aa

Kiểm toán hoạt động đối với mục tiêu phát triển bền vững 6.1: Cơ sở tiếp cận và gợi ý tiêu chí kiểm toán cho Việt Nam

14:49 | 15/07/2026
Mục tiêu phát triển bền vững 6.1 của Liên hợp quốc hướng tới việc “đến năm 2030 đảm bảo khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt an toàn, trong khả năng chi trả cho tất cả mọi người”. Trong bối cảnh các cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới ngày càng được kỳ vọng trong việc giám sát, đánh giá và thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, kiểm toán hoạt động đối với mục tiêu 6.1 trở thành một hướng tiếp cận cần được nghiên cứu và vận dụng phù hợp tại Việt Nam. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tổng quan tài liệu và phân tích khung tiếp cận của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI), chuẩn mực kiểm toán hoạt động và các chính sách liên quan của Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số nhóm tiêu chí kiểm toán hoạt động đối với mục tiêu 6.1; đồng thời đưa ra các khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao năng lực kiểm toán định hướng mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam.

ThS.Trần Thị Minh Hà

Vụ Tổng hợp, Kiểm toán nhà nước; Email: Minhha060890@gmail.com

GIỚI THIỆU

Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc đặt ra 17 mục tiêu phát triển bền vững (MTPTBV), trong đó mục tiêu 6 hướng tới bảo đảm sự sẵn có và quản lý bền vững nước và vệ sinh cho tất cả mọi người. Trong mục tiêu 6, mục tiêu cụ thể 6.1 tập trung vào việc đến năm 2030 đạt được tiếp cận phổ cập và công bằng với nước uống an toàn, có khả năng chi trả cho tất cả mọi người. Trong bối cảnh đó, Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) và Sáng kiến phát triển INTOSAI (IDI) đã nhấn mạnh vai trò của các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) trong kiểm toán việc thực hiện các MTPTBV. Mô hình kiểm toán các MTPTBV của IDI (ISAM), hướng dẫn các SAI thực hiện kiểm toán MTPTBV, trong đó nhấn mạnh cách tiếp cận toàn Chính phủ, tính gắn kết chính sách, sự tham gia của các bên liên quan và nguyên tắc không ai bị bỏ lại phía sau.

Tại Việt Nam, mục tiêu 6.1 đã được mở rộng thêm đối với nước sinh hoạt. Đối với bối cảnh trong nước, nước an toàn không chỉ là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân, mà còn liên quan trực tiếp đến sức khỏe

cộng đồng, chất lượng sống, an sinh xã hội, giảm nghèo, phát triển nông thôn, thích ứng với biến đổi khí hậu và thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, nhóm dân cư. Việc thực hiện mục tiêu 6.1, tương tự như các MTPTBV khác, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể quản lý và tiêu tốn nguồn lực công đáng kể cho công tác quy hoạch, đầu tư, vận hành, bảo trì và giám sát chất lượng.

Chính vì vậy, phát triển bền vững đã và đang trở thành định hướng quan trọng trong quản trị quốc gia, quản lý tài chính công và giám sát việc thực hiện chính sách công. Kiểm toán nhà nước có vai trò ngày càng quan trọng trong việc đánh giá quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến nguồn lực công. Nếu kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ tập trung nhiều hơn vào tính trung thực, hợp lý của thông tin tài chính và việc chấp hành quy định pháp luật, thì kiểm toán hoạt động (KTHĐ) hướng tới đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong quản lý, sử dụng nguồn lực. Đối với các MTPTBV, KTHĐ còn cần quan tâm đến các khía cạnh như: tính công bằng, tính bao trùm, tính bền vững và trách nhiệm giải trình.

Tuy nhiên, nghiên cứu về KTHĐ đối với việc thực hiện các MTPTBV hiện có thường tập trung vào KTHĐ nói chung hoặc kiểm toán môi trường, kiểm toán dự án đầu tư đơn lẻ. Việc chuyển hóa một mục tiêu phát triển cụ thể như MTPTBV 6.1 thành hệ thống câu hỏi, tiêu chí và bằng chứng KTHĐ vẫn là một khoảng trống lý luận và thực tiễn cần tiếp tục được nghiên cứu. Nếu thiếu tiêu chí kiểm toán phù hợp, việc kiểm toán các MTPTBV dễ bị thu hẹp thành kiểm toán tuân thủ thuần túy, chưa đánh giá đầy đủ về tác động thực tế đối với đời sống người dân. Bài viết này tập trung làm rõ cơ sở tiếp cận KTHĐ đối với MTPTBV 6.1 và đề xuất hệ thống nhóm tiêu chí kiểm toán khả thi nhằm xây dựng nền tảng lý luận ban đầu cho các các nghiên cứu sâu hơn về hoàn thiện KTHĐ đối với việc quản lý, sử dụng nguồn lực công nhằm thực hiện mục tiêu 6.1.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Kiểm toán hoạt động trong khu vực công

Theo tiếp cận của INTOSAI, KTHĐ là loại hình kiểm toán tập trung đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong việc quản lý, sử dụng nguồn lực công. Tính kinh tế liên quan đến việc nguồn lực có được huy động, mua sắm và sử dụng với chi phí hợp lý hay không. Tính hiệu quả xem xét mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra. Tính hiệu lực đánh giá mức độ đạt được mục tiêu, kết quả dự kiến hoặc tác động mong muốn.

Trong khu vực công, KTHĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nhiều chính sách, chương trình, dự án không thể được đánh giá đầy đủ chỉ bằng số liệu tài chính. Một chương trình sử dụng ngân sách đúng quy định nhưng nếu không đạt mục tiêu, tạo ra kết quả thấp, bỏ sót nhóm đối tượng cần hỗ trợ hoặc không bảo đảm tính bền vững thì vẫn cần được xem xét dưới góc độ KTHĐ. Do đó, KTHĐ là công cụ giúp nâng cao trách nhiệm giải trình, cải thiện quản trị công và thúc đẩy sử dụng hiệu quả nguồn lực công.

Đối với MTPTBV, KTHĐ càng có ý nghĩa bởi các MTPTBV thường có tính liên ngành, liên cấp và gắn với kết quả phát triển dài hạn. Việc đánh giá không thể chỉ dừng ở số tiền đã chi, công trình đã xây dựng hoặc số văn bản đã ban hành, mà cần xem xét sự thay đổi thực tế đối với người dân và cộng đồng, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương.

MTPTBV 6.1 và mối quan hệ với kiểm toán

MTPTBV 6.1 hướng tới tiếp cận phổ cập và công bằng với nước uống an toàn, có khả năng chi trả cho tất cả mọi người vào năm 2030. Chỉ tiêu theo dõi toàn cầu của mục tiêu này là 6.1.1, phản ánh tỷ lệ dân số sử dụng dịch vụ nước uống được quản lý an toàn. Theo UN Water (2024), dịch vụ nước uống được quản lý an toàn không chỉ là việc có nguồn nước cải thiện, mà còn phải bảo đảm nguồn nước ở tại nơi sử dụng, có sẵn khi cần và không bị ô nhiễm bởi phân hoặc các hóa chất.

Từ góc độ kiểm toán, mục tiêu 6.1 có một số đặc điểm đáng chú ý:

Thứ nhất, đây là mục tiêu hướng tới kết quả cuối cùng đối với người dân, không chỉ là kết quả đầu ra của chương trình, dự án. Việc xây dựng công trình cấp nước hoặc tăng vốn đầu tư chỉ có ý nghĩa khi người dân thực sự được tiếp cận dịch vụ nước an toàn, ổn định và có khả năng chi trả.

Thứ hai, mục tiêu 6.1 nhấn mạnh tính phổ cập và công bằng. Điều này đòi hỏi kiểm toán không chỉ đánh giá mức độ bao phủ bình quân mà còn cần xem xét chênh lệch giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng, nhóm dân cư, hộ nghèo, dân tộc thiểu số, vùng khan hiếm nước, vùng chịu ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn hoặc ô nhiễm nguồn nước.

Thứ ba, mục tiêu 6.1 gắn với chất lượng và an toàn nước. Do đó, bằng chứng kiểm toán không chỉ là hồ sơ đầu tư, quyết toán hay số hộ đấu nối, mà còn có thể bao gồm dữ liệu kiểm nghiệm chất lượng nước, tần suất giám sát, cơ chế cảnh báo và xử lý khi chất lượng nước không đạt yêu cầu.

Thứ tư, mục tiêu 6.1 có tính liên ngành rõ nét. Quản lý nước uống và nước sinh hoạt an toàn liên quan đến xây dựng, nông nghiệp, y tế, tài nguyên nước, môi trường, tài chính, đầu tư công, chính quyền địa phương và đơn vị cung cấp dịch vụ. Vì vậy, kiểm toán cần xem xét cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm giữa các tổ chức, đơn vị có liên quan.

Mô hình ISAM và khả năng vận dụng trong kiểm toán MTPTBV 6.1

ISAM là mô hình kiểm toán các MTPTBV do IDI phát triển nhằm hỗ trợ các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) thực hiện kiểm toán việc triển khai MTPTBV. Cách tiếp cận của ISAM không xem kiểm toán MTPTBV đơn thuần là kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu đề ra, mà hướng đến việc thực hiện mục tiêu phát triển trong bối cảnh chính sách, nguồn lực, tổ chức thực hiện, trách nhiệm giải trình và tác động đối với người dân.

Một trong những giá trị quan trọng của ISAM là gợi ý cách đưa các MTPTBV vào chủ đề kiểm toán. Đối với MTPTBV 6.1, vấn đề đặt ra không phải là “Việt Nam đã đạt MTPTBV 6.1 hay chưa”, mà là “việc quản lý, sử dụng nguồn lực công và tổ chức thực hiện chính sách có bảo đảm điều kiện để đạt được tiếp cận phổ cập, công bằng với nước uống và nước sinh hoạt an toàn hay không”. Cách đặt vấn đề này phù hợp hơn với vai trò của KTHĐ, bởi kiểm toán không thay thế cơ quan thống kê hay cơ quan quản lý chuyên ngành trong đo lường toàn bộ kết quả MTPTBV, mà đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực và trách nhiệm giải trình của hệ thống thực hiện.

ISAM cũng nhấn mạnh nguyên tắc không ai bị bỏ lại phía sau. Đối với MTPTBV 6.1, nguyên tắc này đặc biệt quan trọng vì nhóm không được tiếp cận nước an toàn thường là nhóm có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số hoặc vùng chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu. Do đó, tiêu chí kiểm toán không thể chỉ dựa trên tỷ lệ bao phủ chung mà cần xem xét tính công bằng trong phân bổ nguồn lực, khả năng tiếp cận thực tế và khả năng chi trả của các nhóm dân cư khác nhau.

Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, dựa trên tổng quan tài liệu, phân tích quy định và tổng hợp khung lý thuyết. Các tài liệu được xem xét gồm: chuẩn mực và hướng dẫn quốc tế và Việt Nam về KTHĐ; tài liệu của INTOSAI và IDI về kiểm toán MTPTBV; nội dung của MTPTBV 6.1; quy định, chiến lược và lộ trình của Việt Nam liên quan đến phát triển bền vững, cấp nước sạch, nước sinh hoạt an toàn và kiểm tra, giám sát chất lượng nước.

Trên cơ sở các tài liệu này, bài viết sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp để xác định các đặc điểm của MTPTBV 6.1 có ý nghĩa đối với KTHĐ, từ đó đề xuất khung tiêu chí kiểm toán gợi ý cho Việt Nam. Do mục tiêu của bài viết là xây dựng cơ sở tiếp cận ban đầu, bài viết không tiến hành khảo sát, phỏng vấn hoặc kiểm định định lượng. Các tiêu chí được đề xuất có tính chất gợi mở, cần tiếp tục được kiểm chứng, hoàn thiện và cụ thể hóa trong các nghiên cứu hoặc cuộc kiểm toán thực tế sau này.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Cách tiếp cận kiểm toán hoạt động đối với MTPTBV 6.1

KTHĐ đối với MTPTBV 6.1 cần được tiếp cận theo hướng đánh giá mối quan hệ giữa mục tiêu phát triển, chính sách công, nguồn lực công, tổ chức thực hiện, kết quả đầu ra và tác động đối với người dân. Cách tiếp cận này khác với kiểm toán một dự án cấp nước đơn lẻ, bởi mục tiêu 6.1 không chỉ quan tâm đến việc công trình có hoàn thành hay không, mà quan tâm đến việc người dân có được tiếp cận nước uống và nước sinh hoạt an toàn, công bằng, ổn định và có khả năng chi trả hay không.

Trước hết, cần xác định rõ mục tiêu kiểm toán. Với MTPTBV 6.1, mục tiêu kiểm toán có thể là đánh giá việc quản lý, sử dụng nguồn lực công trong các chính sách, chương trình, dự án cấp nước có bảo đảm tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực, công bằng và bền vững nhằm góp phần thực hiện mục tiêu tiếp cận nước uống, nước sinh hoạt an toàn hay không. Cách xác định này giúp kiểm toán tránh rơi vào cực đoan: hoặc quá hẹp, chỉ kiểm toán chi phí và hồ sơ đầu tư; hoặc quá rộng, cố gắng đánh giá toàn bộ kết quả phát triển ở cấp quốc gia.

Tiếp theo, kiểm toán cần xác định các bên liên quan. Với mục tiêu 6.1, các bên liên quan có thể bao gồm: cơ quan quản lý nhà nước về cấp nước, y tế, tài nguyên nước, môi trường, tài chính, kế hoạch và đầu tư; chính quyền địa phương; đơn vị cấp nước; tổ chức cộng đồng; hộ dân sử dụng nước, trong đó lưu ý nhóm dân cư dễ bị tổn thương. Việc nhận diện các bên liên quan giúp kiểm toán xác định rõ trách nhiệm, nguồn dữ liệu, rủi ro và đối tượng chịu tác động.

Ngoài ra, kiểm toán cần chú trọng dữ liệu. Dữ liệu cho kiểm toán MTPTBV 6.1 có thể đến từ nhiều nguồn: báo cáo ngân sách, báo cáo đầu tư công, hồ sơ dự án cấp nước, dữ liệu vận hành công trình, số liệu đấu nối, chất lượng nước, báo cáo kiểm tra giám sát của cơ quan chức năng, số liệu thống kê về tiếp cận nước sạch, dữ liệu giá nước và khả năng chi trả, cũng như phản ánh của người dân. Việc đánh giá chất lượng dữ liệu là yêu cầu quan trọng vì nếu dữ liệu thiếu đầy đủ, thiếu phân tách theo nhóm dân cư hoặc không đáng tin cậy thì việc theo dõi mục tiêu 6.1 sẽ gặp nhiều hạn chế.

Gợi ý hệ thống tiêu chí kiểm toán hoạt động đối với MTPTBV 6.1

Trên cơ sở tiếp cận KTHĐ, ISAM và đặc điểm của MTPTBV 6.1, nghiên cứu đề xuất 6 nhóm tiêu chí kiểm toán gợi ý cho Việt Nam kèm theo nội dung đánh giá và hệ thống câu hỏi tham khảo chi tiết tại Bảng.

BẢNG: GỢI Ý NHÓM TIÊU CHÍ KTHĐ ĐỐI MTPTBV 6.1

Nhóm tiêu chí

Nội dung đánh giá gợi ý

Câu hỏi kiểm toán tham khảo

Tính kinh tế

Công tác huy động, phân bổ, mua sắm, đầu tư và vận hành nguồn lực với chi phí hợp lý

Nguồn lực công dành cho việc cấp nước có được lập kế hoạch, phân bổ và sử dụng tiết kiệm, phù hợp với nhu cầu ưu tiên không?

Tính hiệu quả

Quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra

Nguồn lực đã sử dụng có tạo ra mức tăng tương xứng về số hộ được tiếp cận, công suất vận hành, phạm vi bao phủ và chất lượng dịch vụ không?

Tính hiệu lực

Mức độ đạt mục tiêu tiếp cận nước uống, nước sinh hoạt an toàn

Chính sách, chương trình, dự án có góp phần cải thiện khả năng tiếp cận nước an toàn, ổn định và có khả năng chi trả không?

Tính công bằng

Mức độ ưu tiên nhóm yếu thế, vùng khó khăn và nguyên tắc không ai bị bỏ lại phía sau

Việc phân bổ nguồn lực có ưu tiên hộ nghèo, vùng nông thôn, dân tộc thiểu số, vùng khan hiếm nước, vùng chịu ảnh hưởng thiên tai, hạn mặn không?

Tính bền vững

Khả năng vận hành lâu dài, bảo vệ nguồn nước, thích ứng biến đổi khí hậu

Công trình và dịch vụ cấp nước có được vận hành, bảo trì, bảo vệ nguồn nước và thích ứng với rủi ro khí hậu không?

Trách nhiệm giải trình

Phân công trách nhiệm, công khai thông tin, theo dõi và xử lý kiến nghị

Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có rõ ràng không? Kết quả thực hiện có được báo cáo, công khai và theo dõi đầy đủ không?

Nguồn: Tác giả đề xuất trên cơ sở tổng hợp cách tiếp cận KTHĐ, ISAM và đặc điểm của MTPTBV 6.1

Nhóm tiêu chí về tính kinh tế cần tập trung vào việc xác định nguồn lực công có được bố trí và sử dụng với chi phí hợp lý hay không. Trong lĩnh vực cấp nước, chi phí đầu tư ban đầu thường lớn, nhưng chi phí vận hành, bảo trì và giám sát chất lượng nước cũng không kém phần quan trọng. Do đó, kiểm toán không chỉ xem xét giá trị quyết toán công trình mà cần đánh giá sự phù hợp giữa quy hoạch, thiết kế, quy mô đầu tư, lựa chọn công nghệ, chi phí vận hành và nhu cầu thực tế của người dân.

Nhóm tiêu chí về tính hiệu quả xem xét mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra. Một dự án cấp nước có thể hoàn thành về mặt xây dựng nhưng vận hành dưới công suất, số hộ đấu nối thấp, chi phí vận hành cao hoặc không bảo đảm cấp nước liên tục. Trong những trường hợp này, việc sử dụng nguồn lực công cần được đánh giá dưới góc độ hiệu quả, không chỉ dưới góc độ tuân thủ hồ sơ đầu tư.

Nhóm tiêu chí về tính hiệu lực là trung tâm của kiểm toán MTPTBV 6.1. Tính hiệu lực đòi hỏi kiểm toán xem xét chính sách, chương trình, dự án có thực sự góp phần cải thiện tiếp cận nước uống và nước sinh hoạt an toàn hay không. Đánh giá hiệu lực cần quan tâm đến độ bao phủ dịch vụ, chất lượng nước, sự sẵn có khi cần, khả năng chi trả và sự hài lòng hoặc phản hồi của người dân. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa KTHĐ theo tiếp cận MTPTBV và kiểm toán đầu tư xây dựng truyền thống.

Nhóm tiêu chí về tính công bằng phản ánh yêu cầu cốt lõi của MTPTBV 6.1. Mục tiêu này không chỉ yêu cầu mở rộng khả năng tiếp cận nguồn nước an toàn mà còn yêu cầu tiếp cận phổ cập và công bằng. Vì vậy, kiểm toán cần đánh giá việc phân bổ nguồn lực có ưu tiên các vùng, nhóm dân cư khó khăn hay không; chi phí đấu nối và giá bán nước sạch có gây khó khăn đối với hộ nghèo hay không; và dữ liệu theo dõi có được phân tách để nhận diện nhóm có nguy cơ bị bỏ lại phía sau hay không.

Nhóm tiêu chí về tính bền vững xuất phát từ đặc thù của dịch vụ cấp nước. Một công trình cấp nước chỉ có ý nghĩa nếu có thể vận hành lâu dài, bảo đảm chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và không gây áp lực bất hợp lý lên nguồn nước. Kiểm toán cần xem xét cơ chế vận hành, bảo trì, bảo vệ nguồn nước, năng lực của đơn vị quản lý và khả năng duy trì dịch vụ sau khi dự án kết thúc.

Cuối cùng, nhóm tiêu chí về trách nhiệm giải trình giúp đánh giá mức độ rõ ràng trong phân công nhiệm vụ, báo cáo kết quả, công khai thông tin và theo dõi kiến nghị. Do MTPTBV 6.1 liên quan đến nhiều cơ quan và cấp chính quyền, rủi ro phân tán trách nhiệm là khá lớn, KTHĐ cần góp phần làm rõ ai chịu trách nhiệm về chính sách, nguồn lực, chất lượng nước, vận hành dịch vụ, dữ liệu và kết quả cuối cùng đối với người dân.

Ý nghĩa nghiên cứu đối với Kiểm toán nhà nước Việt Nam

Từ các nhóm tiêu chí nêu trên, có thể rút ra một số bài học đối với việc phát triển KTHĐ liên quan đến MTPTBV 6.1 tại Việt Nam.

Thứ nhất, cần lựa chọn chủ đề kiểm toán theo hướng dựa trên rủi ro và tác động xã hội. Các chủ đề liên quan đến nước uống và nước sinh hoạt an toàn nên được xem xét không chỉ theo quy mô vốn đầu tư mà còn theo mức độ ảnh hưởng đến người dân, nguy cơ không đạt mục tiêu, khoảng cách tiếp cận giữa các nhóm dân cư và rủi ro về chất lượng nước.

Thứ hai, cần chuyển trọng tâm từ kiểm toán dự án đơn lẻ sang kiểm toán theo chuỗi kết quả. Đối với MTPTBV 6.1, chuỗi kết quả có thể bao gồm: chính sách và kế hoạch, phân bổ nguồn lực, đầu tư và vận hành công trình, cung cấp dịch vụ, chất lượng nước, khả năng chi trả, mức độ tiếp cận của người dân và trách nhiệm giải trình. Cách tiếp cận này giúp kiểm toán đánh giá đầy đủ hơn giá trị của nguồn lực công.

Thứ ba, cần lồng ghép nguyên tắc không ai bị bỏ lại phía sau vào mục tiêu và tiêu chí kiểm toán. Điều này đòi hỏi kiểm toán viên quan tâm đến nhóm chưa được tiếp cận, nhóm khó tiếp cận hoặc nhóm có nguy cơ chịu chi phí cao hơn so với khả năng chi trả. Dữ liệu kiểm toán cần được phân tích theo khu vực, nhóm dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội nếu có thể.

Thứ tư, cần tăng cường sử dụng dữ liệu liên ngành. Kiểm toán MTPTBV 6.1 không thể chỉ dựa vào báo cáo tài chính hoặc hồ sơ đầu tư. Kiểm toán cần kết hợp dữ liệu từ thống kê, y tế, xây dựng, nông nghiệp, tài nguyên môi trường, tài chính, địa phương và đơn vị cung cấp dịch vụ. Việc kiểm tra tính nhất quán, đầy đủ và đáng tin cậy của dữ liệu cũng cần trở thành một phần của nội dung kiểm toán.

Thứ năm, cần phát triển năng lực kiểm toán viên về kiểm toán SDG. Kiểm toán viên cần hiểu không chỉ chuẩn mực KTHĐ mà còn cả tính logic của mục tiêu phát triển, hệ thống chỉ tiêu MTPTBV, chính sách cấp nước, chất lượng nước sinh hoạt, dữ liệu phát triển bền vững và phương pháp phân tích tác động. Đây là điều kiện quan trọng để các cuộc kiểm toán MTPTBV có chất lượng và tác động thực chất.

Thứ sáu, cần chú trọng theo dõi tác động của kiến nghị kiểm toán. Đối với mục tiêu 6.1, giá trị của kiến nghị kiểm toán không chỉ nằm ở xử lý tài chính mà còn ở việc cải thiện cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng dữ liệu, điều chỉnh phân bổ nguồn lực, tăng cường giám sát chất lượng nước và bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận nước an toàn của người dân.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

MTPTBV 6.1 về tiếp cận nước uống và nước sinh hoạt an toàn là một mục tiêu có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội, bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công cơ bản và phát triển bền vững. Tại Việt Nam, việc thực hiện mục tiêu này đòi hỏi quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực công, sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, chất lượng dữ liệu đáng tin cậy và cơ chế trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Bài viết đã phân tích cơ sở tiếp cận KTHĐ đối với MTPTBV 6.1 trên nền tảng lý luận về KTHĐ, cách tiếp cận kiểm toán MTPTBV và mô hình ISAM. Hệ thống 6 nhóm tiêu chí KTHĐ gồm: tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực, tính công bằng, tính bền vững và trách nhiệm giải trình, được đề xuất có thể dùng tham khảo khi xây dựng mục tiêu, câu hỏi và tiêu chí kiểm toán đối với các chương trình, dự án, chính sách liên quan đến nước uống và nước sinh hoạt an toàn.

Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đưa ra một số khuyến nghị.

Đối với Kiểm toán nhà nước, cần tiếp tục phát triển phương pháp KTHĐ gắn với các MTPTBV, trong đó MTPTBV 6.1 có thể là một chủ đề phù hợp để thử nghiệm cách tiếp cận kiểm toán theo kết quả, dữ liệu, công bằng và tác động xã hội.

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cần hoàn thiện hệ thống dữ liệu, báo cáo và công khai thông tin về tiếp cận nước an toàn, chất lượng nước, khả năng chi trả và nhóm dân cư chưa được tiếp cận.

Do không sử dụng dữ liệu thực nghiệm, bài viết mới dừng ở việc đề xuất cơ sở tiếp cận và khung tiêu chí ban đầu. Tuy nhiên, đây là bước cần thiết để phát triển các nghiên cứu sâu hơn về hoàn thiện KTHĐ đối với việc quản lý, sử dụng nguồn lực công nhằm thực hiện MTPTBV 6.1 tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

  1. IDI (2024). IDI’s SDGs Audit Model (ISAM).
  2. INTOSAI (2019). ISSAI 300: Performance Audit Principles.
  3. INTOSAI (2019). GUID 3910: Central Concepts for Performance Auditing.
  4. INTOSAI (2019). GUID 3920: The Performance Auditing Process.
  5. Quốc hội (2015). Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13 ngày 24/6/2015.
  6. Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.
  7. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1978/QĐ-TTg ngày 24/11/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  8. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 841/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 ban hành Lộ trình thực hiện các MTPTBV Việt Nam đến năm 2030.
  9. United Nations (2015). Transforming our world: the 2030 Agenda for Sustainable Development. https://sdgs. un.org/2030agenda
  10. UN-Water (2024). Indicator 6.1.1: Proportion of population using safely managed drinking water services. https://www. unwater.org/our-work/sdg-6-integrated-monitoring-initiative/indicator-611-proportion-population-using-safely
  11. World Health Organization & UNICEF (2023). Progress on household drinking water, sanitation and hygiene 2000- 2022: Special focus on gender. https://data.unicef.org/resources/jmp-report-2023/
Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026

Tin tức khác

Cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung Tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu, xu hướng dịch chuyển FDI và hàm ý cho Việt Nam

Cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung Tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu, xu hướng dịch chuyển FDI và hàm ý cho Việt Nam

Cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung từ năm 2018 đã tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và xu hướng dịch chuyển đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bài viết phân tích tác động của cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung đến chuỗi cung ứng toàn cầu và xu hướng dịch chuyển FDI, tập trung vào 4 nội dung chính: phân mảnh chuỗi cung ứng toàn cầu, ảnh hưởng theo ngành, tái cấu trúc mạng lưới sản xuất và sự dịch chuyển FDI từ Trung Quốc sang ASEAN. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm giúp Việt Nam tận dụng xu hướng dịch chuyển FDI, nâng cao chất lượng dòng vốn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh tế biến động

Nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh tế biến động

Bài viết tập trung đánh giá thực trạng năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trước những biến động kinh tế trong thời gian qua, đồng thời chỉ ra các cơ hội, thách thức và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng, tăng cường sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã chủ động đổi mới mô hình kinh doanh, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và tái cấu trúc hoạt động sản xuất kinh doanh, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về nguồn lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo. Do đó, cần có sự phối hợp giữa doanh nghiệp và nhà nước nhằm xây dựng môi trường kinh doanh linh hoạt, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao khả năng thích ứng trước các cú sốc kinh tế trong tương lai.
Nâng cao năng lực ứng phó phòng vệ thương mại cho doanh nghiệp xuất khẩu

Nâng cao năng lực ứng phó phòng vệ thương mại cho doanh nghiệp xuất khẩu

Trong bối cảnh xu hướng bảo hộ thương mại tiếp tục gia tăng trên phạm vi toàn cầu, các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng được nhiều quốc gia sử dụng với tần suất và mức độ phức tạp cao hơn.
Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, chuyển đổi xanh được xác định là một định hướng chiến lược quan trọng nhằm hiện thực hoá các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và 2045. Sự phát triển của thị trường carbon và các cơ chế định giá phát thải, đặc biệt là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) đang làm thay đổi căn bản điều kiện cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Với Việt Nam, Liên minh châu Âu (EU) là một thị trường xuất khẩu quan trọng, chiếm khoảng 12,3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2025, do đó việc áp dụng CBAM sẽ tạo ra áp lực đáng kể đối với doanh nghiệp Việt Nam trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn phát thải và chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, bền vững. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng chuyển đổi xanh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, làm rõ những khó khăn, thách thức đặt ra đối với doanh nghiệp từ đó đề ra một số định hướng chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp.
Phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu phân tích quá trình phát triển của thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam trong bối cảnh thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số trong ngành ngân hàng. Trên cơ sở tổng hợp các quy định pháp lý và số liệu thị trường, nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển, mức độ cạnh tranh, kết quả đạt được và các hạn chế trong hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tín dụng. Kết quả cho thấy, thị trường đang tăng trưởng nhanh nhưng vẫn còn tồn tại các vấn đề về chi phí chấp nhận thẻ, rủi ro tín dụng, gian lận thanh toán và sự chênh lệch về hạ tầng thanh toán. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao quản trị rủi ro, mở rộng hạ tầng thanh toán và phát triển thị trường thẻ tín dụng theo hướng an toàn, minh bạch và bền vững.
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững

Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ cùng những thách thức ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang hội tụ thành xu thế phát triển mới - chuyển đổi kép. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế mà còn là con đường tất yếu để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bối cảnh này đặt ra trọng trách lớn đối với khu vực kinh tế nhà nước. Bài viết làm rõ vai trò của khu vực kinh tế nhà nước, những cơ hội và thách thức đặt ra trong bối cảnh mới; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ khu vực kinh tế nhà nước phát triển bền vững, tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp

Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những chuyển dịch địa chính trị toàn cầu, Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử tiến vào “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc. Bài viết phân tích toàn diện tiến trình đổi mới của Hải quan Việt Nam giai đoạn 2025-2026 trên các phương diện: hoàn thiện thể chế pháp lý, tinh gọn bộ máy hành chính và tăng cường hạ tầng số. Bằng phương pháp phân tích thực tiễn và tổng hợp số liệu, nghiên cứu làm rõ vai trò chuyển dịch mang tính bước ngoặt của ngành Hải quan từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vụ”, góp phần tối ưu hóa chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh đó, bài viết xác định các “nút thắt” hiện tại và đề xuất định hướng chiến lược hướng tới mục tiêu Hải quan thông minh vào năm 2030.
Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới

Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ là khu vực có vị trí đặc biệt trong cấu trúc kinh tế Việt Nam: đông về số lượng, rộng về địa bàn, quan trọng về sinh kế và không thể thay thế trong việc nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách ở cấp cơ sở. Song đây cũng là nhóm chủ thể có năng lực tài chính hạn chế, trình độ quản trị không đồng đều, khả năng tiếp cận kế toán, công nghệ và tư vấn pháp lý còn nhiều khó khăn.Giai đoạn 2025-2026 ghi nhận chuyển động chính sách đáng chú ý: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15, Nghị quyết số 198/2025/QH15, Luật số 09/2026/QH16, các nghị quyết về giảm thuế giá trị gia tăng, gia hạn thuế, tiền thuê đất và Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 đã tạo nên một cấu trúc hỗ trợ đa tầng, kết hợp giữa giảm gánh nặng tài chính và cải cách phương thức quản trị thuế. Bài viết phân tích 7 nhóm giải pháp chủ yếu, đánh giá tác động tổng hợp và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi, theo hướng thuế không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là công cụ phát triển và chính thức hóa khu vực kinh tế tư nhân.
Xem thêm
podcast tinh gon 3 600 dau moi va dau an quan tri so o bo tai chinh

PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa 12, Bộ Tài chính đã thực hiện một cuộc "đại phẫu" toàn diện từ cấu trúc tổ chức đến tư duy nhân sự, trở thành điểm sáng lớn trong công tác cải cách hành chính quốc gia.
podcast luat quan ly thue 2025 hoan thien khung phap ly de trien khai thong nhat

PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất

Luật Quản lý thuế năm 2025 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, cùng với hệ thống nghị định và thông tư hướng dẫn được Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho công tác quản lý thuế trong giai đoạn mới. Các văn bản không chỉ quy định chi tiết việc thi hành luật mà còn hướng dẫn cụ thể về hóa đơn điện tử, quản lý hộ kinh doanh và các thủ tục quản lý thuế.
infographic binh quan 6 thang dau nam 2026 chi so gia tieu dung tang 4 38 so voi cung ky nam truoc

INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,12%.
video quy dinh moi ve quan ly thue xuat nhap khau khong phai nop lai chung tu da co tren cac cong thong tin so

VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 86 năm 2026 quy định về quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và chính thức có hiệu lực thi hành. Đây là văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa Luật Quản lý thuế năm 2025, hướng tới mục tiêu hoàn thiện cơ sở pháp lý, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực hải quan để tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu.
video siet chat nhap khau o to bieu tang kiem soat ho so ngay tu dau thay vi giam sat sau thong quan

VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan

Việc nhập khẩu xe ô tô theo diện quà biếu, quà tặng hay tài sản di chuyển là nhu cầu có thật trong đời sống. Tuy nhiên, để ngăn chặn triệt để tình trạng trục lợi, đưa xe vào thị trường nội địa để kinh doanh thương mại trá hình, dự thảo quy định mới đang được hoàn thiện theo hướng siết chặt kiểm soát ngay từ khâu nhập khẩu.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội

Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội

Ngày 15/7, Đảng ủy Chính phủ tổ chức Hội nghị giao ban công tác 6 tháng đầu năm 2026 với các đảng ủy trực thuộc.
Đề xuất luật hóa tập đoàn xuất bản - truyền thông, xuất bản trên không gian mạng

Đề xuất luật hóa tập đoàn xuất bản - truyền thông, xuất bản trên không gian mạng

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản đề xuất nhiều chính sách mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số.
Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất định hướng xây dựng kế hoạch giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2021-2026.
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa

Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng được Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng ngày 14/7.
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể

Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể

Sau khi xác lập quyết tâm tăng trưởng 2 con số, Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa mục tiêu bằng 2 nghị quyết quan trọng để lượng hóa trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương.
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Ngày 13/7, Hội nghị tham vấn, lấy ý kiến đối với dự án Luật Phát triển đô thị được tổ chức dưới sự đồng chủ trì của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm.
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều nhiệm vụ lập pháp quan trọng trong lĩnh vực tài chính, ngân sách, thuế, đầu tư và doanh nghiệp.
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Đây là một trong những nội dung được Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, Trưởng ban Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương nhấn mạnh tại Hội nghị tổng kết Tổng điều tra chiều ngày 13/7.
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững

Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững

Cục Kế hoạch - Tài chính đã chủ động tham mưu, điều hành hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, hoàn thiện cơ chế chính sách, thúc đẩy giải ngân đầu tư công.
Chỉ số BCI quý 2 tiệm cận mức đỉnh,  niềm tin vào môi trường kinh doanh đầu tư Việt Nam vượt kỳ vọng

Chỉ số BCI quý 2 tiệm cận mức đỉnh, niềm tin vào môi trường kinh doanh đầu tư Việt Nam vượt kỳ vọng

Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) quý II/2026 đã tăng mạnh lên 79,7 điểm trong bối cảnh biến động của thương mại toàn cầu.
Tăng trưởng 2 con số: Hoàn thiện thị trường vốn để nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực

Tăng trưởng 2 con số: Hoàn thiện thị trường vốn để nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực

Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong huy động và phân bổ nguồn lực cùng hệ thống ngân hàng. Hoàn thiện thể chế sẽ tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Việt Nam cần vượt qua những điểm nghẽn của mô hình phát triển cũ

Việt Nam cần vượt qua những điểm nghẽn của mô hình phát triển cũ

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 10% trong giai đoạn tới, nền kinh tế cần tạo bước đột phá về năng suất, phát triển thị trường vốn, đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ.
Đón dòng vốn xanh vào các khu công nghiệp

Đón dòng vốn xanh vào các khu công nghiệp

Sự dịch chuyển dòng vốn chất lượng cao cùng yêu cầu khắt khe về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số đang tạo động lực để thị trường khu công nghiệp vào giai đoạn phát triển mới.
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số

Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số

Thời gian qua, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính chủ yếu tập trung vào cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục. Tuy nhiên, yêu cầu cải cách hiện nay là tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số.
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân

Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân

Chỉ khi đánh giá đúng "sức khỏe" của khu vực kinh tế tư nhân mới có thể thiết kế những chính sách trúng, đúng và đủ mạnh để khơi thông động lực tăng trưởng, hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long

Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang chuyển trọng tâm sản xuất nông sản từ tăng sản lượng sang gia tăng giá trị, lấy thị trường, người nông dân làm động lực phát triển.
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng

Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng

Các doanh nghiệp là lực lượng quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó, cần các giải pháp cải thiện năng lực của doanh nghiệp để có thể kích hoạt tốt hơn các động lực tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số

Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số

Mục tiêu tăng trưởng cao phải dựa trên 2 động lực căn bản là nâng cao năng suất lao động và nâng cao năng lực của doanh nghiệp. Muốn vậy, bên cạnh việc tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô, những cải cách vi mô có tính đột phá là hết sức cần thiết.