Kinh tế không gian tầm thấp trong mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam: Cơ chế tác động và hàm ý chính sách
TS. Dìu Đức Hà
Khoa Kinh tế, Học viện Hành chính và Quản trị công; Email: [email protected]
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên cơ sở Nghị quyết số 19-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 217/ NQ-CP cụ thể hóa các nhiệm vụ và giải pháp nhằm đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao (Ban Chấp hành Trung ương, 2026; Chính phủ, 2026).
Trong bối cảnh đó, kinh tế không gian tầm thấp (KTKGTT; Low-Altitude Economy - LAE) có thể được xem xét như một không gian hoạt động kinh tế hình thành trên cơ sở kết hợp giữa không gian gần mặt đất với thiết bị bay không người lái (UAV), trí tuệ nhân tạo (AI), cảm biến, dữ liệu, công nghệ định vị, viễn thông và các nền tảng điều hành thông minh. Khả năng ứng dụng trải rộng từ nông nghiệp, logistics, quan trắc và kiểm tra hạ tầng đến quản lý đô thị, cứu hộ và các dịch vụ dựa trên dữ liệu (Nguyễn Văn Trúc, 2026; Nguyễn Thị Hải Hà, 2026).
Không gian tầm thấp có thể được xem là một không gian kinh tế có khả năng khai thác, nhưng chỉ trở thành nguồn lực phát triển có ý nghĩa khi công nghệ, hạ tầng và thể chế làm cho việc tiếp cận, tổ chức và khai thác trở nên khả thi với chi phí phù hợp. Khi đó, những hoạt động trước đây khó thực hiện hoặc có chi phí cao có thể được tổ chức lại, đồng thời xuất hiện các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.
Câu hỏi cốt lõi là việc khai thác không gian này có thể góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, và trong những điều kiện phù hợp, hỗ trợ tăng sản lượng tiềm năng thông qua những cơ chế nào. Trên cơ sở tổng hợp lý thuyết tăng trưởng, các nghiên cứu về KTKGTT và hệ thống chính sách hiện hành của Việt Nam, khung phân tích được xây dựng nhằm nhận diện các kênh tác động, điều kiện chuyển hóa và chính sách có thể nâng cao khả năng đóng góp của KTKGTT đối với mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam.
CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ KHÔNG GIAN TẦM THẤP ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
Mở rộng cơ hội kinh tế và phạm vi thị trường
Tăng trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn, lao động và các nguồn lực hiện có mà còn phụ thuộc vào khả năng đưa các nguồn lực và không gian kinh tế vào sử dụng với chi phí phù hợp. Theo cách tiếp cận tăng trưởng hiện đại, tiến bộ công nghệ và tích lũy tri thức có thể làm thay đổi hiệu quả kết hợp các yếu tố đầu vào và triển vọng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế (Solow, 1956; Romer, 1986).
Sự kết hợp giữa UAV, cảm biến, công nghệ định vị, AI, dữ liệu và viễn thông có khả năng làm giảm chi phí khai thác không gian gần mặt đất. Nhờ đó, một số hoạt động trước đây khó triển khai hoặc có chi phí cao có thể trở nên khả thi về mặt kinh tế. Các hoạt động hiện hữu như vận chuyển, khảo sát, quan trắc và kiểm tra tài sản có thể được tổ chức theo phương thức mới; đồng thời có thể mở rộng phạm vi thị trường hoặc hình thành các dịch vụ mới về dữ liệu không gian, nền tảng quản lý UAV, bản đồ 3D, bảo trì, bảo hiểm và các dịch vụ số liên quan (Liu, 2025).
Kênh tác động thứ nhất này nằm ở sự mở rộng tập hợp các cơ hội kinh tế: công nghệ và thể chế làm giảm chi phí tiếp cận không gian, qua đó mở rộng phạm vi các hoạt động có khả năng thương mại hóa và tạo giá trị. Kênh này phản ánh sự xuất hiện của cơ hội sản xuất và thị trường, chưa đồng nhất với quá trình hình thành vốn hay năng lực sản xuất thực tế. Kết quả trực tiếp là mở rộng tập hợp các cơ hội kinh tế có khả năng thương mại hóa.
Thúc đẩy đầu tư và tích lũy năng lực sản xuất
Khi các cơ hội kinh tế mới xuất hiện, nhu cầu đầu tư có thể gia tăng đối với phương tiện bay, linh kiện, cảm biến, pin, viễn thông, phần mềm, dữ liệu, hạ tầng cất - hạ cánh, năng lượng, hệ thống điều hành và các dịch vụ kỹ thuật. Khác với kênh thứ nhất, kênh đầu tư phản ánh quá trình chuyển các cơ hội thị trường thành vốn vật chất, hạ tầng, năng lực công nghệ và năng lực tổ chức phục vụ sản xuất.
Tác động dài hạn phụ thuộc đáng kể vào cấu trúc đầu tư. Nếu vốn chủ yếu dành cho nhập khẩu thiết bị hoàn chỉnh và cung cấp các dịch vụ có hàm lượng giá trị gia tăng thấp, thị trường vẫn có thể mở rộng nhưng năng lực sản xuất và công nghệ tích lũy trong nền kinh tế sẽ hạn chế hơn. Ngược lại, khi đầu tư đồng thời tạo ra năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế, phần mềm, dữ liệu, tích hợp hệ thống, sản xuất một số cấu phần, bảo trì và dịch vụ kỹ thuật, khả năng tích lũy năng lực sản xuất dài hạn có thể lớn hơn.
Ý nghĩa của kênh đầu tư đối với tăng trưởng không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn được huy động mà còn vào cấu trúc đầu tư và loại năng lực được hình thành. KTKGTT có thể góp phần vào tích lũy vốn và năng lực sản xuất khi đầu tư mới được chuyển hóa thành tài sản, hạ tầng, năng lực công nghệ và năng lực tổ chức có khả năng hỗ trợ sản xuất trong dài hạn.
Nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn, tài sản
Một phần đáng kể giá trị kinh tế của KTKGTT có thể được tạo ra thông qua việc thay đổi phương thức thực hiện các hoạt động đã tồn tại. UAV và các công nghệ liên quan có thể hỗ trợ phun, bón, quan trắc trong nông nghiệp; kiểm tra tài sản và phát hiện bất thường trong điện lực, xây dựng và hạ tầng; vận chuyển và tiếp cận những khu vực có điều kiện địa lý khó khăn.
Tác động này cần được phân biệt trên 2 phương diện. Thứ nhất, năng suất lao động có thể tăng khi một lao động thực hiện hoặc giám sát khối lượng công việc lớn hơn nhờ tự động hóa và hỗ trợ công nghệ. Thứ hai, hiệu quả sử dụng vốn và tài sản có thể được cải thiện khi công nghệ giúp tăng mức độ sử dụng hữu ích của tài sản hiện có, giảm thời gian ngừng hoạt động, hỗ trợ bảo trì dự báo hoặc giảm chi phí vận hành. Ở đây, hiệu quả sử dụng vốn và tài sản được hiểu theo nghĩa nâng hiệu quả khai thác nguồn lực hiện hữu, không phải một chỉ tiêu định lượng cụ thể về năng suất vốn.
Một phần lợi ích kinh tế của KTKGTT có thể xuất hiện dưới dạng năng suất tăng thêm tại các ngành ứng dụng, thay vì chỉ được phản ánh trong giá trị gia tăng trực tiếp của doanh nghiệp cung cấp thiết bị hoặc dịch vụ KTKGTT. Vì vậy, đánh giá đóng góp kinh tế chỉ dựa trên doanh thu thị trường có thể bỏ sót các hiệu ứng năng suất quan trọng.
Kênh thứ ba này có thể được nhận diện thông qua các thay đổi về thời gian lao động, mức sử dụng đầu vào, chi phí vận hành và hiệu quả sử dụng tài sản. Nếu những cải thiện này được duy trì ở quy mô đủ lớn, chúng có thể góp phần nâng năng suất và năng lực sản xuất của các ngành ứng dụng.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khả năng cải thiện TFP
Trong hạch toán tăng trưởng, tăng trưởng TFP thường được xác định như phần tăng trưởng sản lượng không được giải thích bởi tăng trưởng các yếu tố đầu vào được đo lường, chủ yếu là vốn và lao động. Trong mô hình tăng trưởng Solow, tiến bộ công nghệ giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng dài hạn ngoài sự gia tăng của vốn và lao động (Solow, 1956). Các lý thuyết tăng trưởng nội sinh tiếp tục nhấn mạnh vai trò của tích lũy tri thức, học hỏi và các ngoại ứng liên quan đối với tăng trưởng dài hạn (Romer, 1986).
Về mặt lý thuyết, KTKGTT có thể tác động tới năng suất các nhân tổ tổng hợp (TFP) vì đây là lĩnh vực tích hợp nhiều công nghệ như UAV, AI, dữ liệu, cảm biến, định vị, viễn thông, tự động hóa và các nền tảng điều hành. Sự kết hợp này có thể làm giảm chi phí thông tin và giao dịch, cải thiện phối hợp các yếu tố sản xuất, nâng chất lượng quyết định dựa trên dữ liệu và tạo điều kiện cho học hỏi, lan tỏa công nghệ. Các nghiên cứu gần đây cũng tiếp cận KTKGTT như một hệ sinh thái tích hợp công nghệ - kinh tế - thể chế thay vì chỉ là ứng dụng UAV đơn lẻ (Liu, 2025). Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng của phát triển và nâng cao năng suất (Bộ Chính trị, 2024).
![]() |
| Nguồn: Tác giả đề xuất |
Hình thể hiện 4 kênh tác động kinh tế vận hành song song và có thể tương tác lẫn nhau. Mức độ chuyển hóa các tác động này thành giá trị kinh tế phụ thuộc vào thể chế, hạ tầng, năng lực hấp thụ công nghệ, năng lực doanh nghiệp và vị trí trong chuỗi giá trị. Bốn nhóm chính sách chuyển hóa - thể chế kiến tạo thị trường, hạ tầng nền tảng, năng lực doanh nghiệp và công nghệ, đo lường và đánh giá kết quả - tác động vào các điều kiện này nhằm nâng khả năng chuyển hóa tiềm năng thành kết quả kinh tế. Giá trị kinh tế được xem xét trên 3 phương diện bổ sung cho nhau: giá trị gia tăng nội địa, hiệu ứng năng suất tại các ngành ứng dụng và lan tỏa công nghệ gắn với phát triển năng lực. Sự tích lũy các kết quả này tạo cơ sở để KTKGTT có thể góp phần nâng sản lượng tiềm năng và chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.
QUY MÔ THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ TRỊ GIA TĂNG NỘI ĐỊA: ĐIỀU KIỆN CHUYỂN HÓA KINH TẾ KHÔNG GIAN TẦM THẤP THÀNH TĂNG TRƯỞNG
Quy mô thị trường là một chỉ báo quan trọng về tốc độ phát triển của KTKGTT nhưng không phản ánh đầy đủ đóng góp của lĩnh vực này đối với tăng trưởng. Một thị trường có thể mở rộng nhanh về số phương tiện, số chuyến bay, doanh thu hoặc tổng mức đầu tư trong khi phần giá trị được tạo ra trong nền kinh tế trong nước còn hạn chế nếu thiết bị, linh kiện, phần mềm và các dịch vụ công nghệ có giá trị cao chủ yếu được cung cấp từ bên ngoài.
Quy mô thị trường KTKGTT không đồng nhất với giá trị gia tăng nội địa; đồng thời, giá trị kinh tế được tạo ra trong nền kinh tế Việt Nam cũng không nên đánh giá chỉ bằng tỷ lệ nội địa hóa. Giá trị gia tăng nội địa ở đây được hiểu là phần giá trị mới được tạo ra trong nền kinh tế Việt Nam sau khi loại trừ giá trị đầu vào trung gian có nguồn gốc từ bên ngoài. Bên cạnh giá trị trực tiếp này, cần xem xét hiệu ứng năng suất tại các ngành ứng dụng và hiệu ứng học hỏi, lan tỏa công nghệ gắn với phát triển năng lực. Như vậy, giá trị gia tăng nội địa phản ánh giá trị trực tiếp được tạo ra trong nền kinh tế, còn hiệu ứng năng suất và lan tỏa công nghệ phản ánh những tác động rộng hơn đối với năng lực sản xuất. Cách tiếp cận chuỗi giá trị giúp phân tích vị trí và quan hệ giữa các chủ thể trong mạng lưới sản xuất (Gereffi và cộng sự, 2005), trong khi cách tiếp cận giá trị gia tăng cho phép phân biệt phần giá trị được tạo ra trong nước với giá trị đầu vào có nguồn gốc bên ngoài (Koopman và cộng sự, 2014).
Đối với lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, nhập khẩu thiết bị, phần mềm và công nghệ tiên tiến có thể giúp rút ngắn thời gian tiếp cận công nghệ và đưa nhanh các ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất.
FDI cũng có thể bổ sung vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và kết nối chuỗi giá trị quốc tế. Tuy nhiên, các hiệu ứng lan tỏa không xuất hiện tự động, mà mức độ lan tỏa phụ thuộc vào năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước, chất lượng liên kết và khoảng cách công nghệ giữa các chủ thể (Cohen và Levinthal, 1990; Javorcik, 2004).
Năng lực hấp thụ công nghệ phản ánh khả năng nhận diện giá trị của tri thức bên ngoài, tiếp nhận, đồng hóa và khai thác tri thức đó cho mục tiêu đổi mới và sản xuất (Cohen và Levinthal, 1990). Trong KTKGTT, quá trình này có thể diễn ra từ tiếp nhận công nghệ, hấp thụ và thích nghi đến cải tiến và từng bước tham gia các khâu có giá trị cao hơn.
Do đó, mục tiêu phù hợp không phải là nội địa hóa bằng mọi giá hay tự sản xuất toàn bộ chuỗi giá trị, mà là nâng dần phần giá trị được tạo ra trong nước tại những khâu Việt Nam có khả năng từng bước xây dựng năng lực cạnh tranh, đồng thời tận dụng công nghệ và đầu tư quốc tế. Đóng góp kinh tế của KTKGTT vì vậy cần được xem xét trên 3 phương diện bổ sung cho nhau - giá trị gia tăng nội địa, hiệu ứng năng suất tại các ngành ứng dụng và lan tỏa công nghệ gắn với phát triển năng lực - thay vì được hiểu như một công thức hạch toán định lượng.
HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế kiến tạo thị trường
Khung pháp lý đối với KTKGTT cần đồng thời bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, an toàn và tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế hợp pháp hình thành. Chính sách đối với KTKGTT cần hướng tới các quy tắc rõ ràng về điều kiện tiếp cận không gian, tiêu chuẩn kỹ thuật, định danh, dữ liệu, trách nhiệm pháp lý và cơ chế thử nghiệm đối với những hoạt động, công nghệ và mô hình kinh doanh mới. Trọng tâm là tạo môi trường thể chế với chi phí tuân thủ hợp lý trong khi các yêu cầu thiết yếu về an toàn, quốc phòng và an ninh vẫn được bảo đảm.
Thứ hai, phát triển hạ tầng nền tảng và các cấu phần dùng chung
KTKGTT phụ thuộc vào nhiều cấu phần hạ tầng nền tảng như quản lý hoạt động UAV, định danh, dữ liệu không gian, bản đồ số, kết nối viễn thông và các tiêu chuẩn tương tác. Các cấu phần này có tính dùng chung và giá trị sử dụng có thể tăng khi nhiều chủ thể cùng kết nối theo các tiêu chuẩn tương thích. Kinh nghiệm và khung hướng dẫn quốc tế về tích hợp drone và quản lý hoạt động hệ thống tàu bay không người lái (UAS) cũng nhấn mạnh vai trò của hạ tầng quản lý, tiêu chuẩn và khả năng phối hợp hệ thống (ICAO, 2021; OECD/ITF, 2021).
Nguồn lực công nên ưu tiên những cấu phần có tính nền tảng, tạo lợi ích dùng chung lớn hoặc khu vực tư nhân khó tự hình thành đầy đủ trong giai đoạn đầu; hạn chế đầu tư công thay thế các hoạt động thương mại mà thị trường có khả năng thực hiện. Đối với KTKGTT, ưu tiên có thể tập trung vào hạ tầng quản lý và điều phối hoạt động, dữ liệu không gian dùng chung, định danh, kết nối và các hạ tầng phục vụ thử nghiệm, qua đó giảm chi phí gia nhập thị trường và tạo nền tảng cho nhiều doanh nghiệp phát triển dịch vụ.
Thứ ba, nâng cao năng lực doanh nghiệp và công nghệ
Chính sách phát triển doanh nghiệp KTKGTT cần hướng tới nâng cao khả năng tiếp nhận, hấp thụ, thích nghi, cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ, thay vì đặt mục tiêu tự sản xuất toàn bộ chuỗi giá trị. Định hướng phát triển kinh tế tư nhân tại Nghị quyết số 68-NQ/TW tạo cơ sở chính sách cho việc khuyến khích doanh nghiệp tham gia các lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và mô hình kinh doanh mới (Bộ Chính trị, 2025). Năng lực hấp thụ của doanh nghiệp là điều kiện quan trọng để công nghệ bên ngoài được chuyển thành tri thức và năng lực sản xuất trong nước (Cohen và Levinthal, 1990).
Ở khu vực doanh nghiệp trong nước, chính sách cần ưu tiên R&D, phần mềm, dữ liệu, AI, tích hợp hệ thống, dịch vụ kỹ thuật có giá trị cao; thúc đẩy liên kết doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học và phát triển nhà cung cấp. Đối với FDI, trọng tâm là tăng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, chuyển giao tri thức, đào tạo nhân lực và tạo cơ hội tham gia chuỗi cung ứng. Nghiên cứu thực nghiệm của Javorcik (2004) cho thấy một kênh quan trọng của lan tỏa năng suất từ FDI có thể diễn ra thông qua liên kết ngược với các nhà cung cấp trong nước.
Thứ tư, xây dựng hệ thống đo lường và đánh giá kết quả
Đo lường KTKGTT cần vượt ra ngoài các chỉ tiêu phản ánh quy mô hoạt động. Nghị quyết số 217/NQCP nhấn mạnh yêu cầu xác định chỉ tiêu, trách nhiệm, nguồn lực, tiến độ và cơ chế kiểm tra, giám sát trong thực hiện đổi mới mô hình phát triển (Chính phủ, 2026). Vận dụng cách tiếp cận theo kết quả, hệ thống đo lường KTKGTT cần phản ánh cả mức độ phát triển thị trường, giá trị tạo ra trong nước, hiệu quả tại các ngành ứng dụng và năng lực công nghệ dài hạn.
Hệ thống chỉ tiêu có thể tổ chức thành 4 nhóm, trong đó mức độ ưu tiên theo dõi từng nhóm thay đổi theo giai đoạn phát triển:
Nhóm 1 - Quy mô và mức độ phát triển thị trường: số doanh nghiệp; mức đầu tư; số sản phẩm, dịch vụ; quy mô và phạm vi ứng dụng.
Nhóm 2 - Giá trị tạo ra trong nước và vị trí trong chuỗi giá trị: giá trị gia tăng nội địa; mức đầu tư cho R&D; việc làm kỹ năng cao; xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ; mức tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các khâu của chuỗi giá trị.
Nhóm 3 - Hiệu quả tại các ngành ứng dụng: mức tiết kiệm chi phí và thời gian; năng suất lao động; hiệu quả sử dụng vốn, tài sản; cải thiện chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ.
Nhóm 4 - Năng lực công nghệ và lan tỏa dài hạn: năng lực hấp thụ và cải tiến công nghệ; số lượng và mức độ ứng dụng của các giải pháp hoặc công nghệ được thương mại hóa; liên kết R&D; liên kết công nghệ giữa doanh nghiệp trong nước và FDI; mức độ phổ biến công nghệ sang các ngành, lĩnh vực khác.
Bốn nhóm chỉ tiêu cho phép phân biệt các trọng tâm theo dõi từ hình thành và thử nghiệm, mở rộng thị trường đến phát triển chiều sâu; qua đó đánh giá không chỉ quy mô hoạt động mà cả giá trị tạo ra trong nước, hiệu quả tại các ngành ứng dụng và năng lực công nghệ dài hạn.
KẾT LUẬN
Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam làm gia tăng yêu cầu tìm kiếm các nguồn nâng cao năng suất, năng lực công nghệ và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Trong khuôn khổ đó, KTKGTT có thể đóng góp thông qua 4 kênh đồng thời: mở rộng cơ hội kinh tế và phạm vi thị trường; thúc đẩy đầu tư và tích lũy năng lực sản xuất; nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn, tài sản; thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khả năng cải thiện TFP.
Mức độ chuyển hóa các kênh tác động thành kết quả kinh tế phụ thuộc vào chất lượng thể chế, hạ tầng nền tảng, năng lực hấp thụ công nghệ, năng lực doanh nghiệp và vị trí trong chuỗi giá trị. Quy mô thị trường không phải là thước đo đầy đủ về đóng góp của KTKGTT; cần xem xét đồng thời giá trị gia tăng được tạo ra trong nước, hiệu ứng năng suất tại các ngành ứng dụng và lan tỏa công nghệ gắn với phát triển năng lực. Nhập khẩu công nghệ và FDI có thể hỗ trợ quá trình này nếu được kết nối với năng lực hấp thụ và liên kết của doanh nghiệp trong nước.
Bốn nhóm chính sách chuyển hóa có quan hệ trực tiếp với quá trình này gồm: thể chế kiến tạo thị trường; hạ tầng nền tảng; năng lực doanh nghiệp và công nghệ; đo lường và đánh giá kết quả. Trọng tâm chính sách cần chuyển dần từ tạo lập điều kiện và mở rộng ứng dụng ở giai đoạn đầu sang nâng cao năng suất, giá trị tạo ra trong nước, năng lực công nghệ và lan tỏa ở các giai đoạn phát triển sâu hơn.
Tóm lại, KTKGTT có thể trở thành một cấu phần có ý nghĩa của mô hình tăng trưởng mới khi việc mở rộng không gian hoạt động kinh tế được chuyển hóa thành năng suất, năng lực công nghệ và giá trị gia tăng của nền kinh tế Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng
tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
4. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 6/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
5. Cohen, W. M., & Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation. Administrative
Science Quarterly, 35(1), 128-152. https://doi.org/10.2307/2393553.
6. Gereffi, G., Humphrey, J., & Sturgeon, T. (2005). The governance of global value chains. Review of International Political
Economy, 12(1), 78-104. https://doi.org/10.1080/09692290500049805.
7. International Civil Aviation Organization - ICAO (2021). Unmanned Aircraft System Traffic Management (UTM): A Common
Framework with Core Principles for Global Harmonization, Edition 4.
8. Javorcik, B. S. (2004). Does foreign direct investment increase the productivity of domestic firms? In search of spillovers
through backward linkages. American Economic Review, 94(3), 605-627. https://doi.org/10.1257/0002828041464605.
9. Koopman, R., Wang, Z., & Wei, S.-J. (2014). Tracing value-added and double counting in gross exports. American
Economic Review, 104(2), 459-494. https://doi.org/10.1257/aer.104.2.459.
10. Liu, X. (2025). An overview of low-altitude economy research: Evolutionary trajectory, core controversies and future
pathways. Journal of Economics and Public Finance, 11(3), 187-199. https://doi.org/10.22158/jepf.v11n3p187.
11. Nguyễn Thị Hải Hà (2026). Không gian tầm thấp: Bản chất kinh tế học và hàm ý lý thuyết. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phát
triển kinh tế không gian tầm thấp trong kỷ nguyên mới: Triển vọng, cơ hội và thách thức.
12. Nguyễn Văn Trúc (2026). Cơ sở lý luận, khung chính sách và kinh nghiệm quốc tế về kinh tế không gian tầm thấp trong
kỷ nguyên mới. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phát triển kinh tế không gian tầm thấp trong kỷ nguyên mới: Triển vọng, cơ hội
và thách thức.
13. OECD/International Transport Forum (2021). Ready for Take-off? Integrating Drones into the Transport System. OECD
Publishing.
14. Romer, P. M. (1986). Increasing Returns and Long-Run Growth. Journal of Political Economy, 94(5), 1002-1037.
15. Solow, R. M. (1956). A Contribution to the Theory of Economic Growth. The Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65-94
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 3 tháng 10/2026 |
Tin tức khác
Đưa vùng Trung du và miền núi phía Bắc trở thành cửa ngõ kết nối ASEAN với Trung Quốc
TS. Lê Duy Bình: Phản ứng chính sách thần tốc khơi thông nguồn lực tăng trưởng
Giá xăng trong nước tiếp tục giảm mạnh từ 22h ngày 3/11
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng: Khung giá phát điện sẽ do đơn vị độc lập xây dựng
Xuất nhập khẩu giữ nhịp, tạo đà tăng trưởng 2 con số năm 2026
Áp dụng tiền đặt trước 20-50%, tỷ lệ hủy kết quả đấu giá đất do bỏ cọc giảm mạnh
Tiền lương, tiền công giữ vai trò quan trọng trong cải thiện thu nhập của hộ gia đình
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Đưa vùng Trung du và miền núi phía Bắc trở thành cửa ngõ kết nối ASEAN với Trung Quốc
TS. Lê Duy Bình: Phản ứng chính sách thần tốc khơi thông nguồn lực tăng trưởng
Việt Nam định hình hệ sinh thái đầu tư chiến lược, nâng chất lượng dòng vốn FDI
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng: Khung giá phát điện sẽ do đơn vị độc lập xây dựng
Áp dụng tiền đặt trước 20-50%, tỷ lệ hủy kết quả đấu giá đất do bỏ cọc giảm mạnh
Tránh đồng nhất mọi trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá với hành vi thao túng
Bộ trưởng Bộ Tài chính chỉ đạo triển khai đồng bộ giải pháp thúc đẩy tăng trưởng 2 con số
Kiểm soát quan hệ lợi ích, ngăn thao túng, bảo vệ tài sản nhà nước trong đấu giá
Thí điểm chấm điểm cải cách thủ tục hành chính theo thời gian thực
Bài 2: Khơi dòng vốn dài hạn từ "đường dẫn" ngoài ngân hàng
Kinh tế không gian tầm thấp trong mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam: Cơ chế tác động và hàm ý chính sách
Đưa vùng Trung du và miền núi phía Bắc trở thành cửa ngõ kết nối ASEAN với Trung Quốc
TS. Lê Duy Bình: Phản ứng chính sách thần tốc khơi thông nguồn lực tăng trưởng
Giá xăng trong nước tiếp tục giảm mạnh từ 22h ngày 3/11
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng: Khung giá phát điện sẽ do đơn vị độc lập xây dựng
Xuất nhập khẩu giữ nhịp, tạo đà tăng trưởng 2 con số năm 2026
Áp dụng tiền đặt trước 20-50%, tỷ lệ hủy kết quả đấu giá đất do bỏ cọc giảm mạnh










