aa

Cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung Tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu, xu hướng dịch chuyển FDI và hàm ý cho Việt Nam

14:51 | 15/07/2026
Cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung từ năm 2018 đã tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và xu hướng dịch chuyển đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bài viết phân tích tác động của cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung đến chuỗi cung ứng toàn cầu và xu hướng dịch chuyển FDI, tập trung vào 4 nội dung chính: phân mảnh chuỗi cung ứng toàn cầu, ảnh hưởng theo ngành, tái cấu trúc mạng lưới sản xuất và sự dịch chuyển FDI từ Trung Quốc sang ASEAN. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm giúp Việt Nam tận dụng xu hướng dịch chuyển FDI, nâng cao chất lượng dòng vốn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nguyễn Thùy Linh

Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Email: thuylinh_dhkt@vnu.edu.vn

ĐẶT VẤN ĐỀ

Toàn cầu hóa sản xuất đã hình thành các chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó Trung Quốc giữ vai trò trung tâm sản xuất, lắp ráp và xuất khẩu lớn, đặc biệt trong các ngành điện tử, thiết bị viễn thông, dệt may, da giày, đồ gỗ và sản phẩm công nghiệp trung gian. Tuy nhiên, từ năm 2018, cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung với các biện pháp áp thuế, kiểm soát công nghệ và gia tăng bất định chính sách đã làm thay đổi logic tổ chức chuỗi cung ứng, buộc các doanh nghiệp đa quốc gia chuyển từ tối ưu hóa chi phí sang quản trị rủi ro, tăng khả năng chống chịu và đa dạng hóa địa điểm sản xuất thông qua các chiến lược như Trung Quốc cộng một, dịch chuyển sản xuất sang các quốc gia thân thiện và dịch chuyển sản xuất về gần thị trường tiêu thụ (OECD, 2023; UNCTAD, 2023, 2024).

Trong bối cảnh đó, FDI toàn cầu có xu hướng tái phân bổ khi một phần hoạt động sản xuất tại Trung Quốc được dịch chuyển hoặc mở rộng sang các địa điểm khác, trong đó ASEAN nổi lên nhờ vị trí địa lý thuận lợi, chi phí cạnh tranh, quy mô thị trường tăng và mạng lưới hiệp định thương mại ngày càng mở rộng. Đối với Việt Nam, xu hướng này mở ra cơ hội thu hút FDI, mở rộng sản xuất và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Năm 2024, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 38,23 tỷ USD; vốn FDI thực hiện đạt khoảng 25,35 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm 2023 và đạt mức cao nhất trong nhiều năm gần đây. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút 25,58 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 66,9% tổng vốn FDI đăng ký; vốn thực hiện đạt 20,62 tỷ USD, chiếm 81,4% tổng vốn FDI thực hiện (Cục Đầu tư nước ngoài, 2025; Tổng cục Thống kê, 2025).

BẢNG 1: MỘT SỐ CHỈ BÁO VỀ DỊCH CHUYỂN FDI VÀO ASEAN VÀ VIỆT NAM

Chỉ tiêu

Giá trị

Giai đoạn/Năm

Nguồn

FDI vào ASEAN

224 tỷ USD

2022

ASEAN Secretariat & UNCTAD (2023)

Vốn FDI cam kết vào các dự án nhà máy chế tạo mới tại ASEAN

Trên 124 tỷ USD

2022-2023

fDi Intelligence, trích trong Bay Area Council Economic Institute (2024)

FDI chế tạo của Trung Quốc vào ASEAN

Bình quân khoảng 10 tỷ USD/năm trong ba năm gần đây; chế tạo chiếm hơn một nửa tổng FDI Trung Quốc tại ASEAN năm 2024

2022 - 2024

Meyer & Kratz (2025)

FDI đăng ký vào Việt Nam

38,23 tỷ USD

2024

Cục Đầu tư nước ngoài (2025); Tổng cục Thống kê (2025)

FDI thực hiện tại Việt Nam

25,35 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm 2023

2024

Cục Đầu tư nước ngoài (2025); Tổng cục Thống kê (2025)

FDI đăng ký vào công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam

25,58 tỷ USD, chiếm 66,9% tổng FDI đăng ký

2024

Cục Đầu tư nước ngoài (2025); Tổng cục Thống kê (2025)

FDI thực hiện trong công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam

20,62 tỷ USD, chiếm 81,4% tổng FDI thực hiện

2024

Tổng cục Thống kê (2025)

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ ASEAN Secretariat & UNCTAD (2023),
fDi Intelligence (trích trong Bay Area Council Economic Institute, 2024),
Meyer và Kratz (2025), Cục Đầu tư nước ngoài (2025) và Tổng cục Thống kê (2025).

Tuy nhiên, nếu Việt Nam chủ yếu tiếp nhận các công đoạn gia công, lắp ráp hoặc dự án công nghệ thấp, lợi ích sẽ chỉ dừng ở tăng xuất khẩu và tạo việc làm, trong khi giá trị gia tăng nội địa, chuyển giao công nghệ và liên kết doanh nghiệp trong nước vẫn hạn chế. Đồng thời, dòng vốn dịch chuyển từ Trung Quốc cũng có thể làm gia tăng rủi ro gian lận xuất xứ, lẩn tránh thuế, phòng vệ thương mại và phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu. Vì vậy, bài viết phân tích tác động của cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung đến chuỗi cung ứng toàn cầu và xu hướng dịch chuyển FDI, từ đó đề xuất hàm ý chính sách giúp Việt Nam tận dụng cơ hội, giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng thu hút FDI.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, kết hợp với phân tích - tổng hợp, thống kê mô tả và so sánh chính sách. Nguồn dữ liệu và tài liệu được khai thác từ các báo cáo quốc tế, công trình nghiên cứu học thuật và số liệu thống kê chính thức liên quan đến cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung, chuỗi cung ứng toàn cầu và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các số liệu được trích dẫn theo nguyên tắc: số liệu quốc tế sử dụng nguồn của ASEAN Secretariat, UNCTAD, OECD, Rhodium Group và fDi Intelligence; số liệu Việt Nam sử dụng nguồn chính thức của Cục Đầu tư nước ngoài và Tổng cục Thống kê, đồng thời ghi rõ các trường hợp tác giả tổng hợp, tính toán hoặc làm tròn từ dữ liệu thứ cấp.

Về dữ liệu quốc tế, bài viết tham khảo các báo cáo của UNCTAD, OECD, WTO, ASEAN Secretariat, Rhodium Group và các nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu, chiến lược Trung Quốc cộng một, tái cấu trúc mạng lưới sản xuất và dịch chuyển FDI trong bối cảnh cạnh tranh địa kinh tế. Về dữ liệu trong nước, bài viết sử dụng số liệu công bố bởi Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay thuộc Bộ Tài chính), Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) và các báo cáo tổng hợp liên quan đến tình hình thu hút FDI của Việt Nam, đặc biệt là các chỉ tiêu về vốn đăng ký, vốn thực hiện, cơ cấu ngành, đối tác đầu tư và địa bàn tiếp nhận FDI trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.

Về phương pháp, phân tích - tổng hợp được sử dụng để hệ thống hóa các cơ chế tác động của cạnh tranh Mỹ - Trung đến chuỗi cung ứng toàn cầu và dòng vốn FDI. Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng nhằm phản ánh một số xu hướng chính của dòng vốn FDI và vai trò của Việt Nam trong làn sóng dịch chuyển đầu tư. Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ sự thay đổi trong chiến lược sản xuất của doanh nghiệp trước và sau năm 2018, thời điểm cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung gia tăng mạnh. Phương pháp phân tích chính sách được sử dụng để nhận diện cơ hội, thách thức và đề xuất hàm ý đối với Việt Nam.

BẢNG 2: MỘT SỐ MỐC VỀ FDI VÀO CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO CỦA VIỆT NAM

Năm/ Giai đoạn

Chỉ tiêu

Giá trị

Nhận xét

2013

FDI đăng ký vào công nghiệp chế biến, chế tạo

11,54 tỷ USD

Giai đoạn trước cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung; xu hướng tăng ổn định

2016

FDI đăng ký vào công nghiệp chế biến, chế tạo

16,94 tỷ USD

Mức cao trong giai đoạn 2013-2017

2017

FDI đăng ký vào công nghiệp chế biến, chế tạo

16,44 tỷ USD

Mốc ngay trước khi căng thẳng Mỹ - Trung bùng phát

2024

FDI đăng ký vào công nghiệp chế biến, chế tạo

25,58 tỷ USD

Chiếm 66,9% tổng FDI đăng ký của Việt Nam

2024

FDI thực hiện trong công nghiệp chế biến, chế tạo

20,62 tỷ USD

Chiếm 81,4% tổng FDI thực hiện

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài (2014, 2017, 2018, 2025),
Tổng cục Thống kê (2025) và các báo cáo thống kê FDI giai đoạn 2013-2024;
số liệu năm 2024 cập nhật theo công bố chính thức của Cục Đầu tư nước ngoài và Tổng cục Thống kê.

MỘT SỐ BẰNG CHỨNG ĐỊNH LƯỢNG VỀ DỊCH CHUYỂN FDI TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH MỸ - TRUNG

Để tránh cách tiếp cận chỉ dừng ở mô tả định tính, bài viết sử dụng một số chỉ báo định lượng nhằm làm rõ hơn xu hướng dịch chuyển FDI từ Trung Quốc sang ASEAN và vai trò nổi lên của Việt Nam. Các chỉ báo này tập trung vào ba cấp độ: khu vực ASEAN, dòng vốn FDI vào Việt Nam và cơ cấu FDI trong công nghiệp chế biến, chế tạo.

Các số liệu ở Bảng 1 cho thấy, ASEAN đã trở thành một cực thu hút FDI mới trong bối cảnh doanh nghiệp đa quốc gia tái cấu trúc mạng lưới sản xuất. Việc FDI vào ASEAN đạt 224 tỷ USD năm 2022 và vốn FDI cam kết vào các dự án nhà máy chế tạo mới vượt 124 tỷ USD trong 2 năm 2022-2023 phản ánh xu hướng dịch chuyển sản xuất khỏi mô hình phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc (ASEAN Secretariat & UNCTAD, 2023; Bay Area Council Economic Institute, 2024). Riêng với Việt Nam, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong tổng FDI đăng ký và FDI thực hiện năm 2024 cho thấy lĩnh vực này là kênh tiếp nhận quan trọng nhất của làn sóng đầu tư mới (Cục Đầu tư nước ngoài, 2025; Tổng cục Thống kê, 2025).

Bảng 2 so sánh các mốc 2013, 2017 và 2024 cho thấy quy mô FDI vào công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam tăng đáng kể sau khi cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung làm thay đổi chiến lược đầu tư quốc tế. Mức 25,58 tỷ USD vốn đăng ký vào năm 2024 cao hơn rõ rệt so với 16,44 tỷ USD của năm 2017, qua đó phản ánh vai trò ngày càng lớn của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất khu vực (Cục Đầu tư nước ngoài, 2018, 2025).

Bảng 3 cho thấy xu hướng chuyển dịch cơ cấu FDI trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Nhóm điện tử, linh kiện và thiết bị công nghệ cao tăng từ 25,0% năm 2013 lên 36,8% năm 2018, 53,0% năm 2023 và ước đạt 54,3% năm 2024. Ngược lại, nhóm dệt may, da giày và hàng tiêu dùng xuất khẩu duy trì quy mô vốn nhưng tỷ trọng giảm tương đối từ 17,8% năm 2013 xuống khoảng 16,4% năm 2023 và 16,3% năm 2024. Đáng chú ý, nhóm cơ khí, ô tô và phụ tùng tăng từ 11,1% năm 2013 lên 23,6% năm 2023, trong khi nhóm công nghiệp mới nổi, vật liệu mới và công nghệ xanh tăng từ 1,1% năm 2013 lên 21,8% năm 2023 và ước đạt 27,1% năm 2024. Những thay đổi này cho thấy cạnh tranh Mỹ - Trung không chỉ làm dịch chuyển địa điểm đầu tư, mà còn góp phần tái định hình cơ cấu ngành của FDI tại Việt Nam (Nguyễn Thùy Linh, 2026; UNCTAD, 2024).

BẢNG 3: TỶ TRỌNG FDI VÀO MỘT SỐ NHÓM NGÀNH TIÊU BIỂU TRONG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO CỦA VIỆT NAM

Nhóm ngành

2013

2018

2023

2024*

Điện tử, linh kiện, thiết bị công nghệ cao

25,0%

36,8%

53,0%

54,3%

Dệt may, da giày, hàng tiêu dùng xuất khẩu

17,8%

17,2%

16,4%

16,3%

Cơ khí, chế tạo máy, ô tô và phụ tùng

11,1%

14,7%

23,6%

25,7%

Công nghiệp mới nổi, vật liệu mới, công nghệ xanh

1,1%

5,3%

21,8%

27,1%

Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ số liệu công bố của Cục Đầu tư nước ngoài (2014-2025),
Tổng cục Thống kê (2025), UNCTAD (2023, 2024) và Nguyễn Thùy Linh (2026);
*2024 là số liệu ước tính/làm tròn từ nguồn tổng hợp.

CẠNH TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG VÀ SỰ PHÂN MẢNH CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU

Một trong những tác động trực tiếp nhất của cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung là sự phân mảnh chuỗi cung ứng toàn cầu. Trước khi căng thẳng Mỹ - Trung bùng phát, các chuỗi cung ứng toàn cầu được tổ chức chủ yếu theo nguyên tắc tối ưu hóa chi phí và hiệu quả sản xuất. Trung Quốc đóng vai trò là trung tâm sản xuất lớn nhờ lợi thế về quy mô, hạ tầng công nghiệp, hệ sinh thái nhà cung ứng, năng lực logistics và khả năng đáp ứng các đơn hàng quy mô lớn (Baldwin, 2016; Gereffi & Fernandez-Stark, 2016).

Tuy nhiên, khi các biện pháp thuế quan và kiểm soát công nghệ gia tăng, mô hình phụ thuộc quá lớn vào một địa điểm sản xuất bắt đầu bộc lộ rủi ro. Các doanh nghiệp đa quốc gia nhận thấy rằng việc tập trung sản xuất tại một quốc gia có thể giúp giảm chi phí trong điều kiện ổn định, nhưng lại làm gia tăng tính dễ tổn thương khi xuất hiện cú sốc thương mại, chính trị hoặc logistics. Do đó, nhiều doanh nghiệp bắt đầu điều chỉnh chiến lược chuỗi cung ứng theo hướng phân tán rủi ro (OECD, 2023; UNCTAD, 2023).

Sự phân mảnh chuỗi cung ứng thể hiện trước hết ở việc chuyển từ mô hình sản xuất đúng lúc sang mô hình dự phòng rủi ro. Mô hình sản xuất đúng lúc nhấn mạnh giảm tồn kho, rút ngắn thời gian lưu kho và tối ưu hóa chi phí. Mô hình này hiệu quả trong bối cảnh thương mại quốc tế ổn định. Tuy nhiên, khi thuế quan, kiểm soát công nghệ, gián đoạn vận tải và bất định chính sách gia tăng, việc duy trì tồn kho quá thấp khiến doanh nghiệp dễ bị tổn thương. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp chuyển sang mô hình dự phòng rủi ro, tức là chấp nhận chi phí cao hơn để duy trì năng lực dự phòng, tồn kho chiến lược và nhiều nguồn cung thay thế (OECD, 2023).

Sự phân mảnh còn thể hiện ở xu hướng đa dạng hóa nhà cung ứng. Thay vì phụ thuộc vào một nhóm nhà cung ứng ở Trung Quốc, các doanh nghiệp tăng cường tìm kiếm nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2 tại nhiều quốc gia khác nhau. Điều này giúp giảm rủi ro gián đoạn nhưng cũng làm tăng chi phí quản trị chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn vào kiểm soát chất lượng, logistics, truy xuất nguồn gốc và quản lý tiêu chuẩn sản xuất ở nhiều địa điểm.

Về dài hạn, sự phân mảnh chuỗi cung ứng không đồng nghĩa với phi toàn cầu hóa hoàn toàn, mà phản ánh sự tái cấu trúc toàn cầu hóa theo hướng thận trọng hơn. Chuỗi cung ứng vẫn mang tính quốc tế, nhưng được tổ chức theo hướng đa trung tâm, có khả năng chống chịu tốt hơn và ít phụ thuộc hơn vào một điểm nút duy nhất. Đây là thay đổi có ý nghĩa lớn đối với dòng vốn FDI, bởi khi doanh nghiệp điều chỉnh mạng lưới sản xuất, họ đồng thời điều chỉnh địa điểm đầu tư.

Đối với các quốc gia đang phát triển, sự phân mảnh chuỗi cung ứng tạo ra cơ hội tham gia vào các mạng lưới sản xuất mới. Tuy nhiên, cơ hội này có tính chọn lọc cao. Những quốc gia có hạ tầng công nghiệp, logistics, nguồn nhân lực, môi trường đầu tư ổn định và năng lực tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế sẽ có khả năng thu hút FDI tốt hơn. Ngược lại, những quốc gia chỉ dựa vào chi phí lao động thấp nhưng thiếu năng lực công nghiệp hỗ trợ khó có thể tận dụng đầy đủ xu hướng này.

Ảnh hưởng của cạnh tranh Mỹ - Trung theo ngành

Tác động của cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung không diễn ra đồng đều giữa các ngành. Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào vị trí của từng ngành trong chuỗi giá trị toàn cầu, mức độ phụ thuộc vào Trung Quốc, mức độ nhạy cảm với thuế quan và vai trò chiến lược của ngành đối với an ninh kinh tế.

Thứ nhất, ngành công nghệ cao, đặc biệt là bán dẫn, điện tử và thiết bị viễn thông, chịu tác động sâu sắc nhất. Đây là những lĩnh vực gắn trực tiếp với cạnh tranh công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu chip, thiết bị sản xuất chip và công nghệ then chốt đã làm gia tăng bất định đối với các tập đoàn công nghệ toàn cầu. Do đó, nhiều doanh nghiệp phải rà soát lại địa điểm sản xuất, nguồn cung linh kiện và mức độ phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc (Bown & Kolb, 2021; OECD, 2023).

Thứ hai, các ngành dệt may, da giày và đồ gỗ chịu tác động rõ rệt do đây là các ngành thâm dụng lao động, nhạy cảm với chi phí và thuế quan. Khi hàng hóa Trung Quốc bị áp thuế cao hơn tại thị trường Mỹ, các doanh nghiệp quốc tế có động lực chuyển một phần đơn hàng hoặc cơ sở sản xuất sang các quốc gia có chi phí cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, số liệu tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài cho thấy, mặc dù vốn FDI vào dệt may, da giày vẫn tăng về quy mô tuyệt đối, tỷ trọng của nhóm này trong FDI chế biến, chế tạo giảm tương đối từ 18,0% năm 2017 xuống 16,4% năm 2023. Điều này phản ánh xu hướng dịch chuyển cơ cấu từ ngành thâm dụng lao động truyền thống sang các ngành công nghệ và sản phẩm trung gian có giá trị cao hơn (Cục Đầu tư nước ngoài, 2018, 2025; Nguyễn Thùy Linh, 2026).

Thứ ba, các ngành pin, xe điện và năng lượng sạch đang nổi lên như một mặt trận cạnh tranh mới. Đây là các ngành gắn với chuyển đổi xanh, an ninh năng lượng và công nghệ tương lai. Cạnh tranh Mỹ - Trung khiến các doanh nghiệp và chính phủ tìm cách đa dạng hóa nguồn cung vật liệu, linh kiện và địa điểm sản xuất ngoài Trung Quốc. Theo số liệu tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài và các báo cáo ngành, tại Việt Nam, tỷ trọng FDI vào nhóm công nghiệp mới nổi, vật liệu mới và công nghệ xanh tăng mạnh từ 1,1% năm 2013 lên 5,3% năm 2018, 21,8% năm 2023 và ước đạt 27,1% năm 2024. Đây là tín hiệu cho thấy xu hướng đầu tư mới đang dịch chuyển dần sang các lĩnh vực gắn với chuyển đổi năng lượng và tiêu chuẩn phát triển bền vững (Nguyễn Thùy Linh, 2026; UNCTAD, 2024).

Như vậy, cạnh tranh Mỹ - Trung không chỉ tạo ra sự dịch chuyển FDI nói chung, mà còn làm thay đổi cấu trúc ngành của dòng vốn đầu tư. Ngành công nghệ cao chịu tác động bởi phân mảnh công nghệ; ngành dệt may, da giày, đồ gỗ dịch chuyển do áp lực thuế quan và chi phí; còn ngành pin, xe điện và năng lượng sạch nổi lên như lĩnh vực mới của cạnh tranh chiến lược và tái phân bổ FDI toàn cầu.

Xu hướng tái cấu trúc mạng lưới sản xuất toàn cầu

Cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung đã thúc đẩy quá trình tái cấu trúc mạng lưới sản xuất toàn cầu theo hướng phân tán, khu vực hóa và tăng cường khả năng chống chịu.

Một xu hướng quan trọng là tái khu vực hóa sản xuất. Thay vì tổ chức một chuỗi cung ứng toàn cầu quá dài và phụ thuộc vào một trung tâm sản xuất, doanh nghiệp có xu hướng hình thành các cụm sản xuất gần hơn với thị trường tiêu thụ hoặc nằm trong các khu vực có cam kết thương mại thuận lợi.

Sự hình thành các cụm sản xuất - tiêu thụ khu vực làm thay đổi vai trò của các nước đang phát triển trong chuỗi cung ứng. ASEAN không chỉ là nơi tiếp nhận các công đoạn sản xuất thâm dụng lao động, mà còn từng bước trở thành một khu vực sản xuất bổ sung cho Trung Quốc. Trong cấu trúc này, Việt Nam có cơ hội trở thành mắt xích quan trọng ở các ngành điện tử, thiết bị, dệt may, da giày, đồ gỗ và một số lĩnh vực công nghệ xanh.

Bằng chứng tại Việt Nam cho thấy FDI chế biến, chế tạo có xu hướng tập trung cao tại các địa phương và khu công nghiệp có hạ tầng tốt. Theo số liệu tác giả tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI vào công nghiệp chế biến, chế tạo của năm địa phương trọng điểm gồm Bắc Ninh, Thái Nguyên, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đồng Nai tăng từ 55,0 tỷ USD giai đoạn 2013-2017 lên 95,0 tỷ USD giai đoạn 2018- 2024, chiếm 84,8% tổng vốn FDI chế biến, chế tạo cả nước trong giai đoạn sau. Trong đó, Bắc Ninh tăng từ 12,5 tỷ USD lên 28,0 tỷ USD, còn Thái Nguyên tăng từ 8,0 tỷ USD lên 20,5 tỷ USD, phản ánh vai trò nổi bật của các địa phương miền Bắc trong chuỗi điện tử và linh kiện (Cục Đầu tư nước ngoài, 2014-2025; Nguyễn Thùy Linh, 2026).

Các khu công nghiệp và khu chế xuất tiếp tục là không gian chủ yếu tiếp nhận FDI chế biến, chế tạo. Theo số liệu tác giả tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài, vốn FDI đăng ký vào lĩnh vực này tại các khu công nghiệp/khu chế xuất trọng điểm tăng từ 67,6 tỷ USD giai đoạn 2013-2017 lên 112,0 tỷ USD giai đoạn 2018-2023; riêng vùng kinh tế trọng điểm Bắc tăng từ 25,0 tỷ USD lên 50,0 tỷ USD, đồng thời nâng tỷ trọng từ 37,0% lên 44,6%. Những con số này cho thấy tái cấu trúc mạng lưới sản xuất không chỉ diễn ra ở cấp độ quốc gia, mà còn tạo ra sự dịch chuyển không gian FDI trong nội bộ Việt Nam (Cục Đầu tư nước ngoài, 2014-2025; Nguyễn Thùy Linh, 2026).

Một hệ quả khác của tái cấu trúc mạng lưới sản xuất là vai trò ngày càng lớn của logistics và hạ tầng kết nối. Khi sản xuất được phân tán sang nhiều địa điểm, chi phí vận tải, thời gian giao hàng, năng lực cảng biển, sân bay, đường cao tốc và dịch vụ logistics tích hợp trở thành yếu tố quan trọng trong quyết định đầu tư. Quốc gia nào có khả năng kết nối nhanh với chuỗi cung ứng khu vực và thị trường xuất khẩu sẽ có lợi thế lớn hơn trong thu hút FDI.

SỰ DỊCH CHUYỂN FDI TỪ TRUNG QUỐC SANG ASEAN VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM

Sự dịch chuyển FDI từ Trung Quốc sang ASEAN là một trong những biểu hiện rõ nét của quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng dưới tác động của cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung. Sau các vòng áp thuế và kiểm soát công nghệ, nhiều doanh nghiệp đa quốc gia chủ động đa dạng hóa cơ sở sản xuất ra khỏi Trung Quốc nhằm giảm rủi ro thuế quan, duy trì khả năng tiếp cận thị trường Mỹ và tăng tính linh hoạt của chuỗi cung ứng.

ASEAN nổi lên như một khu vực hấp dẫn trong làn sóng dịch chuyển này nhờ nhiều lợi thế. FDI vào ASEAN đạt mức kỷ lục 224 tỷ USD năm 2022, bất chấp xu hướng suy giảm chung của FDI toàn cầu. Đáng chú ý, theo dữ liệu fDi Intelligence được trích dẫn bởi Bay Area Council Economic Institute (2024), hơn 124 tỷ USD vốn FDI được cam kết vào các dự án nhà máy chế tạo mới tại ASEAN trong hai năm 2022-2023, cho thấy khu vực này đang từng bước trở thành địa bàn thay thế hoặc bổ sung cho Trung Quốc trong nhiều quyết định đầu tư mới (ASEAN Secretariat & UNCTAD, 2023; Bay Area Council Economic Institute, 2024).

Một đặc điểm quan trọng của xu hướng này là sự gia tăng đầu tư của chính doanh nghiệp Trung Quốc sang ASEAN. Theo Meyer và Kratz (2025), FDI chế tạo của Trung Quốc vào ASEAN đạt bình quân khoảng 10 tỷ USD/năm trong 3 năm gần đây, so với mức 2,7 tỷ USD/năm của giai đoạn 5 năm trước đó; đến năm 2024, chế tạo chiếm hơn một nửa tổng FDI Trung Quốc tại ASEAN. Điều này phản ánh 2 động lực song song: một mặt, doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng mạng lưới sản xuất ra khu vực; mặt khác, một số doanh nghiệp tìm cách giảm tác động của thuế quan và rủi ro thương mại bằng việc đặt một phần công đoạn sản xuất tại các nước ASEAN.

Đối với Việt Nam, làn sóng dịch chuyển FDI tạo ra cơ hội rõ rệt. Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, gần các trung tâm sản xuất của Trung Quốc và nằm trên các tuyến thương mại quan trọng. Việt Nam cũng đã xây dựng được năng lực sản xuất trong nhiều ngành xuất khẩu chủ lực, đồng thời có hệ thống khu công nghiệp tương đối phát triển. Khu vực FDI hiện đóng vai trò lớn trong xuất khẩu và sản xuất công nghiệp của Việt Nam. Theo Cục Đầu tư nước ngoài và Tổng cục Thống kê, năm 2024, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam đạt 25,35 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm trước; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 20,62 tỷ USD, chiếm 81,4% tổng vốn FDI thực hiện. Dữ liệu theo đối tác cũng cho thấy sự dịch chuyển đáng chú ý. Theo số liệu tác giả tổng hợp, tỷ trọng vốn FDI Trung Quốc vào lĩnh vực chế biến, chế tạo tại Việt Nam tăng từ 48,2% năm 2013 lên 69,4% năm 2018 và 85,5% năm 2023 trong tổng vốn FDI đăng ký của Trung Quốc vào Việt Nam. Đây là chỉ dấu quan trọng về sự chuyển hướng của nhà đầu tư Trung Quốc từ các lĩnh vực như bất động sản và thương mại sang sản xuất, chế tạo. Tuy nhiên, xu hướng này cũng làm gia tăng yêu cầu kiểm soát xuất xứ, tiêu chuẩn công nghệ và tác động môi trường của các dự án (Cục Đầu tư nước ngoài, 2025; Tổng cục Thống kê, 2025; Nguyễn Thùy Linh, 2026).

Tuy nhiên, sự dịch chuyển FDI từ Trung Quốc sang ASEAN cũng có mặt trái. Một phần dòng vốn có thể xuất phát từ động cơ tận dụng xuất xứ của nước tiếp nhận để tránh thuế quan hoặc giảm rủi ro thương mại. Nếu Việt Nam không kiểm soát tốt quy tắc xuất xứ, hàng hóa có thể bị điều tra lẩn tránh thuế hoặc bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại tại các thị trường lớn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp liên quan mà còn tác động đến uy tín thương mại quốc gia.

Ngoài ra, dòng vốn dịch chuyển không phải lúc nào cũng là FDI chất lượng cao. Một số dự án có thể chỉ nhằm tận dụng lao động giá rẻ, đất đai, ưu đãi thuế hoặc vị trí địa lý, trong khi ít cam kết về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Nếu không có chính sách sàng lọc phù hợp, Việt Nam có thể thu hút được nhiều vốn nhưng vẫn chậm nâng cấp năng lực công nghiệp nội sinh.

Cạnh tranh trong thu hút FDI giữa các quốc gia ASEAN cũng ngày càng gay gắt. Indonesia có lợi thế về thị trường lớn và tài nguyên phục vụ ngành pin, xe điện; Malaysia có nền tảng công nghiệp điện tử và bán dẫn phát triển; Thái Lan có hệ sinh thái công nghiệp ô tô và cơ khí tương đối hoàn chỉnh; Ấn Độ cũng nổi lên Quốc. Vì vậy, Việt Nam cần chuyển từ lợi thế chi phí sang lợi thế về chất lượng môi trường đầu tư, hạ tầng, nhân lực, công nghiệp hỗ trợ và năng lực thể chế.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Nhằm tận dụng xu hướng dịch chuyển FDI, nâng cao chất lượng dòng vốn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu của Việt Nam, theo tác giả, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, Việt Nam cần chuyển từ thu hút FDI theo quy mô sang thu hút FDI theo chất lượng. Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung, dòng vốn dịch chuyển là cơ hội, nhưng không phải mọi dòng vốn đều phù hợp với mục tiêu phát triển dài hạn. Chính sách ưu đãi đầu tư cần gắn với các tiêu chí cụ thể về công nghệ, giá trị gia tăng, tỷ lệ nội địa hóa, cam kết đào tạo nhân lực, tiêu chuẩn môi trường và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Thứ hai, cần phát triển công nghiệp hỗ trợ như điều kiện nền tảng để tận dụng làn sóng dịch chuyển FDI. Nếu doanh nghiệp trong nước không đủ năng lực cung ứng linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu và dịch vụ kỹ thuật, Việt Nam sẽ tiếp tục nằm ở khâu lắp ráp có giá trị gia tăng thấp. Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp nội địa nâng cấp tiêu chuẩn sản xuất, chứng nhận chất lượng, năng lực quản trị và khả năng tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.

Thứ ba, cần nâng cao năng lực kiểm soát xuất xứ và phòng vệ thương mại. Sự gia tăng FDI dịch chuyển từ Trung Quốc sang ASEAN, trong đó có Việt Nam, có thể làm tăng rủi ro bị điều tra lẩn tránh thuế hoặc gian lận xuất xứ. Việt Nam cần xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất nguồn gốc, tăng cường kiểm tra quy tắc xuất xứ và bảo đảm minh bạch trong hoạt động xuất khẩu (Meyer và Kratz, 2025).

Thứ tư, cần đầu tư mạnh hơn vào logistics và hạ tầng kết nối. Khi mạng lưới sản xuất toàn cầu được tổ chức theo hướng phân tán và khu vực hóa, năng lực logistics trở thành yếu tố quyết định năng lực thu hút FDI. Việt Nam cần phát triển cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế, đường cao tốc, đường sắt kết nối khu công nghiệp, trung tâm logistics và hạ tầng năng lượng ổn định.

Thứ năm, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp. Các ngành điện tử, bán dẫn, pin, xe điện và năng lượng sạch đòi hỏi lao động kỹ thuật cao, kỹ sư vận hành, chuyên gia quản trị sản xuất và nhân lực nghiên cứu - phát triển. Do đó, đào tạo nghề, giáo dục đại học ứng dụng và hợp tác giữa doanh nghiệp FDI với trường đại học, viện nghiên cứu cần được thúc đẩy mạnh hơn.

Thứ sáu, cần gắn thu hút FDI với chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn phát triển bền vững. Các thị trường lớn như Mỹ và EU ngày càng đặt ra yêu cầu cao về phát thải carbon, ESG, lao động và truy xuất nguồn gốc. Nếu Việt Nam tiếp nhận các dự án FDI công nghệ thấp, tiêu hao năng lượng hoặc phát thải lớn, lợi thế xuất khẩu có thể bị suy giảm trong dài hạn. Vì vậy, sàng lọc FDI xanh và công nghệ cao cần trở thành định hướng chính sách trọng tâm (UNCTAD, 2023, 2024).

Tài liệu tham khảo:

  1. ASEAN Secretariat & UNCTAD (2023). Special ASEAN Investment Report 2023: International investment trends: Key issues and policy options. ASEAN Secretariat.
  2. ASEAN Secretariat & UNCTAD (2024). ASEAN Investment Report 2024: ASEAN Economic Community 2025 and foreign direct investment. ASEAN Secretariat.
  3. Baldwin, R. (2016). The great convergence: Information technology and the new globalization. Harvard University Press.
  4. Bay Area Council Economic Institute (2024). Global production shift: India, Mexico and Southeast Asia benefit. Bay Area Council Economic Institute.
  5. Bown, C. P., & Kolb, M. (2021). Trump’s trade war timeline: An up-to-date guide. Peterson Institute for International Economics.
  6. Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014-2025). Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài năm 2013-2024.
  7. Dunning, J. H. (1988). The eclectic paradigm of international production: A restatement and some possible extensions. Journal of International Business Studies, 19(1), 1-31.
  8. Gereffi, G., & Fernandez-Stark, K. (2016). Global value chain analysis: A primer. Duke University, Center on Globalization, Governance & Competitiveness.
  9. Meyer, A., & Kratz, A. (2025). China’s manufacturing FDI in ASEAN grew rapidly, but faces tariff headwinds. Rhodium Group.
  10. Nguyễn Thùy Linh (2026). FDI trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/fdi-trong-linh-vuc-cong-nghiep-che-bien-che-tao-tai-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-156227.html .
  11. OECD (2023). Global supply chains and resilience in a changing trade environment. OECD Publishing.
  12. Tổng cục Thống kê (2025). Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024.
  13. UNCTAD (2023). World Investment Report 2023: Investing in sustainable energy for all. United Nations.
  14. UNCTAD (2024). World Investment Report 2024: Investment facilitation and digital government. United Nations.
Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026

Tin tức khác

Kiểm toán hoạt động đối với mục tiêu phát triển bền vững 6.1: Cơ sở tiếp cận và gợi ý tiêu chí kiểm toán cho Việt Nam

Kiểm toán hoạt động đối với mục tiêu phát triển bền vững 6.1: Cơ sở tiếp cận và gợi ý tiêu chí kiểm toán cho Việt Nam

Mục tiêu phát triển bền vững 6.1 của Liên hợp quốc hướng tới việc “đến năm 2030 đảm bảo khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt an toàn, trong khả năng chi trả cho tất cả mọi người”. Trong bối cảnh các cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới ngày càng được kỳ vọng trong việc giám sát, đánh giá và thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, kiểm toán hoạt động đối với mục tiêu 6.1 trở thành một hướng tiếp cận cần được nghiên cứu và vận dụng phù hợp tại Việt Nam. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tổng quan tài liệu và phân tích khung tiếp cận của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI), chuẩn mực kiểm toán hoạt động và các chính sách liên quan của Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số nhóm tiêu chí kiểm toán hoạt động đối với mục tiêu 6.1; đồng thời đưa ra các khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao năng lực kiểm toán định hướng mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam.
Nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh tế biến động

Nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh tế biến động

Bài viết tập trung đánh giá thực trạng năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trước những biến động kinh tế trong thời gian qua, đồng thời chỉ ra các cơ hội, thách thức và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng, tăng cường sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã chủ động đổi mới mô hình kinh doanh, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và tái cấu trúc hoạt động sản xuất kinh doanh, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về nguồn lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo. Do đó, cần có sự phối hợp giữa doanh nghiệp và nhà nước nhằm xây dựng môi trường kinh doanh linh hoạt, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao khả năng thích ứng trước các cú sốc kinh tế trong tương lai.
Nâng cao năng lực ứng phó phòng vệ thương mại cho doanh nghiệp xuất khẩu

Nâng cao năng lực ứng phó phòng vệ thương mại cho doanh nghiệp xuất khẩu

Trong bối cảnh xu hướng bảo hộ thương mại tiếp tục gia tăng trên phạm vi toàn cầu, các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng được nhiều quốc gia sử dụng với tần suất và mức độ phức tạp cao hơn.
Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

Thúc đẩy chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh phát triển thị trường Carbon và thực hiện CBAM

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, chuyển đổi xanh được xác định là một định hướng chiến lược quan trọng nhằm hiện thực hoá các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và 2045. Sự phát triển của thị trường carbon và các cơ chế định giá phát thải, đặc biệt là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) đang làm thay đổi căn bản điều kiện cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Với Việt Nam, Liên minh châu Âu (EU) là một thị trường xuất khẩu quan trọng, chiếm khoảng 12,3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2025, do đó việc áp dụng CBAM sẽ tạo ra áp lực đáng kể đối với doanh nghiệp Việt Nam trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn phát thải và chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, bền vững. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng chuyển đổi xanh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, làm rõ những khó khăn, thách thức đặt ra đối với doanh nghiệp từ đó đề ra một số định hướng chuyển đổi xanh tại doanh nghiệp.
Phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu phân tích quá trình phát triển của thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam trong bối cảnh thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số trong ngành ngân hàng. Trên cơ sở tổng hợp các quy định pháp lý và số liệu thị trường, nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển, mức độ cạnh tranh, kết quả đạt được và các hạn chế trong hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tín dụng. Kết quả cho thấy, thị trường đang tăng trưởng nhanh nhưng vẫn còn tồn tại các vấn đề về chi phí chấp nhận thẻ, rủi ro tín dụng, gian lận thanh toán và sự chênh lệch về hạ tầng thanh toán. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao quản trị rủi ro, mở rộng hạ tầng thanh toán và phát triển thị trường thẻ tín dụng theo hướng an toàn, minh bạch và bền vững.
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững

Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - Động lực phát triển kinh tế nhà nước nhanh, bền vững

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ cùng những thách thức ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang hội tụ thành xu thế phát triển mới - chuyển đổi kép. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế mà còn là con đường tất yếu để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bối cảnh này đặt ra trọng trách lớn đối với khu vực kinh tế nhà nước. Bài viết làm rõ vai trò của khu vực kinh tế nhà nước, những cơ hội và thách thức đặt ra trong bối cảnh mới; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ khu vực kinh tế nhà nước phát triển bền vững, tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp

Hải quan Việt Nam: Hiện đại hóa phục vụ người dân, doanh nghiệp

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những chuyển dịch địa chính trị toàn cầu, Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử tiến vào “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc. Bài viết phân tích toàn diện tiến trình đổi mới của Hải quan Việt Nam giai đoạn 2025-2026 trên các phương diện: hoàn thiện thể chế pháp lý, tinh gọn bộ máy hành chính và tăng cường hạ tầng số. Bằng phương pháp phân tích thực tiễn và tổng hợp số liệu, nghiên cứu làm rõ vai trò chuyển dịch mang tính bước ngoặt của ngành Hải quan từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vụ”, góp phần tối ưu hóa chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh đó, bài viết xác định các “nút thắt” hiện tại và đề xuất định hướng chiến lược hướng tới mục tiêu Hải quan thông minh vào năm 2030.
Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới

Giải pháp chính sách và quản lý thuế hỗ trợ hộ và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn mới

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ là khu vực có vị trí đặc biệt trong cấu trúc kinh tế Việt Nam: đông về số lượng, rộng về địa bàn, quan trọng về sinh kế và không thể thay thế trong việc nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách ở cấp cơ sở. Song đây cũng là nhóm chủ thể có năng lực tài chính hạn chế, trình độ quản trị không đồng đều, khả năng tiếp cận kế toán, công nghệ và tư vấn pháp lý còn nhiều khó khăn.Giai đoạn 2025-2026 ghi nhận chuyển động chính sách đáng chú ý: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15, Nghị quyết số 198/2025/QH15, Luật số 09/2026/QH16, các nghị quyết về giảm thuế giá trị gia tăng, gia hạn thuế, tiền thuê đất và Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 đã tạo nên một cấu trúc hỗ trợ đa tầng, kết hợp giữa giảm gánh nặng tài chính và cải cách phương thức quản trị thuế. Bài viết phân tích 7 nhóm giải pháp chủ yếu, đánh giá tác động tổng hợp và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi, theo hướng thuế không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là công cụ phát triển và chính thức hóa khu vực kinh tế tư nhân.
Xem thêm
podcast tinh gon 3 600 dau moi va dau an quan tri so o bo tai chinh

PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa 12, Bộ Tài chính đã thực hiện một cuộc "đại phẫu" toàn diện từ cấu trúc tổ chức đến tư duy nhân sự, trở thành điểm sáng lớn trong công tác cải cách hành chính quốc gia.
podcast luat quan ly thue 2025 hoan thien khung phap ly de trien khai thong nhat

PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất

Luật Quản lý thuế năm 2025 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, cùng với hệ thống nghị định và thông tư hướng dẫn được Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho công tác quản lý thuế trong giai đoạn mới. Các văn bản không chỉ quy định chi tiết việc thi hành luật mà còn hướng dẫn cụ thể về hóa đơn điện tử, quản lý hộ kinh doanh và các thủ tục quản lý thuế.
infographic binh quan 6 thang dau nam 2026 chi so gia tieu dung tang 4 38 so voi cung ky nam truoc

INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,12%.
video quy dinh moi ve quan ly thue xuat nhap khau khong phai nop lai chung tu da co tren cac cong thong tin so

VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 86 năm 2026 quy định về quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và chính thức có hiệu lực thi hành. Đây là văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa Luật Quản lý thuế năm 2025, hướng tới mục tiêu hoàn thiện cơ sở pháp lý, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực hải quan để tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu.
video siet chat nhap khau o to bieu tang kiem soat ho so ngay tu dau thay vi giam sat sau thong quan

VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan

Việc nhập khẩu xe ô tô theo diện quà biếu, quà tặng hay tài sản di chuyển là nhu cầu có thật trong đời sống. Tuy nhiên, để ngăn chặn triệt để tình trạng trục lợi, đưa xe vào thị trường nội địa để kinh doanh thương mại trá hình, dự thảo quy định mới đang được hoàn thiện theo hướng siết chặt kiểm soát ngay từ khâu nhập khẩu.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội

Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội

Ngày 15/7, Đảng ủy Chính phủ tổ chức Hội nghị giao ban công tác 6 tháng đầu năm 2026 với các đảng ủy trực thuộc.
Đề xuất luật hóa tập đoàn xuất bản - truyền thông, xuất bản trên không gian mạng

Đề xuất luật hóa tập đoàn xuất bản - truyền thông, xuất bản trên không gian mạng

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản đề xuất nhiều chính sách mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số.
Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất định hướng xây dựng kế hoạch giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2021-2026.
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa

Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng được Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng ngày 14/7.
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể

Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể

Sau khi xác lập quyết tâm tăng trưởng 2 con số, Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa mục tiêu bằng 2 nghị quyết quan trọng để lượng hóa trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương.
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Ngày 13/7, Hội nghị tham vấn, lấy ý kiến đối với dự án Luật Phát triển đô thị được tổ chức dưới sự đồng chủ trì của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm.
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều nhiệm vụ lập pháp quan trọng trong lĩnh vực tài chính, ngân sách, thuế, đầu tư và doanh nghiệp.
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Đây là một trong những nội dung được Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, Trưởng ban Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương nhấn mạnh tại Hội nghị tổng kết Tổng điều tra chiều ngày 13/7.
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững

Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững

Cục Kế hoạch - Tài chính đã chủ động tham mưu, điều hành hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, hoàn thiện cơ chế chính sách, thúc đẩy giải ngân đầu tư công.
Chỉ số BCI quý 2 tiệm cận mức đỉnh,  niềm tin vào môi trường kinh doanh đầu tư Việt Nam vượt kỳ vọng

Chỉ số BCI quý 2 tiệm cận mức đỉnh, niềm tin vào môi trường kinh doanh đầu tư Việt Nam vượt kỳ vọng

Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) quý II/2026 đã tăng mạnh lên 79,7 điểm trong bối cảnh biến động của thương mại toàn cầu.
Tăng trưởng 2 con số: Hoàn thiện thị trường vốn để nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực

Tăng trưởng 2 con số: Hoàn thiện thị trường vốn để nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực

Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong huy động và phân bổ nguồn lực cùng hệ thống ngân hàng. Hoàn thiện thể chế sẽ tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Việt Nam cần vượt qua những điểm nghẽn của mô hình phát triển cũ

Việt Nam cần vượt qua những điểm nghẽn của mô hình phát triển cũ

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 10% trong giai đoạn tới, nền kinh tế cần tạo bước đột phá về năng suất, phát triển thị trường vốn, đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ.
Đón dòng vốn xanh vào các khu công nghiệp

Đón dòng vốn xanh vào các khu công nghiệp

Sự dịch chuyển dòng vốn chất lượng cao cùng yêu cầu khắt khe về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số đang tạo động lực để thị trường khu công nghiệp vào giai đoạn phát triển mới.
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số

Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số

Thời gian qua, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính chủ yếu tập trung vào cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục. Tuy nhiên, yêu cầu cải cách hiện nay là tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số.
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân

Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân

Chỉ khi đánh giá đúng "sức khỏe" của khu vực kinh tế tư nhân mới có thể thiết kế những chính sách trúng, đúng và đủ mạnh để khơi thông động lực tăng trưởng, hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long

Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang chuyển trọng tâm sản xuất nông sản từ tăng sản lượng sang gia tăng giá trị, lấy thị trường, người nông dân làm động lực phát triển.
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng

Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng

Các doanh nghiệp là lực lượng quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó, cần các giải pháp cải thiện năng lực của doanh nghiệp để có thể kích hoạt tốt hơn các động lực tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số

Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số

Mục tiêu tăng trưởng cao phải dựa trên 2 động lực căn bản là nâng cao năng suất lao động và nâng cao năng lực của doanh nghiệp. Muốn vậy, bên cạnh việc tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô, những cải cách vi mô có tính đột phá là hết sức cần thiết.