộ nghèo, vùng nông thôn, dân tộc thiểu số, vùng khan hiếm nước, vùng chịu ảnh hưởng thiên tai, hạn mặn không? |
|
Tính bền vững |
Khả năng vận hành lâu dài, bảo vệ nguồn nước, thích ứng biến đổi khí hậu |
Công trình và dịch vụ cấp nước có được vận hành, bảo trì, bảo vệ nguồn nước và thích ứng với rủi ro khí hậu không? |
|
Trách nhiệm giải trình |
Phân công trách nhiệm, công khai thông tin, theo dõi và xử lý kiến nghị |
Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có rõ ràng không? Kết quả thực hiện có được báo cáo, công khai và theo dõi đầy đủ không? |
Nguồn: Tác giả đề xuất trên cơ sở tổng hợp cách tiếp cận KTHĐ, ISAM và đặc điểm của MTPTBV 6.1
Nhóm tiêu chí về tính kinh tế cần tập trung vào việc xác định nguồn lực công có được bố trí và sử dụng với chi phí hợp lý hay không. Trong lĩnh vực cấp nước, chi phí đầu tư ban đầu thường lớn, nhưng chi phí vận hành, bảo trì và giám sát chất lượng nước cũng không kém phần quan trọng. Do đó, kiểm toán không chỉ xem xét giá trị quyết toán công trình mà cần đánh giá sự phù hợp giữa quy hoạch, thiết kế, quy mô đầu tư, lựa chọn công nghệ, chi phí vận hành và nhu cầu thực tế của người dân.
Nhóm tiêu chí về tính hiệu quả xem xét mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra. Một dự án cấp nước có thể hoàn thành về mặt xây dựng nhưng vận hành dưới công suất, số hộ đấu nối thấp, chi phí vận hành cao hoặc không bảo đảm cấp nước liên tục. Trong những trường hợp này, việc sử dụng nguồn lực công cần được đánh giá dưới góc độ hiệu quả, không chỉ dưới góc độ tuân thủ hồ sơ đầu tư.
Nhóm tiêu chí về tính hiệu lực là trung tâm của kiểm toán MTPTBV 6.1. Tính hiệu lực đòi hỏi kiểm toán xem xét chính sách, chương trình, dự án có thực sự góp phần cải thiện tiếp cận nước uống và nước sinh hoạt an toàn hay không. Đánh giá hiệu lực cần quan tâm đến độ bao phủ dịch vụ, chất lượng nước, sự sẵn có khi cần, khả năng chi trả và sự hài lòng hoặc phản hồi của người dân. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa KTHĐ theo tiếp cận MTPTBV và kiểm toán đầu tư xây dựng truyền thống.
Nhóm tiêu chí về tính công bằng phản ánh yêu cầu cốt lõi của MTPTBV 6.1. Mục tiêu này không chỉ yêu cầu mở rộng khả năng tiếp cận nguồn nước an toàn mà còn yêu cầu tiếp cận phổ cập và công bằng. Vì vậy, kiểm toán cần đánh giá việc phân bổ nguồn lực có ưu tiên các vùng, nhóm dân cư khó khăn hay không; chi phí đấu nối và giá bán nước sạch có gây khó khăn đối với hộ nghèo hay không; và dữ liệu theo dõi có được phân tách để nhận diện nhóm có nguy cơ bị bỏ lại phía sau hay không.
Nhóm tiêu chí về tính bền vững xuất phát từ đặc thù của dịch vụ cấp nước. Một công trình cấp nước chỉ có ý nghĩa nếu có thể vận hành lâu dài, bảo đảm chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và không gây áp lực bất hợp lý lên nguồn nước. Kiểm toán cần xem xét cơ chế vận hành, bảo trì, bảo vệ nguồn nước, năng lực của đơn vị quản lý và khả năng duy trì dịch vụ sau khi dự án kết thúc.
Cuối cùng, nhóm tiêu chí về trách nhiệm giải trình giúp đánh giá mức độ rõ ràng trong phân công nhiệm vụ, báo cáo kết quả, công khai thông tin và theo dõi kiến nghị. Do MTPTBV 6.1 liên quan đến nhiều cơ quan và cấp chính quyền, rủi ro phân tán trách nhiệm là khá lớn, KTHĐ cần góp phần làm rõ ai chịu trách nhiệm về chính sách, nguồn lực, chất lượng nước, vận hành dịch vụ, dữ liệu và kết quả cuối cùng đối với người dân.
Ý nghĩa nghiên cứu đối với Kiểm toán nhà nước Việt Nam
Từ các nhóm tiêu chí nêu trên, có thể rút ra một số bài học đối với việc phát triển KTHĐ liên quan đến MTPTBV 6.1 tại Việt Nam.
Thứ nhất, cần lựa chọn chủ đề kiểm toán theo hướng dựa trên rủi ro và tác động xã hội. Các chủ đề liên quan đến nước uống và nước sinh hoạt an toàn nên được xem xét không chỉ theo quy mô vốn đầu tư mà còn theo mức độ ảnh hưởng đến người dân, nguy cơ không đạt mục tiêu, khoảng cách tiếp cận giữa các nhóm dân cư và rủi ro về chất lượng nước.
Thứ hai, cần chuyển trọng tâm từ kiểm toán dự án đơn lẻ sang kiểm toán theo chuỗi kết quả. Đối với MTPTBV 6.1, chuỗi kết quả có thể bao gồm: chính sách và kế hoạch, phân bổ nguồn lực, đầu tư và vận hành công trình, cung cấp dịch vụ, chất lượng nước, khả năng chi trả, mức độ tiếp cận của người dân và trách nhiệm giải trình. Cách tiếp cận này giúp kiểm toán đánh giá đầy đủ hơn giá trị của nguồn lực công.
Thứ ba, cần lồng ghép nguyên tắc không ai bị bỏ lại phía sau vào mục tiêu và tiêu chí kiểm toán. Điều này đòi hỏi kiểm toán viên quan tâm đến nhóm chưa được tiếp cận, nhóm khó tiếp cận hoặc nhóm có nguy cơ chịu chi phí cao hơn so với khả năng chi trả. Dữ liệu kiểm toán cần được phân tích theo khu vực, nhóm dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội nếu có thể.
Thứ tư, cần tăng cường sử dụng dữ liệu liên ngành. Kiểm toán MTPTBV 6.1 không thể chỉ dựa vào báo cáo tài chính hoặc hồ sơ đầu tư. Kiểm toán cần kết hợp dữ liệu từ thống kê, y tế, xây dựng, nông nghiệp, tài nguyên môi trường, tài chính, địa phương và đơn vị cung cấp dịch vụ. Việc kiểm tra tính nhất quán, đầy đủ và đáng tin cậy của dữ liệu cũng cần trở thành một phần của nội dung kiểm toán.
Thứ năm, cần phát triển năng lực kiểm toán viên về kiểm toán SDG. Kiểm toán viên cần hiểu không chỉ chuẩn mực KTHĐ mà còn cả tính logic của mục tiêu phát triển, hệ thống chỉ tiêu MTPTBV, chính sách cấp nước, chất lượng nước sinh hoạt, dữ liệu phát triển bền vững và phương pháp phân tích tác động. Đây là điều kiện quan trọng để các cuộc kiểm toán MTPTBV có chất lượng và tác động thực chất.
Thứ sáu, cần chú trọng theo dõi tác động của kiến nghị kiểm toán. Đối với mục tiêu 6.1, giá trị của kiến nghị kiểm toán không chỉ nằm ở xử lý tài chính mà còn ở việc cải thiện cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng dữ liệu, điều chỉnh phân bổ nguồn lực, tăng cường giám sát chất lượng nước và bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận nước an toàn của người dân.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
MTPTBV 6.1 về tiếp cận nước uống và nước sinh hoạt an toàn là một mục tiêu có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội, bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công cơ bản và phát triển bền vững. Tại Việt Nam, việc thực hiện mục tiêu này đòi hỏi quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực công, sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, chất lượng dữ liệu đáng tin cậy và cơ chế trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Bài viết đã phân tích cơ sở tiếp cận KTHĐ đối với MTPTBV 6.1 trên nền tảng lý luận về KTHĐ, cách tiếp cận kiểm toán MTPTBV và mô hình ISAM. Hệ thống 6 nhóm tiêu chí KTHĐ gồm: tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực, tính công bằng, tính bền vững và trách nhiệm giải trình, được đề xuất có thể dùng tham khảo khi xây dựng mục tiêu, câu hỏi và tiêu chí kiểm toán đối với các chương trình, dự án, chính sách liên quan đến nước uống và nước sinh hoạt an toàn.
Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đưa ra một số khuyến nghị.
Đối với Kiểm toán nhà nước, cần tiếp tục phát triển phương pháp KTHĐ gắn với các MTPTBV, trong đó MTPTBV 6.1 có thể là một chủ đề phù hợp để thử nghiệm cách tiếp cận kiểm toán theo kết quả, dữ liệu, công bằng và tác động xã hội.
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cần hoàn thiện hệ thống dữ liệu, báo cáo và công khai thông tin về tiếp cận nước an toàn, chất lượng nước, khả năng chi trả và nhóm dân cư chưa được tiếp cận.
Do không sử dụng dữ liệu thực nghiệm, bài viết mới dừng ở việc đề xuất cơ sở tiếp cận và khung tiêu chí ban đầu. Tuy nhiên, đây là bước cần thiết để phát triển các nghiên cứu sâu hơn về hoàn thiện KTHĐ đối với việc quản lý, sử dụng nguồn lực công nhằm thực hiện MTPTBV 6.1 tại Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
- IDI (2024). IDI’s SDGs Audit Model (ISAM).
- INTOSAI (2019). ISSAI 300: Performance Audit Principles.
- INTOSAI (2019). GUID 3910: Central Concepts for Performance Auditing.
- INTOSAI (2019). GUID 3920: The Performance Auditing Process.
- Quốc hội (2015). Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13 ngày 24/6/2015.
- Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.
- Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1978/QĐ-TTg ngày 24/11/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 841/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 ban hành Lộ trình thực hiện các MTPTBV Việt Nam đến năm 2030.
- United Nations (2015). Transforming our world: the 2030 Agenda for Sustainable Development. https://sdgs. un.org/2030agenda
- UN-Water (2024). Indicator 6.1.1: Proportion of population using safely managed drinking water services. https://www. unwater.org/our-work/sdg-6-integrated-monitoring-initiative/indicator-611-proportion-population-using-safely
- World Health Organization & UNICEF (2023). Progress on household drinking water, sanitation and hygiene 2000- 2022: Special focus on gender. https://data.unicef.org/resources/jmp-report-2023/
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026 |
Tin tức khác
Nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh tế biến động
Nâng cao năng lực ứng phó phòng vệ thương mại cho doanh nghiệp xuất khẩu
Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM
Phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững
Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp
Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới
PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính
PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất
INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội
Đề xuất luật hóa tập đoàn xuất bản - truyền thông, xuất bản trên không gian mạng
Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững
Chỉ số BCI quý 2 tiệm cận mức đỉnh, niềm tin vào môi trường kinh doanh đầu tư Việt Nam vượt kỳ vọng
Tăng trưởng 2 con số: Hoàn thiện thị trường vốn để nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực
Việt Nam cần vượt qua những điểm nghẽn của mô hình phát triển cũ
Đón dòng vốn xanh vào các khu công nghiệp
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng








