Đa dạng hóa nguồn lực tài chính để mở rộng quy mô các dự án carbon rừng
Tín chỉ carbon rừng - kênh tài chính xanh đầy tiềm năng
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, thị trường carbon rừng chính là công cụ hữu hiệu để cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn thiên nhiên. Hội nghị COP30 diễn ra cuối năm 2025 đã thông qua các thỏa thuận toàn cầu, đặc biệt là những quy định liên quan đến Điều 6 của Thỏa thuận Paris đang mở ra một giai đoạn mới cho thị trường carbon.
Việc vận hành Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris kết hợp với sự ra đời của Quỹ Rừng Nhiệt đới Vĩnh viễn (TFF) đang tạo ra một "cú hích" lớn cho thị trường tín chỉ carbon toàn cầu. Điều 6.4 đưa ra các tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo các dự án lâm nghiệp (giảm mất rừng, trồng rừng) tạo ra tín chỉ carbon thực chất, đáng tin cậy.
Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc vận hành chính thức Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris và sự ra đời của Quỹ Rừng Nhiệt đới Vĩnh viễn, thế giới đang chuyển từ tư duy “bù đắp” phát thải sang “đóng góp thực chất” cho quá trình giảm phát thải toàn cầu. Điều này đặt ra tiêu chuẩn mới đối với thị trường carbon, trong đó các tín chỉ carbon, nhất là tín chỉ rừng, phải bảo đảm tính toàn vẹn môi trường, tính bền vững và sự minh bạch.
Theo đó, thị trường tín chỉ carbon, nhất là tín chỉ carbon rừng, đang trở thành một kênh tài chính xanh đầy tiềm năng. Không chỉ đóng góp cho mục tiêu giảm phát thải, đầu tư vào rừng còn mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo các nghiên cứu quốc tế, hệ sinh thái rừng có khả năng hấp thụ khoảng 7,6 tỷ tấn CO2 mỗi năm, tương đương khoảng 20% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Trong khi đó, mỗi 1 USD đầu tư vào phục hồi rừng có thể tạo ra tới 30 USD giá trị kinh tế, thông qua các dịch vụ hệ sinh thái như điều tiết nước, bảo vệ đất, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Tại Việt Nam, với tỷ lệ che phủ rừng hơn 42% và diện tích rừng tự nhiên lớn, việc tham gia sâu hơn vào thị trường carbon rừng không chỉ giúp huy động nguồn lực cho bảo vệ rừng mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế xanh. Theo các chuyên gia, lĩnh vực lâm nghiệp có lợi thế lớn trong việc tham gia thị trường này thông qua các dự án hấp thụ và lưu trữ carbon.
Năm 2023, Việt Nam và Ngân hàng Thế giới đã ký thỏa thuận chuyển nhượng kết quả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ. Theo đó, Việt Nam đã chuyển nhượng khoảng 10,3 triệu tấn CO2 giảm phát thải từ rừng tại 06 tỉnh Bắc Trung Bộ, với tổng giá trị khoảng 51,5 triệu USD. Đây được xem là giao dịch tín chỉ carbon rừng quy mô lớn đầu tiên của Việt Nam trên thị trường quốc tế, mở ra hướng đi mới cho việc khai thác giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng.
Những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã và đang tiếp tục hoàn thiện khung chính sách, sẵn sàng tham gia trao đổi, vận hành thị trường carbon trong nước.
Luật Bảo vệ Môi trường 2020 lần đầu tiên quy định về tổ chức và phát triển thị trường các-bon; Nghị định số 06/2022/NĐ-CP Ngày 7/01/2022 về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 9/6/2025 đều xác lập lộ trình phát triển thị trường các-bon đến năm 2028 và vận hành chính thức từ 2029.
Mới đây, ngày 19/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước, góp phần tạo khung pháp lý đầy đủ cho việc tổ chức, vận hành thị trường carbon tại Việt Nam... Đây là một công cụ quan trọng để thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Mặt khác, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp tục cụ thể hóa các quy định trên vào dự thảo Nghị định về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải và tín chỉ các-bon; dự thảo Nghị định về hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; dự thảo Nghị định về vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước; hoàn thiện Chương trình Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ...
Đa dạng hóa nguồn lực tài chính để mở rộng quy mô các dự án carbon rừng
Tín chỉ carbon rừng không chỉ là câu chuyện môi trường mà đang trở thành một dòng tài sản mới có giá trị kinh tế to lớn. Tuy nhiên, để đáp ứng mục tiêu bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng trên toàn cầu, mức đầu tư hằng năm cần đạt khoảng 300 tỷ USD vào năm 2030 và gần 500 tỷ USD vào năm 2050.
Tại Việt Nam, dù tiềm năng lớn, việc phát triển các dự án carbon rừng tại Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Để khắc phục những khó khăn, góp phần thúc đẩy thị trường carbon rừng phát triển bền vững, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện khung thể chế và các quy định pháp lý liên quan, bao gồm việc làm rõ cơ chế sở hữu, đăng ký, xác nhận và giao dịch tín chỉ carbon, đồng thời xây dựng hệ thống quản lý, giám sát và minh bạch hóa dữ liệu phát thải. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và đơn giản hóa quy trình, thủ tục cũng đóng vai trò quan trọng...
Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa nguồn lực tài chính để mở rộng quy mô các dự án carbon rừng. Song song với nguồn ngân sách nhà nước, cần đẩy mạnh huy động vốn từ khu vực tư nhân, các quỹ khí hậu và các tổ chức tài chính quốc tế thông qua các công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh và cơ chế tài chính carbon. Trong đó, mô hình tài chính kết hợp giữa vốn công và vốn tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc giảm rủi ro ban đầu cho các dự án và thu hút thêm dòng vốn đầu tư.
Ngoài ra, cần tăng cường vai trò của các tổ chức tài chính trong hệ sinh thái thị trường carbon. Các ngân hàng, quỹ đầu tư và tổ chức bảo hiểm không chỉ cung cấp nguồn vốn mà còn có thể tham gia thiết kế các sản phẩm tài chính xanh, tư vấn thị trường và hỗ trợ quản lý rủi ro cho các dự án carbon rừng.
Sự tham gia sâu hơn của các định chế tài chính sẽ giúp thị trường carbon từng bước vận hành theo cơ chế thị trường và mở rộng quy mô giao dịch. Đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp cận nguồn vốn khí hậu, công nghệ giám sát carbon và các tiêu chuẩn đo đếm, thẩm định phát thải tiên tiến. Thông qua các chương trình hợp tác và dự án quốc tế, Việt Nam không chỉ có thêm nguồn lực tài chính mà còn nâng cao chất lượng tín chỉ carbon, qua đó tăng khả năng tham gia và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Việc cải thiện môi trường đầu tư và đơn giản hóa quy trình, thủ tục cũng đóng vai trò quan trọng.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp cận nguồn vốn khí hậu, công nghệ giám sát carbon và các tiêu chuẩn đo đếm, thẩm định phát thải tiên tiến. Thông qua các chương trình hợp tác và dự án quốc tế, Việt Nam không chỉ có thêm nguồn lực tài chính mà còn nâng cao chất lượng tín chỉ carbon, qua đó tăng khả năng tham gia và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Mới đây, Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) vừa chính thức phê duyệt khoản tài trợ cho Việt Nam gần 72 triệu USD (khoảng 1.900 tỷ đồng) nhằm thúc đẩy quản lý rừng bền vững tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc. Đây là minh chứng cho kết quả của sự hợp tác chặt chẽ và bền bỉ giữa Chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).
Tin tức khác
Ban hành quy định mới về tổ chức, hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Điều tra IO 2026: Chuẩn hóa nghiệp vụ để nâng cao chất lượng thống kê kinh tế vĩ mô
Ứng dụng AI để nâng cao chất lượng tham mưu, dự báo và ra quyết định
Kiểm soát lạm phát: Không nên đồng thời nới lỏng mạnh cả tài khóa và tiền tệ
Ngưỡng doanh thu miễn thuế 1 tỷ đồng: Bước điều chỉnh phù hợp để hỗ trợ hộ kinh doanh
Dữ liệu thống kê chất lượng mở đường cho hoạch định chính sách phát triển
Cam kết hơn 20 tỷ USD cần được chuyển hóa thành dòng vốn thực
PODCAST: Tinh gọn 3.600 đầu mối và dấu ấn quản trị số ở Bộ Tài chính
PODCAST: Luật Quản lý thuế 2025: Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai thống nhất
INFOGRAPHIC: Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
Quốc hội sẽ tập trung giám sát việc chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, bổ sung quy định về tài sản mã hóa
Bài 2: Toàn hệ thống chính trị vào cuộc: Biến quyết tâm thành chỉ tiêu cụ thể
Mở rộng không gian phát triển cho đô thị và khu kinh tế đặc biệt
Bộ Tài chính được giao chủ trì nhiều dự án luật trọng điểm trong Kế hoạch lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Tiếp tục hoàn thiện kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính nội ngành, tạo nền tảng phát triển bền vững
Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển đất nước
Bài 1: Chính phủ hành động: Mở đường cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Việt Nam cần vượt qua những điểm nghẽn của mô hình phát triển cũ
Đón dòng vốn xanh vào các khu công nghiệp
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Tái cấu trúc quy trình quản lý trên nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số
Thể chế kiến tạo sẽ củng cố nội lực cho khu vực kinh tế tư nhân
Khẳng định thương hiệu cho nông sản Vĩnh Long
Nâng cao năng lực doanh nghiệp để kích hoạt động lực tăng trưởng
Cải cách vi mô đột phá để kích hoạt tăng trưởng 2 con số
Đi tìm lời giải cho bài toán xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD








