aa

Chính sách phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam: Nâng cao năng lực tự chủ và giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị toàn cầu

15:07 | 11/09/2026
Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện đổi mới mô hình phát triển, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mở rộng quy mô sản xuất và gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mà quan trọng hơn là chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao giá trị gia tăng nội địa. Trong quá trình này, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò động lực quan trọng của tăng trưởng và xuất khẩu. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành vẫn bộc lộ những hạn chế. Trên cơ sở phân tích thực trạng và các điểm nghẽn cấu trúc của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong chuỗi giá trị toàn cầu, bài viết cho rằng trọng tâm của giai đoạn phát triển tiếp theo cần chuyển từ mở rộng quy mô sản xuất và thu hút vốn sang nâng cao giá trị gia tăng nội địa, tăng cường năng lực hấp thụ và đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI, đồng thời dịch chuyển lên các công đoạn có giá trị cao. Bài viết cũng đề xuất đổi mới chính sách kinh tế - tài chính, trong đó chính sách tài khóa cần được sử dụng như một công cụ định hướng và phân bổ nguồn lực cho năng lực tăng trưởng dài hạn. Qua đó, chính sách tài khóa tạo nền tảng để nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới mô hình phát triển Việt Nam giai đoạn 2026-2030.

TS. Nguyễn Quốc Việt

Nhóm Nghiên cứu Chính sách Kinh tế Vĩ mô VEPR, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội.

ThS. Nguyễn Thị Thoan

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

MỞ ĐẦU

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra yêu cầu chuyển đổi căn bản phương thức tạo động lực tăng trưởng, từ mô hình dựa nhiều vào vốn, lao động chi phí thấp, tài nguyên và gia công sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong định hướng đó, nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực, tăng cường năng lực tự chủ chiến lược và nâng cao giá trị gia tăng nội địa trở thành những yêu cầu có tính nền tảng đối với mô hình phát triển mới.

Công nghiệp chế biến, chế tạo có vị trí đặc biệt trong quá trình chuyển đổi này khi vừa là động lực quan trọng của tăng trưởng, xuất khẩu và việc làm, vừa là khu vực có khả năng tạo ra hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, năng suất và liên kết doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh của kim ngạch xuất khẩu công nghiệp chế biến, chế tạo chưa đồng nghĩa với sự gia tăng tương ứng của năng lực tạo lập và giữ lại giá trị trong nước. Khu vực FDI hiện chi phối phần lớn hoạt động xuất khẩu, trong khi tỷ lệ giá trị gia tăng nước ngoài trong xuất khẩu của Việt Nam còn cao và mức độ liên kết của doanh nghiệp trong nước với chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là tiếp tục mở rộng quy mô công nghiệp chế biến, chế tạo hay thu hút thêm vốn đầu tư, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực tự chủ nội sinh, tăng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa và dịch chuyển doanh nghiệp Việt Nam lên các công đoạn có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng chính là một biểu hiện cụ thể của yêu cầu đổi mới mô hình phát triển được đặt ra trong Nghị quyết 19-NQ/TW. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung nhận diện những điểm nghẽn cấu trúc của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và đề xuất các định hướng chính sách, trong đó chính sách tài khóa cần được nhìn nhận không chỉ với chức năng hỗ trợ tổng cầu mà còn như một công cụ định hướng và phân bổ nguồn lực cho năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, liên kết nội địa và gia tăng giá trị nội sinh.

THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO VÀ SỰ CHI PHỐI CỦA KHU VỰC FDI

Vai trò hạt nhân của công nghiệp chế biến, chế tạo trong động lực tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn hậu COVID-19

Nhìn lại hành trình gần 2 thập kỷ kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, Việt Nam đã xác lập vị thế của một nền kinh tế có độ mở thương mại thuộc nhóm cao nhất thế giới, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thường xuyên duy trì ở mức 166% đến 170% GDP. Giai đoạn 2019-2025 chứng kiến khả năng chống chịu và phục hồi ấn tượng của nền kinh tế qua các cú sốc địa chính trị và chu kỳ suy thoái toàn cầu.

Năm 2019, GDP đạt mức tăng trưởng 7,36%, trong đó giá trị tăng thêm (VA) ngành chế biến, chế tạo đạt tốc độ bứt phá 11,29%, đóng góp 2,33 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước. Dù bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 và sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu trong giai đoạn 2020-2021, ngành chế biến, chế tạo vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng dương (đạt 5,82% năm 2020 và 6,37% năm 2021), đóng vai trò bộ giảm xóc chiến lược giữ vững sự ổn định vĩ mô. Đà phục hồi diễn ra mạnh mẽ vào năm 2022 với giá trị gia tăng của ngành chế biến, chế tạo tăng tới 8,10% (đóng góp 2,09 điểm phần trăm vào GDP). Mặc dù đợt suy giảm cầu thế giới năm 2023 khiến tốc độ tăng trưởng của ngành hạ nhiệt xuống 3,62%, công nghiệp chế biến, chế tạo đã tăng tốc trở lại vào năm 2024 (tăng 9,83%, đóng góp 2,49 điểm phần trăm) và đạt mức đỉnh 9,97% vào năm 2025.

Trong năm 2025, ngành chế biến, chế tạo đóng góp tới 31,49% vào tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, đưa tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 8,02%. Bước sang nửa đầu năm 2026, đà tăng trưởng tiếp tục được củng cố khi GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18% so với cùng kỳ (Quý I tăng 7,94%; Quý II tăng 8,39%). Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành 6 tháng đầu năm 2026 tăng 10,8%, trong đó riêng ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4%, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực dẫn dắt chính của toàn bộ nền kinh tế.

Diễn biến thực chứng này nhất quán với các đánh giá của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), khẳng định công nghiệp chế tạo có hệ số lan tỏa việc làm lớn (mỗi việc làm trực tiếp tạo thêm hơn hai việc làm ở các ngành phụ trợ), nắm giữ hơn 60% số bằng sáng chế xanh và xuất hiện trong 64% các chu kỳ tăng trưởng bền vững toàn cầu.

SO SÁNH CHỈ TIÊU VĨ MÔ VÀ VAI TRÒ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO GIAI ĐOẠN 2019-2026
Nguồn: Chỉ số tổng hợp từ các Báo cáo hàng năm và quý của Cục thống kê. Tốc độ 11,40% năm 2026 là IIP ngành chế biến chế tạo 6T/2026; Đóng góp năm 2025 tính theo tỷ lệ % vào tổng VA tăng thêm.
Nguồn: Chỉ số tổng hợp từ các Báo cáo cáo hàng năm và quý của Cục thống kê
Nguồn: Chỉ số tổng hợp từ các Báo cáo cáo hàng năm và quý của Cục thống kê
Nguồn: Tổng hợp từ UNCTAD World Investment Report 2025/2026 và ASEAN Investment Report 2025 (Đơn vị: Tỷ USD).
Nguồn: Tổng hợp từ UNCTAD World Investment Report 2025/2026 và ASEAN Investment Report 2025 (Đơn vị: Tỷ USD).

Mức độ chi phối xuất khẩu và năng lực thương mại của khu vực FDI

Bất chấp vị thế trụ cột của công nghiệp chế biến, chế tạo, phân tích sâu về cấu trúc sở hữu bộc lộ tính chất “hai tầng” (Dual Economy) gay gắt của nền kinh tế. Động lực xuất khẩu công nghiệp của Việt Nam chủ yếu được vận hành bởi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI luôn duy trì ở mức chi phối tuyệt đối và tăng cao qua các năm, 70,1% năm 2019; 74,4% năm 2022 và đạt mức kỷ lục 77,3% vào năm 2025 (tương đương 367,09 tỷ USD trên tổng số 475,04 tỷ USD xuất khẩu toàn quốc). Nửa đầu năm 2026, khối FDI tiếp tục nắm giữ trên 73,2% kim ngạch xuất khẩu.

Nghịch lý cấu trúc nằm ở mối tương quan lệch pha giữa quy mô vốn đầu tư xã hội và năng lực xuất khẩu. Mặc dù chi phối gần 4/5 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, vốn FDI thực hiện chỉ chiếm từ 15,8% đến 23,0% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 2024, FDI thực hiện đạt 25,35 tỷ USD (chiếm 16,5% tổng đầu tư xã hội); năm 2025 đạt mức kỷ lục 27,62 tỷ USD (chiếm 16,4%) và 6 tháng đầu năm 2026 đạt 13,03 tỷ USD (tăng 11,2% so với cùng kỳ). Dòng vốn FDI giải ngân tập trung ngày càng cao vào ngành chế biến, chế tạo, chiếm tới 82,8% tổng vốn FDI thực hiện năm 2025 (tương đương 22,88 tỷ USD) và 82,6% trong 6 tháng đầu năm 2026 (đạt 10,76 tỷ USD).

Sự lệch pha giữa tỷ trọng đầu tư xã hội tương đối nhỏ (~16-23%) và tỷ trọng chi phối xuất khẩu (>70- 77%) một mặt phản ánh hiệu suất sản xuất và định hướng hướng ngoại cao của khu vực FDI, nhưng mặt khác bộc lộ rủi ro phụ thuộc trầm trọng: nền kinh tế đang vận hành năng lực thương mại dựa trên một khu vực ngoại sinh có độ nhạy cảm cao với các biến động địa chính trị và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu.

Đánh giá vị thế thu hút dòng vốn FDI của Việt Nam trong so sánh khu vực ASEAN (2019-2025)

Trong tương quan so sánh vĩ mô khu vực ASEAN, Việt Nam đã duy trì vị thế thu hút dòng vốn FDI ổn định và phục hồi nhanh sau đại dịch COVID-19. Theo dữ liệu chuẩn hóa từ Báo cáo Đầu tư Thế giới (WIR) của UNCTAD và Báo cáo Đầu tư ASEAN, dòng vốn FDI chảy vào (FDI inflows) Việt Nam duy trì quy mô từ 15 đến 20 tỷ USD/năm, ổn định ở vị trí thứ ba trong khối ASEAN, sau Singapore và Indonesia.

Nguồn: Tổng hợp từ OECD TiVA Database, World Bank, ADB, UNCTAD và Báo cáo VEPR.
Nguồn: Tổng hợp từ OECD TiVA Database, World Bank, ADB, UNCTAD và Báo cáo VEPR.

Sự gia tăng quy mô dòng vốn FDI khẳng định Việt Nam là địa điểm hấp dẫn trong chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng “China + 1”. Tuy nhiên, việc duy trì thứ hạng thu hút vốn cao chưa đi đôi với sự bứt phá tương ứng về trình độ công nghệ. Chỉ số phức tạp của nền kinh tế (ECI) và xếp hạng đổi mới sáng tạo cho thấy trình độ công nghệ của Việt Nam đứng ở vị trí thứ 90/100, công nghệ nền tảng đứng thứ 92/100, khả năng chuyển giao công nghệ từ FDI xếp thứ 73/100, trong khi đầu tư cho R&D chỉ chiếm 0,2% - 0,4% GDP (xếp hạng 84/100) (Báo cáo VEPR 2023).

Nhận diện các “điểm nghẽn”

Phân tích giá trị gia tăng theo lăng kính TiVA, chỉ số VAX và Sơ đồ Nụ cười (Smile Curve)

Nhìn nhận vị thế công nghiệp của Việt Nam qua phương pháp Thương mại theo Giá trị Gia tăng (TiVA) do OECD và WTO phát triển bóc tách sự khác biệt bản chất so với số liệu thống kê thương mại gộp truyền thống. Đánh giá quy mô nền kinh tế thuần túy qua kim ngạch xuất khẩu gộp dễ tạo ra hiện tượng “ảo ảnh thống kê” (statistical illusion), phóng đại mức độ hội nhập và năng lực thực tế của quốc gia.

Trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC), cấu trúc phân bổ giá trị gia tăng tuân theo “Sơ đồ Nụ cười” (Smile Curve). Các công đoạn thượng nguồn tạo giá trị gia tăng cao nhất gồm nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế sản phẩm, sở hữu trí tuệ (IP) và chế tạo linh kiện cốt lõi; các khâu hạ nguồn tạo giá trị cao bao gồm quản trị thương hiệu, kênh phân phối, marketing và dịch vụ hậu mãi.

Sơ đồ nụ cười nêu trên phản ánh rằng Việt Nam hiện vẫn bị nén chặt ở phần đáy hạ nguồn của sơ đồ nơi tập trung các hoạt động gia công, lắp ráp thâm dụng lao động với tỷ suất lợi nhuận cận biên rất thấp. Mặc dù tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng lên 88,7% tổng xuất khẩu năm 2025, bản chất của chuỗi sản xuất vẫn là nhập khẩu linh kiện cao cấp, thiết bị, phần mềm và tài sản trí tuệ từ bên ngoài để thực hiện công đoạn chế xuất cuối cùng.

Xu hướng suy giảm giá trị gia tăng nội địa, sự thâm nhập của giá trị gia tăng nước ngoài và cường độ nhập khẩu đầu vào

Dữ liệu cập nhật từ bộ cơ sở dữ liệu OECD_TiVA ghi nhận sự gia tăng của thành tố Giá trị Gia tăng Nước ngoài (Foreign Value Added - FVA) trong hàng hóa xuất khẩu gộp của Việt Nam. Tỷ lệ FVA trong tổng xuất khẩu tăng từ 36% năm 2005 lên 48% năm 2020, tương ứng với tỷ lệ Giá trị Gia tăng Nội địa (Domestic Value Added - DVA) sụt giảm từ 64% xuống 52%.

Thực trạng này thể hiện rõ ở các ngành công nghiệp chế biến chế tạo chủ lực. Cường độ nhập khẩu đầu vào trung gian phục vụ xuất khẩu (import intensity of exports) của Việt Nam năm 2020 đạt mức 60,8% (so với 52,4% năm 2008). Trong ngành điện tử và máy tính, tỷ lệ đầu vào nhập khẩu trung gian dùng cho xuất khẩu lên tới 84,3%; ngành dệt may đạt 90,7%; ngành máy móc thiết bị có tỷ lệ FVA chiếm 70,4% và thiết bị điện chiếm 60,7%.

So sánh quốc tế làm nổi bật sự chênh lệch cấu trúc. Trong khi Trung Quốc giảm thành công tỷ lệ FVA trong xuất khẩu từ đỉnh 24% năm 2004 xuống còn 16% vào năm 2020 nhờ phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp hỗ trợ và thay thế đầu vào nhập khẩu, Việt Nam lại có xu hướng gia tăng FVA khi quy mô xuất khẩu mở rộng. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP của Việt Nam chỉ tăng nhẹ từ 23,95% năm 2020 lên 24,53% năm 2025 (chỉ tăng 0,58 điểm phần trăm sau 5 năm), khẳng định quy mô xuất khẩu gộp tăng nhanh hơn nhiều so với khả năng nâng tỷ trọng giá trị gia tăng giữ lại trong GDP.

Một phát hiện mang tính cảnh báo cấu trúc theo World Bank (2025, 2026) là tỷ lệ các doanh nghiệp Việt Nam có kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp với chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) đã suy giảm nghiêm trọng từ mức 35% năm 2009 xuống chỉ còn 18% vào năm 2023. Điều này khiến khối doanh nghiệp FDI vận hành theo mô hình “ốc đảo kinh tế” khép kín, có xu hướng nhập khẩu đầu vào từ hệ thống nhà cung cấp vệ tinh cùng quốc tịch đi theo tập đoàn mẹ (vendors Tier 1, Tier 2) thay vì kết nối với các doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Nguồn: Gia tăng “Đầu vào số” (Digital Inputs) và “Dịch vụ hóa” công nghiệp (Servitization) - Động cơ gia tăng giá trị của Việt Nam
Nguồn: Gia tăng “Đầu vào số” (Digital Inputs) và “Dịch vụ hóa” công nghiệp (Servitization) - Động cơ gia tăng giá trị của Việt Nam

ĐỀ XUẤT KHUNG TĂNG TRƯỞNG MỚI GẮN GIÁ TRỊ THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2026-2030

Hàm tăng trưởng vĩ mô mở rộng gắn giá trị toàn cầu

Để hiện thực hóa mục tiêu bứt phá hai con số theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV một cách bền vững trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần tái lập hàm tăng trưởng vĩ mô mở rộng dựa trên năng suất, thể chế kiến tạo và đổi mới sáng tạo:

Growth = Capital × Human Capital × Technology × Institutions × GVC Position

Trong hàm số này, thể chế (Institutions) đóng vai trò là hệ số khuếch đại hoặc triệt tiêu hiệu quả của các nguồn lực đầu vào. Vị thế chuỗi giá trị (GVC Position) quyết định tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế. Mô hình mới đòi hỏi dịch chuyển toàn diện Vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu cụ thể như trong bảng dưới đây:

Trong mô hình GVC thế hệ mới, yếu tố đầu vào sản xuất không còn giới hạn ở nguyên vật liệu vật lý truyền thống. Đầu vào số trở thành hạ tầng bắt buộc để nền kinh tế tham gia vào chuỗi cụ thể trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Năng lực số cho phép doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam thực hiện chiến lược bứt phá mà không nhất thiết phải trải qua tuần tự các công đoạn công nghiệp hóa vật lý truyền thống, mà có thể tiến thẳng vào các khâu giá trị cao như thiết kế số, kỹ thuật phần mềm nhúng, kiểm thử bán dẫn, dịch vụ dữ liệu và quản trị chuỗi cung ứng thông minh.

Bên cạnh đầu vào số, hàm lượng giá trị gia tăng của dịch vụ trong tổng xuất khẩu của Việt Nam hiện mới đạt khoảng 12%, và trong xuất khẩu công nghiệp chế tạo chỉ đạt khoảng 7% - thấp hơn nhiều so với các quốc gia công nghiệp tiên tiến. Thực tế này phản ánh việc Việt Nam đang xuất khẩu khối lượng lớn sản phẩm vật chất nhưng chưa xuất khẩu đủ “dịch vụ nằm bên trong hàng hóa”.

Công nghiệp hóa giai đoạn 2026-2030 phải là “công nghiệp hóa được dịch vụ hóa”. Việc nhúng các dịch vụ giá trị cao bao gồm R&D, thiết kế, công nghệ thông tin, bảo hộ IP, logistics thông minh, tài chính thương mại và dịch vụ hậu mãi vào sản phẩm chế tạo chính là phương thức tối ưu để tăng DVA mà không cần gia tăng tương ứng khối lượng nguyên vật liệu tiêu tốn.

Lao động sáng tạo và sự chuyển đổi vai trò của 4 nhóm chủ thể kinh tế

Mô hình tăng trưởng mới đòi hỏi chuyển dịch vai trò của 4 nhóm chủ thể chính trong nền kinh tế bao gồm: Người công nhân: Dịch chuyển từ thao tác cơ học, lắp ráp linh kiện đơn thuần sang làm chủ thiết bị tự động hóa, vận hành robot và kiểm thử công nghệ cao. Người nông dân: Dịch chuyển từ canh tác thâm dụng sức người/hóa chất sang làm chủ công nghệ sinh học, nông nghiệp số và tối đa hóa giá trị trên mỗi đơn vị diện tích đất. Đội ngũ doanh nhân: Dịch chuyển từ thương mại ngắn hạn, tích lũy đất đai và gia công giá rẻ sang tiên phong đổi mới sáng tạo, đầu tư R&D và chủ động giải các bài toán công nghệ chiến lược. Đội ngũ cán bộ, công chức: Dịch chuyển từ tư duy “quản lý tiền kiểm”, sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm sang tư duy “kiến tạo phát triển”, quản trị theo kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro chính sách qua cơ chế Sandbox.

Cải cách thể chế thực chất, thể chế hóa cơ chế Sandbox và khoán chi R&D theo kết quả

Cải cách thể chế đóng vai trò giải quyết các “điểm nghẽn”: (a) Chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm hành chính sang quản trị rủi ro hậu kiểm dựa trên dữ liệu minh bạch. Tiếp tục cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính (sau khi đã cắt giảm hơn 4.300 quy định và thủ tục), nhằm giảm 50% thời gian tuân thủ và chi phí giao dịch cho doanh nghiệp; (b) Thể chế hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cho các công nghệ và mô hình kinh doanh mới (AI, Fintech, tài sản số, xe tự lái, năng lượng tái tạo). Cam kết đưa ra phản hồi chính sách trong vòng 6 tháng; (c) Thực hiện cơ chế khoán chi theo kết quả đầu ra trong nghiên cứu khoa học; thừa nhận quyền sở hữu trí tuệ và giải pháp công nghệ là tài sản hợp pháp dùng để góp vốn đầu tư.

Phát triển thị trường vốn đa tầng, tài chính xanh và khơi thông nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong dân

Để giải phóng nền kinh tế khỏi sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng thương mại (đã vượt ngưỡng 140-146% GDP), cần phát triển đồng bộ thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch, các quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) và quỹ đầu tư tư nhân (Private Equity). Theo đó, cần ban hành Danh mục phân loại xanh (Green Taxonomy) chuẩn mực để thu hút nguồn vốn trái phiếu xanh, tín dụng xanh quốc tế. Khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi: Ước tính từ các chuyên gia ghi nhận còn khoảng 60 tỷ USD tiền nhàn rỗi trong dân, 400 - 500 tấn vàng (tương đương 35-40 tỷ USD, khoảng 8% GDP) và hơn 1,7 triệu tỷ đồng nằm trong các quỹ tài chính công. Việc hoàn thiện môi trường thể chế an toàn, minh bạch và phát triển các công cụ đầu tư đa dạng là giải pháp then chốt để chuyển hóa các nguồn lực tài chính này thành vốn đầu tư sản xuất kinh doanh.

Như vậy, để đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới và đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số một cách bền vững trong giai đoạn 2026-2030, nền kinh tế bắt buộc phải chuyển đổi căn bản mô hình phát triển. Bài toán chiến lược không nằm ở việc nới rộng các động lực thâm dụng vốn, tài nguyên và gia công lắp ráp thô, mà nằm ở năng lực tạo ra và giữ lại giá trị gia tăng nội địa trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Bằng việc kiên định thực hiện cải cách thể chế thực chất, biến khu vực FDI từ những “ốc đảo” thành môi trường lan tỏa công nghệ, coi dữ liệu và hạ tầng số là yếu tố sản xuất mới, thúc đẩy dịch vụ hóa công nghiệp và phát triển lực lượng doanh nghiệp tư nhân nội địa, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở thực chứng để giải phóng dư địa năng suất. Đó chính là con đường duy nhất để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, kiến tạo vị thế mới trong phân công lao động quốc tế và phát triển cao, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Đổi mới chính sách tài khóa theo hướng thúc đẩy năng lực sản xuất và giá trị gia tăng nội địa

Trong mô hình phát triển mới, chính sách tài khóa cần được chuyển từ tư duy hỗ trợ tăng trưởng theo chiều rộng sang vai trò kiến tạo năng lực tăng trưởng dài hạn. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nơi hiệu quả của chính sách không nên chỉ được đánh giá qua quy mô vốn đầu tư, sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu, mà cần được đo lường bằng khả năng tạo ra và giữ lại giá trị gia tăng trong nước, mức độ chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp nội địa và đóng góp vào nâng cao năng suất.

Thứ nhất, cần đổi mới phương thức thiết kế ưu đãi thuế và hỗ trợ tài khóa đối với đầu tư công nghiệp theo

hướng có điều kiện và gắn với kết quả đầu ra. Thay vì ưu đãi dàn trải dựa chủ yếu trên quy mô vốn đầu tư hoặc địa bàn, cần từng bước chuyển sang cơ chế ưu đãi dựa trên các tiêu chí như tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa, mức độ sử dụng nhà cung cấp trong nước, chi tiêu cho R&D, đào tạo nhân lực kỹ thuật cao, chuyển giao công nghệ và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu chuyển từ mô hình thu hút FDI theo quy mô sang mô hình thu hút và sử dụng FDI nhằm nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Thứ hai, tăng cường chi ngân sách nhà nước có tính chất đầu tư cho năng lực sản xuất tương lai, tập trung vào những lĩnh vực tạo ngoại ứng lớn nhưng khu vực tư nhân khó tự đầu tư đầy đủ như hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm dùng chung, hạ tầng dữ liệu, tiêu chuẩn - kiểm định, đào tạo nhân lực công nghệ cao và các chương trình nghiên cứu ứng dụng. Đặc biệt, cơ chế tài trợ R&D cần chuyển mạnh từ cấp phát theo đầu vào sang tài trợ theo kết quả, gắn nguồn lực ngân sách với sản phẩm công nghệ, bằng sáng chế, khả năng thương mại hóa và mức độ ứng dụng trong sản xuất.

Thứ ba, cần sử dụng chính sách tài khóa để thúc đẩy hình thành hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và liên kết doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI. Nhà nước có thể thiết kế các chương trình đồng tài trợ, hỗ trợ khấu trừ hoặc tín dụng thuế cho hoạt động nâng cấp công nghệ, chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế, đào tạo kỹ thuật và phát triển nhà cung cấp trong nước. Mục tiêu không phải thay thế thị trường mà tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam vượt qua chi phí gia nhập chuỗi cung ứng, từ đó chuyển từ vị trí cung ứng đầu vào đơn giản sang các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

Thứ tư, phối hợp chính sách thuế với mục tiêu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số của ngành chế biến, chế tạo. Các ưu đãi tài khóa cần ưu tiên đầu tư tạo ra năng suất dài hạn như tự động hóa, robot, phần mềm công nghiệp, dữ liệu, công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ phát thải thấp và các giải pháp kinh tế tuần hoàn. Theo đó, chính sách tài khóa không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư ban đầu mà còn tạo tín hiệu thị trường thúc đẩy quá trình dịch chuyển công nghệ.

Thứ năm, cần thiết lập cơ chế đánh giá hiệu quả chi phí - lợi ích của các ưu đãi tài khóa theo kết quả phát triển, thay vì chỉ đánh giá số lượng dự án hoặc tổng vốn đầu tư được thu hút. Các chỉ tiêu như DVA, năng suất lao động, tỷ lệ nội địa hóa, mức chi R&D, số lượng doanh nghiệp nội địa trở thành nhà cung cấp cho doanh nghiệp FDI và mức độ chuyển giao công nghệ cần được đưa vào hệ thống theo dõi và đánh giá chính sách. Đây là cách để chính sách tài khóa thực sự trở thành một công cụ của đổi mới mô hình phát triển, thay vì chỉ là công cụ hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn.

KẾT LUẬN

Trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển theo định hướng của Nghị quyết số 19-NQ/TW, yêu cầu đối với Việt Nam không còn đơn thuần là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mở rộng quy mô sản xuất và gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mà phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Trong quá trình đó, công nghiệp chế biến, chế tạo có vị trí đặc biệt quan trọng khi vừa là động lực trực tiếp của tăng trưởng, vừa là khu vực có khả năng tạo ra tác động lan tỏa về công nghệ, việc làm, năng suất và liên kết doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, mặc dù công nghiệp chế biến, chế tạo đã trở thành trụ cột của xuất khẩu và tăng trưởng, năng lực tạo lập và giữ lại giá trị gia tăng trong nước vẫn còn hạn chế. Sự chi phối ngày càng lớn của khu vực FDI trong xuất khẩu, tỷ lệ giá trị gia tăng nước ngoài cao, cường độ nhập khẩu đầu vào lớn và mức độ kết nối hạn chế của doanh nghiệp trong nước với chuỗi giá trị toàn cầu cho thấy Việt Nam vẫn đang đứng ở vị trí tương đối thấp trong chuỗi giá trị. Vì vậy, thách thức của giai đoạn tới không phải là mở rộng công nghiệp theo chiều rộng, mà là nâng cao chất lượng tham gia chuỗi giá trị, gia tăng giá trị gia tăng nội địa (DVA) và từng bước chuyển doanh nghiệp Việt Nam từ các công đoạn gia công, lắp ráp sang thiết kế, kỹ thuật, R&D, dịch vụ công nghiệp và các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.

Để thực hiện chuyển dịch này, cần một hệ thống chính sách đồng bộ nhằm tạo dựng năng lực nội sinh cho nền kinh tế. Trong đó, chính sách thu hút FDI cần chuyển từ ưu tiên quy mô vốn sang chất lượng đầu tư, khả năng chuyển giao công nghệ và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước; chính sách khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo cần tập trung

vào R&D, thương mại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào mạng lưới cung ứng của các tập đoàn toàn cầu; đồng thời, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và dịch vụ hóa công nghiệp cần được xem là những động lực mới để nâng cao giá trị gia tăng.

Trong tổng thể đó, chính sách tài khóa cần được đổi mới từ công cụ hỗ trợ tăng trưởng ngắn hạn thành công cụ định hướng và phân bổ nguồn lực cho năng lực tăng trưởng dài hạn. Thay vì các hình thức ưu đãi dàn trải, nguồn lực tài khóa cần được gắn nhiều hơn với kết quả về giá trị gia tăng nội địa, năng suất, R&D, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển nhà cung cấp trong nước và chuyển đổi xanh, chuyển đổi số. Cùng với đó, chi ngân sách cần ưu tiên đầu tư cho những loại hạ tầng và năng lực có tính chất nền tảng mà khu vực tư nhân khó tự đầu tư đầy đủ, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa và thúc đẩy khu vực tư nhân trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng.

Như vậy, nâng cao năng lực tự chủ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo không đồng nghĩa với thu hẹp hội nhập hay giảm vai trò của FDI, mà là chuyển từ hội nhập dựa chủ yếu vào gia công và mở rộng xuất khẩu sang hội nhập dựa trên năng lực tạo lập và giữ lại giá trị trong nước. Khi các nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực và thể chế được phân bổ hiệu quả hơn cho những hoạt động tạo năng suất và giá trị gia tăng cao, công nghiệp chế biến, chế tạo có thể trở thành một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng lực tự chủ và tiến tới một mô hình tăng trưởng nhanh, bền vững và có chất lượng cao trong giai đoạn 2026-2030.n

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Hà Nội.

2. Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, Hà Nội.

3. Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội.

4. ASEAN Secretariat & UNCTAD (2024), ASEAN Investment Report 2024: ASEAN Economic Community 2025 and Foreign Direct Investment, Jakarta/Geneva.

5. ASEAN Secretariat & UNCTAD (2025), ASEAN Investment Report 2025: Foreign Direct Investment and Supply Chain Development, Jakarta/Geneva.

6. OECD (2023), Trade in Value Added (TiVA) Database, 2023 edition, OECD, Paris.

7. UNCTAD (2025), World Investment Report 2025: International Investment in the Digital Economy, United Nations, Geneva.

8. UNCTAD (2026), World Investment Report 2026: International Investment in a Turbulent Era, United Nations, Geneva.

9. UNIDO (2024), Industrial Development Report 2024: Turning Challenges into Sustainable Solutions - The New Era of Industrial Policy, United Nations Industrial Development Organization, Vienna.

10. World Bank (2024), Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World - Pathways to a High-Income Future, World Bank, Washington, DC.

11. World Bank (2023), Enterprise Surveys: Viet Nam 2023 - Country Profile, World Bank, Washington, DC.

Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 9/2026

Tin tức khác

Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị

Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị

Theo Chủ tịch HĐQT Tập đoàn CNCTech Nguyễn Văn Hùng, thước đo thành công của KCN còn nằm ở giá trị gia tăng, năng suất, sức cạnh tranh tạo ra cho nền kinh tế.
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững

Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững

Nền kinh tế toàn cầu trải qua nhiều biến động phức tạp, việc tìm kiếm các kênh huy động vốn hiệu quả và bền vững trở thành một thách thức lớn đối với nhiều DN.
Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị

Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị

Nhận diện điểm nghẽn và động lực tăng trưởng đối với phát triển kinh tế cấp xã trên cơ sở khảo sát ý kiến cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã trên phạm vi cả nước.
VinaCapital: Đảng Dân chủ thắng lớn là chất xúc tác cho VN-Index

VinaCapital: Đảng Dân chủ thắng lớn là chất xúc tác cho VN-Index

GDP tăng 9%, lợi nhuận doanh nghiệp dự báo tăng 25% nhưng VN-Index gần như đứng yên từ đầu năm. Kết quả bầu cử Mỹ có thể giúp gỡ nút thắt này.
Vốn đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp của TP. Hồ Chí Minh vượt 150% kế hoạch

Vốn đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp của TP. Hồ Chí Minh vượt 150% kế hoạch

Sau 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thu hút tại các khu chế xuất, khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh đạt khoảng 6,39 tỷ USD, vượt hơn 150% kế hoạch năm.
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Thảo luận về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ chính sách ưu đãi đầu tư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư; tránh hỗ trợ trùng lặp.
Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ

Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ

Theo PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, tăng trưởng 2 con số không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống, mà cần chủ động ứng phó với những biến động bên ngoài.
Đề xuất hơn 162.000 tỷ đồng đầu tư 3 dự án cao tốc kết nối vùng miền núi, Tây Nguyên

Đề xuất hơn 162.000 tỷ đồng đầu tư 3 dự án cao tốc kết nối vùng miền núi, Tây Nguyên

Chính phủ đề xuất đầu tư công 3 dự án cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, Bảo Hà - Lai Châu và Quảng Ngãi - Kon Tum, với tổng chiều dài 430,5 km, sơ bộ tổng mức đầu tư 162.393 tỷ đồng.
Xem thêm
video bo tai chinh but pha cai cach hanh chinh mo duong cho kinh te so

VIDEO: Bộ Tài chính bứt phá cải cách hành chính mở đường cho kinh tế số

Xác định cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số là đột phá chiến lược trong lộ trình kiến tạo nền kinh tế số và Chính phủ số, Bộ Tài chính đã triển khai chiến dịch rà soát quy mô lớn chưa từng có, cắt giảm và đơn giản hóa tới 797 trên tổng số 962 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý, đạt tỷ lệ ấn tượng 82,84%. ----------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast hoan thien the che tai chinh khoi thong nguon luc tao dong luc cho muc tieu tang truong 2 con so

PODCAST: Hoàn thiện thể chế tài chính - Khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Đối với các lĩnh vực kinh tế, tài chính, việc rà soát, xử lý những bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật không chỉ nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật, mà còn có ý nghĩa trực tiếp đối với việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tạo dư địa cho đổi mới mô hình phát triển đất nước và thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. -------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast tu nam 2027 luong huu tro cap bao hiem xa hoi se duoc chi tra the nao

PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?

Từ năm 2027, phương thức chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ có thêm bước chuyển quan trọng khi Tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng VNeID được đưa vào sử dụng theo lộ trình. Đây là nội dung đáng chú ý trong Kế hoạch của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, về triển khai sử dụng Tài khoản hưởng an sinh xã hội trong chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. ------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
pocast dong tien chung khoan dang tim den nhung nhom nganh nao

POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?

Sau 4 tuần giảm liên tiếp, VN-Index vừa có tuần tăng 4%, đóng cửa phiên ngày 23/10 ở 1.774 điểm. Thị trường chứng khoán đã hồi phục, nhưng câu hỏi nhiều nhà đầu tư vẫn đặt ra là: tiền đang chảy vào đâu? Câu trả lời không nằm hết ở chỉ số chung. Phía sau mỗi nhịp tăng, giảm là lựa chọn của dòng vốn, dựa trên lợi nhuận và câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp. --------------------------------- Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast tai khoa nam 2027 truoc yeu cau tang truong cao va bao dam an ninh tai chinh quoc gia

PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia

Bộ Tài chính vừa công khai Báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm 2027 Chính phủ trình Quốc hội. Trong đó, định hướng điều hành tài chính - ngân sách tiếp tục tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực, tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
Đầu tư 3 tuyến cao tốc miền núi: Tính đủ hiệu quả, chi phí và nguồn lực khai thác

Đầu tư 3 tuyến cao tốc miền núi: Tính đủ hiệu quả, chi phí và nguồn lực khai thác

Ba dự án cao tốc Bảo Hà - Lai Châu, Quảng Ngãi - Kon Tum và Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên được kỳ vọng tạo động lực kết nối vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Thảo luận về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ chính sách ưu đãi đầu tư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư; tránh hỗ trợ trùng lặp.
Trình Quốc hội 7 nhóm chính sách đặc thù tạo đột phá phát triển du lịch

Trình Quốc hội 7 nhóm chính sách đặc thù tạo đột phá phát triển du lịch

Chính phủ đề xuất 7 nhóm chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, thu hút đầu tư và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực

Hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực

Trong tuần từ ngày 1 - 7/11/2026, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành liên quan đến lĩnh vực tài chính, nổi bật là tăng cường quản lý, hạch toán tài sản công; hoàn thiện cơ chế tài chính, huy động nguồn lực đầu tư.
Quốc hội quyết nghị năm 2027 tăng trưởng từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%

Quốc hội quyết nghị năm 2027 tăng trưởng từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%

Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%.
Đấu giá quyền sử dụng khu vực biển: Công khai, cạnh tranh thực chất, rõ nghĩa vụ tài chính

Đấu giá quyền sử dụng khu vực biển: Công khai, cạnh tranh thực chất, rõ nghĩa vụ tài chính

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng cho biết, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được thiết kế theo hướng bảo đảm đấu giá quyền sử dụng khu vực biển công khai, cạnh tranh thực chất, lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm,
Việt Nam - Nhật Bản: Củng cố tin cậy, làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện

Việt Nam - Nhật Bản: Củng cố tin cậy, làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện

Trên nền tảng tin cậy chính trị và hợp tác sâu rộng, Việt Nam và Nhật Bản đang đứng trước nhiều cơ hội tăng cường liên kết kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
MICA-2026: Khẳng định vai trò của chuyển đổi số và hành vi tiêu dùng xanh

MICA-2026: Khẳng định vai trò của chuyển đổi số và hành vi tiêu dùng xanh

Sáng 6/11, Trường Đại học Tài chính - Marketing tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Marketing in the Connected Age” lần thứ 5 (MICA-2026).
Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh

Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh

Theo định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia, đến năm 2030, 100% thành phố tổ chức xây dựng, thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh.
Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị

Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị

Theo Chủ tịch HĐQT Tập đoàn CNCTech Nguyễn Văn Hùng, thước đo thành công của KCN còn nằm ở giá trị gia tăng, năng suất, sức cạnh tranh tạo ra cho nền kinh tế.
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững

Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững

Nền kinh tế toàn cầu trải qua nhiều biến động phức tạp, việc tìm kiếm các kênh huy động vốn hiệu quả và bền vững trở thành một thách thức lớn đối với nhiều DN.
Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị

Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị

Nhận diện điểm nghẽn và động lực tăng trưởng đối với phát triển kinh tế cấp xã trên cơ sở khảo sát ý kiến cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã trên phạm vi cả nước.
VinaCapital: Đảng Dân chủ thắng lớn là chất xúc tác cho VN-Index

VinaCapital: Đảng Dân chủ thắng lớn là chất xúc tác cho VN-Index

GDP tăng 9%, lợi nhuận doanh nghiệp dự báo tăng 25% nhưng VN-Index gần như đứng yên từ đầu năm. Kết quả bầu cử Mỹ có thể giúp gỡ nút thắt này.
Vốn đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp của TP. Hồ Chí Minh vượt 150% kế hoạch

Vốn đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp của TP. Hồ Chí Minh vượt 150% kế hoạch

Sau 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thu hút tại các khu chế xuất, khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh đạt khoảng 6,39 tỷ USD, vượt hơn 150% kế hoạch năm.
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Thảo luận về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ chính sách ưu đãi đầu tư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư; tránh hỗ trợ trùng lặp.
Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ

Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ

Theo PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, tăng trưởng 2 con số không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống, mà cần chủ động ứng phó với những biến động bên ngoài.
Đề xuất hơn 162.000 tỷ đồng đầu tư 3 dự án cao tốc kết nối vùng miền núi, Tây Nguyên

Đề xuất hơn 162.000 tỷ đồng đầu tư 3 dự án cao tốc kết nối vùng miền núi, Tây Nguyên

Chính phủ đề xuất đầu tư công 3 dự án cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, Bảo Hà - Lai Châu và Quảng Ngãi - Kon Tum, với tổng chiều dài 430,5 km, sơ bộ tổng mức đầu tư 162.393 tỷ đồng.
Đầu tư công và liên kết vùng tạo động lực tăng trưởng cho ba địa phương Đồng bằng sông Cửu Long

Đầu tư công và liên kết vùng tạo động lực tăng trưởng cho ba địa phương Đồng bằng sông Cửu Long

Cần Thơ, Vĩnh Long và Đồng Tháp cần phát huy tiềm năng, lợi thế từng địa phương và tăng cường liên kết vùng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.