Định vị trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong hệ sinh thái tài chính ASEAN: Lợi thế cạnh tranh và định hướng phát triển
TS.Phạm Phương Ngọc
Khoa Kinh tế Quốc tế, Học viện Ngoại giao
Email: [email protected]
Nguyễn Thị Tươi
Khoa Kinh tế Quốc tế, Học viện Ngoại giao
Email: [email protected]
GIỚI THIỆU
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các trung tâm tài chính quốc tế (TTTCQT) ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc huy động, phân bổ và luân chuyển các nguồn lực tài chính xuyên biên giới. Tại khu vực ASEAN, các TTTCQT có vị thế và mức độ phát triển khác nhau: Singapore là trung tâm tài chính toàn cầu; Kuala Lumpur nổi bật về tài chính Hồi giáo; trong khi Bangkok và Jakarta phát huy lợi thế từ quy mô nền kinh tế và thị trường nội địa. Sự khác biệt này cho thấy, năng lực cạnh tranh của một TTTCQT không chỉ phụ thuộc vào quy mô thị trường mà còn phụ thuộc vào khả năng xây dựng vị thế tài chính riêng trong mạng lưới khu vực.
Tại Việt Nam, Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về TTTCQT tại Việt Nam và Quyết định 04/QĐ-HĐĐHTTTC ngày 22/7/2026 về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển TTTCQT tại Việt Nam đến năm 2035 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý và định hướng chiến lược cho việc xây dựng mô hình “một trung tâm, hai điểm đến” tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Tuy nhiên, so với các TTTCQT trong khu vực, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều hạn chế về độ sâu thị trường tài chính (TTTC), mức độ quốc tế hóa, chất lượng dịch vụ tài chính và khả năng thu hút các định chế tài chính (ĐCTC) toàn cầu. Do đó, vấn đề đặt ra không chỉ là xây dựng một TTTCQT, mà quan trọng hơn là xác định Việt Nam có thể dựa vào lợi thế nào để tạo lập vị thế riêng trong khu vực.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu “Định vị trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong hệ sinh thái tài chính ASEAN: Lợi thế cạnh tranh và định hướng phát triển” tập trung làm rõ 3 vấn đề: (i) vị thế và lợi thế cạnh tranh của các TTTCQT tiêu biểu trong ASEAN; (ii) vị thế và những lợi thế nền tảng của Việt Nam; và (iii) định hướng phát triển phù hợp để Việt Nam hình thành vị thế riêng và khả thi trong khu vực.
Nghiên cứu kế thừa cách tiếp cận về điều kiện hình thành và năng lực cạnh tranh của TTTCQT, đồng thời xây dựng bộ 6 nhóm tiêu chí để so sánh các TTTCQT tiêu biểu trong ASEAN. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất định vị chiến lược và các trụ cột phát triển TTTCQT Việt Nam, chuyển trọng tâm từ “xây dựng một TTTCQT” sang “định vị TTTCQT Việt Nam trong mạng lưới tài chính khu vực”, nhấn mạnh chuyên môn hóa và tính bổ trợ thay vì cạnh tranh toàn diện với các trung tâm đã có vị thế.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết về trung tâm tài chính quốc tế
Kế thừa quan điểm của Phan Hoàng Long và Phùng Tấn Hải Triều (2021), Nguyễn Ngọc Thuyên (2025), nghiên cứu xác định TTTCQT là không gian tập trung các ĐCTC, TTTC và các dịch vụ hỗ trợ liên quan, có khả năng huy động, phân bổ và luân chuyển vốn vượt phạm vi quốc gia. Điểm khác biệt cơ bản giữa TTTCQT và các TTTC trong nước nằm ở mức độ kết nối xuyên biên giới, khả năng thu hút các chủ thể tài chính quốc tế và phạm vi cung cấp dịch vụ cho khách hàng từ nhiều quốc gia.
Nghiên cứu của Thang Cong Nguyen và cộng sự (2020), Laurenceson và cộng sự (2003) đều nhấn mạnh năng lực của một TTTCQT phụ thuộc vào quy mô và mức độ hội nhập kinh tế, TTTC, mức độ mở cửa, chất lượng thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Trong đó, quy mô kinh tế tạo ra nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính; thị trường và các ĐCTC tạo điều kiện cho việc huy động, phân bổ vốn; còn chất lượng thể chế, mức độ mở cửa và khả năng kết nối quốc tế quyết định mức độ tin cậy cũng như khả năng thu hút các chủ thể tài chính trên toàn cầu. Đồng thời, hạ tầng số, nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái dịch vụ chuyên môn có vai trò nâng cao hiệu quả vận hành và khả năng đổi mới của trung tâm.
Bộ tiêu chí so sánh các trung tâm tài chính quốc tế
Kế thừa từ nghiên cứu của Laurenceson và cộng sự (2003), Thang Cong Nguyen và cộng sự (2020), nghiên cứu xây dựng bộ 6 nhóm tiêu chí nhằm đánh giá vị thế và năng lực cạnh tranh của các TTTCQT trong ASEAN (Bảng 1). Trong đó, 5 nhóm đầu đánh giá các điều kiện và năng lực phát triển hiện có, còn tiêu chí lợi thế cạnh tranh giúp nhận diện khả năng tạo lập vị thế riêng của từng trung tâm. Tiêu chí này đặc biệt quan trọng đối với các trung tâm mới nổi như Việt Nam, bởi việc phát triển có chọn lọc dựa trên lợi thế sẵn có có thể phù hợp hơn so với cạnh tranh toàn diện với các trung tâm đã phát triển.
|
BẢNG 1: BỘ TIÊU CHÍ SO SÁNH CÁC TRUNG TÂM TÀI CHÍNH QUỐC TẾ |
||
|
Nhóm tiêu chí |
Nội dung đánh giá |
Ý nghĩa đối với việc định vị TTTCQT |
|
Nền tảng kinh tế |
Quy mô nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng, mức độ hội nhập và vai trò trong thương mại khu vực |
Phản ánh quy mô nhu cầu tài chính và khả năng tạo ra dòng vốn, đầu tư và giao dịch quốc tế |
|
Độ sâu TTTC |
Quy mô hệ thống ngân hàng, thị trường vốn, mức độ đa dạng của sản phẩm và khả năng huy động, phân bổ vốn |
Phản ánh năng lực cung cấp các dịch vụ tài chính và hỗ trợ hoạt động của nền kinh tế |
|
Mức độ quốc tế hóa |
Sự hiện diện của ĐCTC nước ngoài, mức độ kết nối xuyên biên giới và khả năng thu hút vốn quốc tế |
Quyết định mức độ tin cậy và khả năng thu hút các nhà đầu tư, tổ chức tài chính quốc tế |
|
Thể chế và môi trường pháp lý |
Tính minh bạch, ổn định, khả năng dự báo, mức độ bảo vệ nhà đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp |
Quyết định mức độ tin cậy và khả năng thu hút các nhà đầu tư, tổ chức tài chính quốc tế |
|
Hạ tầng và nguồn nhân lực |
Hạ tầng số, khả năng kết nối quốc tế, chất lượng nhân lực tài chính và khả năng thu hút nhân tài |
Tạo điều kiện cho hoạt động tài chính hiện đại, đổi mới và cung cấp dịch vụ chuyên môn |
|
Lợi thế cạnh tranh |
Các lĩnh vực tài chính đã có thế mạnh hoặc có tiềm năng phát triển dựa trên đặc điểm kinh tế và vị trí của từng trung tâm |
Phản ánh khả năng tạo khác biệt và hình thành vai trò riêng trong hệ sinh thái tài chính ASEAN |
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, kết hợp tổng quan tài liệu, phân tích so sánh và dữ liệu thứ cấp từ GFCI, OECD, Securities Commission Malaysia, Bank Negara Malaysia, Bank of Thailand và các cơ quan quản lý tài chính và nguồn chính thức trong nước.
Khung phân tích của nghiên cứu được triển khai theo 3 bước (Hình). Trước hết, nghiên cứu so sánh các TTTCQT tiêu biểu trong ASEAN theo 6 nhóm tiêu chí nhằm xác định năng lực cạnh tranh, đặc điểm và vai trò riêng của từng trung tâm trong hệ sinh thái tài chính khu vực. Tiếp theo, dựa trên kết quả so sánh để xác định vị thế và những lợi thế nền tảng của Việt Nam. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xác lập định vị chiến lược và các trụ cột phát triển phù hợp cho TTTCQT Việt Nam.
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC TRUNG TÂM TÀI CHÍNH QUỐC TẾ ASEAN
Hệ sinh thái tài chính ASEAN có sự phân hóa rõ về quy mô, mức độ quốc tế hóa và chức năng. Trong đó, Singapore, Kuala Lumpur, Bangkok và Jakarta đại diện cho 4 mô hình phát triển khác nhau, phản ánh những lợi thế nền tảng cũng như năng lực cạnh tranh khác nhau. Cụ thể:
Singapore hiện giữ vị trí trung tâm tài chính hàng đầu ASEAN và thuộc nhóm các trung tâm tài chính toàn cầu. Theo Global Financial Centres Index (GFCI) 39 năm 2026, Singapore đứng thứ 4/120 trung tâm tài chính toàn cầu, sau New York, London và Hong Kong (Wardle và cộng sự, 2026). Lợi thế cạnh tranh của Singapore được xây dựng trên một hệ sinh thái tài chính quốc tế đa chức năng, kết hợp giữa thể chế ổn định, độ mở quốc tế, TTTC sâu và hệ sinh thái dịch vụ chuyên nghiệp. Nhờ đó, Singapore phát triển đồng thời ngân hàng quốc tế, ngoại hối, quản lý tài sản, thị trường vốn, bảo hiểm và FinTech, trở thành đầu mối kết nối các dòng vốn toàn cầu và quản lý tài sản khu vực.
Kuala Lumpur lựa chọn chiến lược chuyên môn hóa thông qua tài chính Hồi giáo, với việc xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh gồm ngân hàng Hồi giáo và quản lý tài sản Hồi giáo. Sự kết hợp giữa thể chế chuyên biệt, thị trường vốn phát triển và năng lực cung cấp sản phẩm tài chính Hồi giáo đã giúp Kuala Lumpur trở thành trung tâm tài chính Hồi giáo hàng đầu thế giới và tạo dựng vị thế riêng trong hệ sinh thái tài chính khu vực.
Bangkok và Jakarta phát triển nhiều hơn về quy mô nền kinh tế và nhu cầu tài chính của thị trường nội địa. Bangkok đóng vai trò trung tâm huy động và phân bổ vốn cho nền kinh tế Thái Lan, đồng thời từng bước mở rộng sang các lĩnh vực tài chính mới như tài chính xanh, thị trường carbon và tài chính số. Jakarta lại sở hữu lợi thế nổi bật về quy mô thị trường nội địa. Trên cơ sở đó, Jakarta đang từng bước mở rộng chiều sâu thị trường vốn, đa dạng hóa sản phẩm tài chính như giao dịch carbon và công cụ tài chính mới và nâng cao mức độ quốc tế hóa.
Nhìn chung, các TTTCQT trong ASEAN không cạnh tranh theo một mô hình đồng nhất. Singapore chiếm ưu thế về độ sâu, quốc tế hóa và tính đa chức năng; Kuala Lumpur tạo khác biệt thông qua chuyên môn hóa tài chính Hồi giáo; Bangkok khai thác thị trường vốn gắn với nền kinh tế; trong khi Jakarta dựa chủ yếu vào quy mô thị trường nội địa và tiềm năng mở rộng hệ sinh thái tài chính.
|
BẢNG 2: SO SÁNH CÁC TTTCQT TIÊU BIỂU TRONG ASEAN |
||||
|
Tiêu chí |
Singapore |
Kuala Lumpur |
Bangkok |
Jakarta |
|
Nền tảng kinh tế |
GDP đạt 565 tỷ USD (2025); độ mở thương mại và vai trò trung chuyển quốc tế rất lớn |
GDP đạt 471 tỷ USD (2025); nền kinh tế đa dạng, gắn với thương mại, sản xuất và dịch vụ |
GDP đạt 538 tỷ USD (2025); nền kinh tế lớn, thị trường nội địa và du lịch phát triển |
GDP đạt 1.443 tỷ USD (2025) - duy trì vị thế có thị trường nội địa lớn nhất ASEAN |
|
Độ sâu TTTC |
Rất cao; mạnh về ngân hàng quốc tế, ngoại hối, vốn, bảo hiểm, quản lý tài sản |
Khá cao; thị trường vốn phát triển, nổi bật về tài chính Hồi giáo |
Trung bình; hệ thống tài chính gắn với nhu cầu vốn của nền kinh tế nội địa |
Quy mô thị trường vốn và số nhà đầu tư nội địa lớn; 14,8 triệu tài khoản nhà đầu tư (2024) |
|
Mức độ quốc tế hóa |
Toàn cầu; chỉ số GFCI 39: 4/120 |
Quốc tế/khu vực; đặc biệt trong hệ thống tài chính Hồi giáo; chỉ số GFCI 39: 42/120 |
Chủ yếu khu vực; chỉ số GFCI 39: 100/120 |
Đang quốc tế hóa, chủ yếu dựa vào quy mô thị trường nội địa; chỉ số GFCI 39: 86/120 |
|
Thể chế & pháp lý |
Minh bạch, ổn định, khả năng dự báo và quản lý tài chính cao |
Khung thể chế tương đối hoàn thiện, hỗ trợ mạnh cho tài chính Hồi giáo |
Đang cải cách để tăng tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư quốc tế |
Đang đẩy mạnh cải cách thị trường vốn và tăng cường chính sách bảo vệ nhà đầu tư |
|
Cơ sở hạ tầng & nguồn nhân lực |
Hệ sinh thái dịch vụ tài chính quốc tế hoàn chỉnh; nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao |
Hệ sinh thái tài chính Hồi giáo và dịch vụ chuyên môn tương đối hoàn chỉnh |
Hạ tầng và nhân lực tốt ở cấp khu vực |
Đang phát triển với tốc độ nhanh; hệ sinh thái số mở rộng |
|
Lợi thế cạnh tranh |
Tính toàn cầu, quản lý tài sản, ngân hàng quốc tế, thị trường vốn, FinTech |
Tài chính Hồi giáo, sukuk |
Tài chính gắn với thị trường nội địa, doanh nghiệp và khu vực sản xuất |
Quy mô thị trường, ngân hàng, thị trường vốn và tài chính gắn với nền kinh tế nội địa |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ GFCI 39 (2026), MAS, Securities Commission Malaysia, Bank Negara Malaysia, Bank of Thailand, Thai SEC, SET và OJK.
ĐỊNH VỊ TRUNG TÂM TÀI CHÍNH QUỐC TẾ VIỆT NAM TRONG ASEAN
Vị thế và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam
So với các TTTCQT đã hình thành trong ASEAN, Việt Nam hiện đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển TTTCQT. Trên bảng xếp hạng GFCI 39, TP. Hồ Chí Minh đứng thứ 84/120 trung tâm, tăng 11 bậc so với kỳ trước; Jakarta đứng thứ 86 và Bangkok thứ 100. Điều này cho thấy, Việt Nam đã bắt đầu có sự hiện diện trong mạng lưới các TTTCQT, song thứ hạng hiện tại chủ yếu phản ánh tiềm năng và mức độ phát triển ban đầu, hơn là năng lực cạnh tranh.
Xét về lợi thế cạnh tranh, trước hết Việt Nam sở hữu quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Năm 2025, GDP Việt Nam đạt hơn 514 tỷ USD, tăng 8,02%, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt (Lại Hoa, 2026). Bên cạnh đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 vượt 930 tỷ USD và vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD (Cục Thống kê, 2026), cho thấy mức độ gắn kết sâu của Việt Nam với các dòng thương mại và đầu tư quốc tế. Lợi thế này có ý nghĩa đặc biệt bởi vì nó tạo ra nguồn cầu tài chính từ hoạt động sản xuất, thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng xuyên biên giới, thay vì chỉ dựa vào các giao dịch tài chính mang tính trung chuyển.
Bên cạnh đó, vị trí địa kinh tế giúp Việt Nam có lợi thế về khả năng kết nối mạng lưới trong khu vực. Việt Nam nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á, có đường bờ biển dài và tiếp giáp các tuyến thương mại quan trọng của châu Á - Thái Bình Dương. Sự khác biệt về múi giờ với nhiều trung tâm tài chính lớn trên thế giới tạo điều kiện thu hút dòng vốn trong thời gian nghỉ giao dịch. Đây là nền tảng thuận lợi để phát triển các dịch vụ tài chính gắn với logistics, thương mại, hạ tầng và chuỗi cung ứng.
Thêm vào đó, Việt Nam hiện tham gia vào 17 Hiệp định Thương mại tự do (FTA), bao gồm nhiều FTA thế hệ mới, giúp Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng sản xuất của khu vực. Năm 2025, khu vực FDI chiếm khoảng 77,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với 367,09 tỷ USD, tăng 26,1% so với năm 2024 (Nguyễn Thị Thanh Ngà, 2026), phản ánh mức độ liên kết lớn giữa nền kinh tế trong nước với các doanh nghiệp và dòng vốn xuyên biên giới. Điều này tạo điều kiện hình thành nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính quốc tế như tài trợ thương mại, ngoại hối, bảo hiểm và tài trợ chuỗi cung ứng.
Ngoài ra, Việt Nam đang sở hữu dư địa phát triển đáng kể về TTTC. Cụ thể, thị trường vốn tại Việt Nam tiếp tục được mở rộng, bao gồm thị trường cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh và thị trường tài sản mã hóa (thí điểm) (Chu Khánh Lân, 2026). Trong khi đó, các cơ chế đặc thù dành cho TTTCQT đang được triển khai và cải thiện, tạo điều kiện phát triển các lĩnh vực mới như fintech, tài sản số, và tài chính xanh. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 222/2025/QH15 cũng đưa ra các cơ chế ưu đãi về thuế, nhân lực, ngoại hối và cho phép ngân hàng, bảo hiểm vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) nhằm tăng khả năng thu hút các ĐCTC quốc tế. Điều này cho phép Việt Nam lựa chọn những phân khúc mới thay vì phải cạnh tranh trực tiếp với các trung tâm tài chính trong khu vực.
Cuối cùng, lợi thế về nguồn nhân lực và chi phí tương đối góp phần thu hút các hoạt động tài chính có hàm lượng công nghệ cao. Năm 2025, Việt Nam ghi nhận lực lượng lao động đạt 53,5 triệu người, tăng 589,5 nghìn người so với năm 2024; đồng thời chất lượng lao động ngày càng được cải thiện với tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 29,2% (NTV, 2026). Ngoài ra, Nghị quyết số 222/2025/QH15 quy định nhiều ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân, điều kiện lao động và thủ tục đối với chuyên gia, nhà quản lý và nhân sự chất lượng cao trong TTTCQT.

Định hướng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam
Dựa trên phân tích lợi thế cạnh tranh, TTTCQT Việt Nam nên được định hướng trở thành đầu mối kết nối dòng vốn quốc tế với các hoạt động sản xuất, thương mại, đầu tư và chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam, đồng thời từng bước mở rộng vai trò kết nối tài chính với khu vực ASEAN. Định hướng này phù hợp với Nghị quyết số 222/2025/QH15, trong đó TTTCQT được xác định là khu vực tập trung hệ sinh thái đa dạng các dịch vụ tài chính, có chức năng kết nối với TTTC quốc tế.
Với định hướng này, nghiên cứu đề xuất 4 trụ cột phát triển như sau:
Thứ nhất, xây dựng thể chế tài chính có tính cạnh tranh quốc tế. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến đầu tư xuyên biên giới, giao dịch tài chính quốc tế theo hướng minh bạch, ổn định và phù hợp với chuẩn quốc tế. Đồng thời, khung thể chế cần đủ linh hoạt để thích ứng với các mô hình tài chính mới. Cơ chế sandbox nên được sử dụng để thử nghiệm và hoàn thiện chính sách đối với các lĩnh vực mới, qua đó biến thể chế từ công cụ quản lý rủi ro thành một lợi thế cạnh tranh của TTTCQT.
Thứ hai, phát triển hệ sinh thái tài chính theo hướng chuyên môn hóa dựa trên lợi thế riêng của từng địa phương. TP. Hồ Chí Minh với vị thế là trung tâm kinh tế, tài chính và thương mại lớn nhất của Việt Nam, nên ưu tiên phát triển thị trường vốn, quản lý tài sản và quản lý quỹ, tài chính xanh, tài chính số. Trong khi đó, Đà Nẵng có lợi thế về đổi mới sáng tạo, công nghệ số, vị trí kết nối khu vực miền Trung và định hướng phát triển khu thương mại tự do, phù hợp với việc chuyên môn hóa vào FinTech, tài sản số, thanh toán số, tài chính thương mại, tài trợ chuỗi cung ứng và các mô hình tài chính mới. Cách tiếp cận này giúp TTTCQT không chỉ cung cấp dịch vụ tài chính mà còn đóng vai trò kết nối vốn, công nghệ và hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Thứ ba, hình thành năng lực cạnh tranh dựa trên tài chính xanh và tài chính số. Đây là hai lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược bởi chúng vừa đáp ứng xu hướng tái cấu trúc hệ thống tài chính toàn cầu, vừa cho phép Việt Nam đáp ứng nhu cầu vốn lớn của quá trình chuyển đổi trong nước, đồng thời tránh cạnh tranh trực tiếp với những lợi thế truyền thống đã được củng cố của các TTTCQT trong ASEAN. Tài chính xanh có thể kết nối nguồn vốn quốc tế với nhu cầu đầu tư vào năng lượng sạch, hạ tầng xanh và chuyển đổi sản xuất, trong khi đó, tài chính số và FinTech tạo dư địa để Việt Nam rút ngắn khoảng cách về công nghệ thông qua các mô hình mới như thanh toán xuyên biên giới, tài sản số và ứng dụng công nghệ trong quản trị rủi ro.
Thứ tư, xây dựng hệ sinh thái nhân lực, công nghệ và hạ tầng tài chính quốc tế. Mặc dù Việt Nam có lợi thế về quy mô lực lượng lao động, nhưng tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ vẫn còn thấp. Do đó, Việt Nam cần chuyển từ đào tạo tài chính nói chung sang hình thành nhân lực tài chính quốc tế chuyên sâu, bao gồm: tài chính xanh, quản trị rủi ro, FinTech, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), pháp luật tài chính quốc tế và các dịch vụ hỗ trợ. Đồng thời, cần tăng liên kết giữa trường đại học, tổ chức tài chính, doanh nghiệp công nghệ và cơ quan quản lý để hình thành hệ sinh thái nhân lực tại chỗ, kết hợp với cơ chế thu hút chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy, các TTTCQT ASEAN có sự phân hóa rõ về vị thế và lợi thế cạnh tranh. Việt Nam có lợi thế về quy mô kinh tế, hội nhập và vị trí địa kinh tế, nhưng còn hạn chế về độ sâu thị trường, mức độ quốc tế hóa, thể chế và nhân lực. Do đó, nghiên cứu đề xuất định vị TTTCQT Việt Nam theo hướng chuyên môn hóa, trở thành cầu nối giữa dòng vốn quốc tế với nền kinh tế trong nước và khu vực, dựa trên 4 trụ cột: thể chế, hệ sinh thái tài chính, tài chính xanh và số, nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng. Qua đó, Việt Nam có thể từng bước hình thành vị thế riêng trong mạng lưới tài chính ASEAN và hướng tới mục tiêu đến năm 2035 nằm trong nhóm 75 trung tâm tài chính hàng đầu thế giới, nhóm 25 trung tâm của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và đứng thứ ba tại ASEAN theo kế hoạch của Chính phủ.
Tài liệu tham khảo:
- Chu Khánh Lân (2026). Nâng cao chất lượng thị trường vốn Việt Nam đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững của nền kinh tế. https://vcci.com.vn/tin-tuc/nang-cao-chat-luong-thi-truong-von-viet-nam-dap-ung-yeu-cau-tang-truong-nhanh-ben-vung-cua-nen-kinh-te
- Cục Thống kê (2026). Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút mạnh mẽ nhất dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/nganh-cong-nghiep-che-bien-che-tao-thu-hut-manh-me-nhat-dong-von-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-nam-2025
- Lại Hoa (2026). Dấu ấn nổi bật của Chính phủ năm 2025. https://vov.vn/chinh-tri/dau-an-noi-bat-cua-chinh-phu-nam- 2025-post1259746.vov
- Laurenceson, J., Tang, K. K., and Wong, H. M. (2003). Shanghai as an international financial centre. School of Economics, University of Queensland. https://www.researchgate.net/publication/37616776_Shanghai_as_an_ international_financial_centre.
- Nguyễn Ngọc Thuyên (2025). Mô hình trung tâm tài chính trên thế giới và một số kinh nghiệm cho Việt Nam. Tạp chí Nghề Luật, 11, 108-114.
- Nguyễn Thị Thanh Ngà (2026). Nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/nang-cao-nang-luc-tham-gia-chuoi-gia-tri-toan-cau-cua-doanh-nghiep-viet-nam-153521.html
- Nguyen, T. C., Nguyen, N. T., and Vo, D. H. (2020). Necessary conditions for establishing an international financial center in Asia. Cogent Business & Management, 7(1), 1823597. https://doi.org/10.1080/23311975.2020.1823597.
- NTV (2026). Nhìn lại thị trường lao động, việc làm ở nước ta năm 2025 và giải pháp phát triển năm 2026. https:// nief.mof.gov.vn/kinh-te-xa-hoi/nhin-lai-thi-truong-lao-dong-viec-lam-o-nuoc-ta-nam-2025-va-giai-phap-phat-trien-nam-2026-11831.html
- Phan Hoàng Long và Phùng Tấn Hải Triều (2021). Xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế - cơ sở lý thuyết và hàm ý thực tiễn cho thành phố Đà Nẵng. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 294, 52-62.
- Wardle, M., and Mainelli, M. (2026). The Global Financial Centres Index 39. Long Finance & Financial Centre Futures.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 2 tháng 10/2026 |
Tin tức khác
Chuyển đổi số tài chính không chỉ là thêm dịch vụ mới, mà phải vận hành an toàn
INFOGRAPHIC: CPI tháng 10 tăng nhẹ, lạm phát cơ bản bình quân ở mức 4,24%
Thực trạng quản trị rủi ro doanh nghiệp tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển
Bộ trưởng Bộ Tài chính chỉ đạo triển khai đồng bộ giải pháp thúc đẩy tăng trưởng 2 con số
Đào tạo nghiệp vụ hải quan cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics
Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 10 tháng lập kỷ lục cao nhất từ năm 2009 đến nay
Tài chính doanh nghiệp 24/7: Doanh nghiệp tăng lợi nhuận, mở rộng thị trường và đầu tư nhân lực
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng: Khung giá phát điện sẽ do đơn vị độc lập xây dựng
Áp dụng tiền đặt trước 20-50%, tỷ lệ hủy kết quả đấu giá đất do bỏ cọc giảm mạnh
Tránh đồng nhất mọi trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá với hành vi thao túng
Bộ trưởng Bộ Tài chính chỉ đạo triển khai đồng bộ giải pháp thúc đẩy tăng trưởng 2 con số
Kiểm soát quan hệ lợi ích, ngăn thao túng, bảo vệ tài sản nhà nước trong đấu giá tài sản
Thí điểm chấm điểm cải cách thủ tục hành chính theo thời gian thực
Bài cuối: Kiên định mục tiêu, tạo đà, tạo thế, tạo lực để tăng tốc, bứt phá
Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 10 tháng lập kỷ lục cao nhất từ năm 2009 đến nay
Sửa Luật Sở hữu trí tuệ: Bảo đảm chất lượng giám định khi bỏ điều kiện kinh doanh
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng: Khung giá phát điện sẽ do đơn vị độc lập xây dựng
Xuất nhập khẩu giữ nhịp, tạo đà tăng trưởng 2 con số năm 2026
Áp dụng tiền đặt trước 20-50%, tỷ lệ hủy kết quả đấu giá đất do bỏ cọc giảm mạnh
Tiền lương, tiền công giữ vai trò quan trọng trong cải thiện thu nhập của hộ gia đình
Tránh đồng nhất mọi trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá với hành vi thao túng
Kiểm soát quan hệ lợi ích, ngăn thao túng, bảo vệ tài sản nhà nước trong đấu giá tài sản
Khơi thông các động lực đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026
Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 10 tháng lập kỷ lục cao nhất từ năm 2009 đến nay








