eMagazine

EMAGAZINE: Tăng trưởng 2 con số - Đồng lòng, dồn lực cho chặng "nước rút"

06:45 | 13/10/2026

Kinh tế Việt Nam đi qua 9 tháng năm 2026 với mức tăng GDP 9,01%, cao nhất trong 15 năm, tạo nền tảng quan trọng để bước vào chặng nước rút của năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Kết quả ấy phản ánh sức bật của nền kinh tế, đồng thời cho thấy sự chuyển động mạnh mẽ từ định hướng chiến lược của Trung ương, chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ tới các giải pháp điều hành cụ thể của Bộ Tài chính, các bộ, ngành, địa phương.

Bức tranh kinh tế 9 tháng năm 2026 ghi nhận nhiều điểm sáng trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động khó lường, xung đột địa chính trị kéo dài, cạnh tranh thương mại, công nghệ ngày càng gay gắt, giá năng lượng và chi phí đầu vào chịu nhiều sức ép. Trong điều kiện đó, GDP tăng 9,01% so với cùng kỳ, mức cao nhất trong 15 năm, cho thấy sức chống chịu và khả năng thích ứng của nền kinh tế tiếp tục được củng cố.

Đáng chú ý, đà tăng trưởng được cải thiện liên tục qua từng quý. GDP quý I tăng 8,15%, quý II tăng 8,81%, đến quý III đạt 9,95%. Nhịp tăng ngày càng cao cho thấy các động lực tăng trưởng đang từng bước được khơi thông, phát huy hiệu quả hơn, tạo nền tảng quan trọng để nền kinh tế bước vào quý cuối năm với thế và lực mới.

Mức tăng 9,01% càng có ý nghĩa khi Việt Nam vừa phải ứng phó với những bất định từ bên ngoài, vừa thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn. Kết quả này vừa phản ánh sức bật của nền kinh tế, vừa tạo dư địa để tiếp tục tăng tốc, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Tuy nhiên, đây mới là nền tảng bước đầu trong khi yêu cầu phát triển đang được đặt ở tầm cao hơn. Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 5/10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt bài toán tăng trưởng trong tổng thể yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng của nền kinh tế và hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị 

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trước những biến động quốc tế, cạnh tranh công nghệ, chiến tranh thương mại, yêu cầu đổi mới mô hình phát triển cùng mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%, Việt Nam phải nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, đặc biệt là quyết tâm hành động. “Muốn nắm bắt thời cơ cần có tư duy chiến lược, tính chủ động trong phân tích tình hình, đưa ra quyết sách đúng, tổ chức thực hiện hiệu quả”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ.

Tinh thần xuyên suốt là chủ trương đúng phải được chuyển hóa thành năng lực tổ chức thực hiện, nguồn lực phát triển và kết quả cụ thể. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu gắn công tác xây dựng Đảng, phương thức lãnh đạo, công tác cán bộ với huy động nguồn lực và phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm bộ máy hành chính vận hành hiệu quả, phát huy tiềm năng con người, hướng thành quả phát triển tới nâng cao đời sống nhân dân.

Đặc biệt, tăng trưởng cao phải đi cùng chất lượng và hiệu quả. Theo yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, kết quả phát triển cần được đánh giá thực chất qua năng suất, sức khỏe doanh nghiệp, thu nhập và đời sống nhân dân. Đồng thời, phải nhận diện rõ hạn chế của từng động lực tăng trưởng, xác định nguyên nhân, trách nhiệm và những nhiệm vụ cần tập trung để hoàn thành cao nhất các mục tiêu năm 2026.

Yêu cầu đó cũng đặt ra một câu hỏi lớn đối với điều hành kinh tế là làm thế nào để nguồn lực thực sự chuyển thành năng lực sản xuất, kinh doanh và kết quả phát triển? Đây chính là điểm nối giữa định hướng chiến lược của Trung ương với những nhiệm vụ Chính phủ đang quyết liệt triển khai trong năm đầu của nhiệm kỳ mới.

Thực tế, ngay từ đầu năm, mục tiêu tăng trưởng cao đã được cụ thể hóa thành chương trình hành động. Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 xác lập những định hướng lớn cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Để nhanh chóng đưa Kết luận số 18-KL/TW vào thực tiễn, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16/4/2026, cập nhật chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cùng các kết luận của Trung ương. Tiếp đó, Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 xác định mục tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng địa phương trong năm 2026 và giai đoạn 2026-2030.

Việc giao chỉ tiêu tới từng địa phương thể hiện bước chuyển từ định hướng chiến lược sang trách nhiệm thực thi. Mỗi tỉnh, thành phố phải nhận diện đúng lợi thế, xác định động lực chủ yếu, lựa chọn dự án trọng điểm và chủ động huy động nguồn lực. Kết quả 9 tháng cho thấy 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng 2 con số, phản ánh dư địa phát triển khi các động lực được khai thác hiệu quả.

Để tạo sức bật cho tăng trưởng, cải cách thể chế được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Ngày 29/4/2026, Chính phủ ban hành 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, hướng tới giảm trên 50% thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.

Tác động của cải cách thể chế cần được nhìn nhận từ khả năng thúc đẩy hoạt động kinh tế. Thủ tục được rút ngắn giúp dự án sớm triển khai, giảm chi phí gia nhập thị trường, cải thiện tốc độ luân chuyển vốn. Những dự án tồn đọng được tháo gỡ sẽ tạo thêm năng lực sản xuất, việc làm, đơn hàng và nguồn thu cho ngân sách.

Kết quả tăng trưởng 9,01% trong 9 tháng tạo nền tảng quan trọng cho nền kinh tế, song khoảng cách tới mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên vẫn đặt ra áp lực rất lớn. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đánh giá những kết quả đạt được là tiền đề để tạo chuyển biến mạnh mẽ, tăng tốc, bứt phá, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Đi cùng yêu cầu tăng trưởng cao, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh chất lượng và mục tiêu cuối cùng của phát triển là: “Bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao phải phục vụ lợi ích của người dân, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và bảo đảm công bằng xã hội”. Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt trong điều hành, khi tốc độ tăng trưởng cần gắn chặt với ổn định vĩ mô, an sinh xã hội và cải thiện đời sống người dân.

Bên cạnh những kết quả tích cực, nền kinh tế vẫn đối mặt nhiều sức ép. Điều hành kinh tế vĩ mô ngày càng khó khăn, áp lực lạm phát lớn, trong khi tốc độ tăng trưởng chưa đạt mục tiêu đề ra. Một số cực tăng trưởng chưa phát huy hết tiềm năng; các động lực truyền thống cần được thúc đẩy mạnh hơn. Mặt bằng lãi suất còn tương đối cao, doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó trong tiếp cận vốn, tín dụng.

Một số dự án tồn đọng cũng chưa được xử lý dứt điểm, ảnh hưởng tới khả năng đưa nguồn lực vào nền kinh tế. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nhất là các công nghệ chiến lược, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp ở một số nơi còn chưa đồng đều, trong khi thiên tai, thời tiết cực đoan cùng nhiều vấn đề xã hội tiếp tục tạo thêm sức ép đối với công tác điều hành.

Trong bối cảnh đó, ba tháng cuối năm được xác định là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chuyển mạnh từ duy trì đà tăng trưởng sang tăng tốc, hành động quyết liệt, tạo chuyển biến rõ nét, bám sát các chương trình, kế hoạch đã đề ra, đồng thời xử lý nhanh những vấn đề phát sinh từ thực tiễn.

Áp lực của chặng nước rút được thể hiện rõ qua yêu cầu tăng trưởng. Theo Thủ tướng, để GDP cả năm đạt mức tăng 2 con số, tăng trưởng quý IV phải trên 12,5%. Đây là nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương phải huy động cao nhất nguồn lực, khai thác tối đa dư địa tăng trưởng, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp và tổ chức thực hiện. 

Từ yêu cầu đó, từng địa phương cần cập nhật lại kịch bản tăng trưởng trên cơ sở kết quả 9 tháng, xác định rõ khoảng cách so với mục tiêu, lượng hóa dư địa còn lại của từng ngành, lĩnh vực để có giải pháp phù hợp. Các địa phương, cực tăng trưởng có quy mô kinh tế lớn cần phát huy mạnh hơn vai trò dẫn dắt, tạo thêm đóng góp từ sản xuất, đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư công và thu hút nguồn lực xã hội.

Với những địa phương tăng trưởng còn thấp, trọng tâm là rà soát từng điểm nghẽn, từng dự án, từng nguồn lực có khả năng đưa ngay vào nền kinh tế. Những vướng mắc về đất đai, giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, tiến độ dự án cần được xử lý nhanh hơn, qua đó biến nguồn lực đang bị ách tắc thành năng lực sản xuất, việc làm và giá trị gia tăng mới.

Đồng thời, chính sách tài khóa cần tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác. Nguồn lực ngân sách, đầu tư công, tài sản công cùng các nguồn lực xã hội phải được huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn, vừa tạo thêm động lực cho tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn.

Bước vào quý cuối năm, dư địa tăng trưởng vẫn còn, song áp lực hoàn thành mục tiêu ngày càng lớn. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, để tăng trưởng cả năm đạt trên 10%, GDP quý IV cần tăng khoảng 12,4% - mức rất thách thức trong bối cảnh hiện nay. Điều này đòi hỏi các động lực tăng trưởng phải được thúc đẩy mạnh hơn, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn.

Dư địa trước hết nằm ở những khu vực chưa đạt kịch bản đề ra. Trong 9 tháng, nông nghiệp tăng 4,02%, cơ bản bám sát kịch bản, trong khi dịch vụ, công nghiệp - xây dựng vẫn còn khoảng cách cần bù đắp. Tổng đầu tư toàn xã hội cũng cần tăng tốc trong những tháng cuối năm, tạo thêm sức kéo từ sản xuất, đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, FDI và khu vực doanh nghiệp.

Trong đó, đầu tư công tiếp tục được xác định là một trong những động lực quan trọng. Sau 9 tháng, giải ngân đạt khoảng 642 nghìn tỷ đồng, tương đương 62,9% kế hoạch, tăng khoảng 212 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ. Yêu cầu đặt ra là đẩy nhanh tiến độ gắn với bảo đảm chất lượng, hiệu quả, đưa vốn đầu tư thực sự hình thành công trình, tài sản và năng lực sản xuất mới.

Để dòng vốn này được hấp thụ nhanh hơn, những điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, nguyên vật liệu, đất san lấp, đất đai, quy hoạch xây dựng cần tiếp tục được xử lý quyết liệt. Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, chất lượng chuẩn bị dự án cũng là yếu tố đặc biệt quan trọng. Chuẩn bị chưa kỹ sẽ dẫn tới điều chỉnh trong quá trình triển khai, kéo dài thủ tục, ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ giải ngân.

Song hành với đầu tư công là yêu cầu đưa những nguồn lực đang bị ách tắc trở lại nền kinh tế. Hơn 1.000 dự án đã được tháo gỡ khó khăn về cơ chế, pháp lý cần nhanh chóng chuyển sang triển khai thực tế. Mỗi dự án được khơi thông sẽ góp phần đưa đất đai, tài sản, nguồn vốn từng bị đình trệ trở lại vòng quay đầu tư, tạo thêm công trình, việc làm, năng lực sản xuất và nguồn thu ngân sách.

Dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng còn nhiều dư địa. Vốn FDI đăng ký tiếp tục tăng, song tốc độ giải ngân cần được thúc đẩy mạnh hơn. Trọng tâm trong quý IV là tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được cấp phép, đưa vốn đăng ký sớm chuyển thành vốn thực hiện, qua đó bổ sung năng lực sản xuất và tạo thêm động lực cho tăng trưởng.

Khu vực doanh nghiệp tiếp tục là một mắt xích quan trọng trong chặng tăng tốc. Khoảng 223.900 doanh nghiệp gia nhập, tái gia nhập thị trường trong 9 tháng cho thấy sức sống của khu vực sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, khoảng 172.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng phản ánh những khó khăn còn hiện hữu, đòi hỏi tiếp tục giảm chi phí, cải thiện khả năng tiếp cận vốn và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.

Cải cách thủ tục hành chính được xác định là giải pháp trực tiếp để giải phóng nguồn lực. Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, tỷ lệ thủ tục được cắt giảm đã đạt 53%, vượt chỉ tiêu đề ra; chi phí tuân thủ giảm hơn 54%. Kết quả này tạo cơ sở để tiếp tục đẩy mạnh cải cách trong những lĩnh vực tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là thuế, đăng ký kinh doanh, gia nhập và rút khỏi thị trường.

Theo hướng đó, Bộ Tài chính đang nghiên cứu đơn giản hóa phương pháp thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời đề xuất điều chỉnh tiêu chí xác định nhóm doanh nghiệp này nhằm giảm thủ tục kê khai, tiết kiệm chi phí tuân thủ. Các thủ tục liên quan tới chấm dứt hoạt động, mã số thuế cũng tiếp tục được rà soát, đơn giản hóa, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong suốt vòng đời hoạt động.

Cùng với yêu cầu tăng tốc, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là nguyên tắc xuyên suốt trong điều hành. Áp lực lạm phát, biến động giá xăng dầu, năng lượng tiếp tục đặt ra thách thức lớn. Chính sách tài khóa cần phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác, vừa hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tổng cầu, vừa kiểm soát mặt bằng giá và bảo đảm các cân đối lớn.

Đối với xăng dầu, các công cụ thuế cùng những chính sách hỗ trợ liên quan tiếp tục được sử dụng nhằm hạn chế tác động lên mặt bằng giá. Với giá điện, yêu cầu đặt ra là hài hòa giữa ổn định chi phí sinh hoạt, sản xuất với bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng, đặc biệt trong quý IV/2026 và mùa khô năm 2027.

Như Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, yêu cầu xuyên suốt là “giữ ổn định chỉ số giá, vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa ổn định kinh tế vĩ mô để người dân thực sự được thụ hưởng kết quả tăng trưởng”. Đây cũng là thước đo quan trọng của chất lượng phát triển, khi thành quả tăng trưởng cần được chuyển hóa thành việc làm, thu nhập, cơ hội sản xuất, kinh doanh và đời sống tốt hơn cho người dân.

Bên cạnh các động lực truyền thống, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được thúc đẩy trở thành nguồn lực tăng trưởng mới. Kế hoạch hành động “100 ngày” hướng tới đẩy nhanh giải ngân nguồn vốn ngân sách dành cho các lĩnh vực này, đưa nguồn lực tài chính vào sản phẩm, công nghệ, năng suất và năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế.

Bài toán trọng tâm trong quý IV là đẩy nhanh tiến độ thực thi, đưa các dư địa còn lại sớm đóng góp vào kết quả chung. Vốn đầu tư công cần được giải ngân gắn với hiệu quả công trình; vốn FDI đăng ký cần nhanh chóng chuyển thành vốn thực hiện; các dự án tồn đọng cần sớm trở lại guồng đầu tư; cải cách thủ tục phải thực sự giúp doanh nghiệp tiết giảm thời gian, chi phí, mở rộng cơ hội sản xuất, kinh doanh.

Mức tăng GDP 9,01% sau 9 tháng đã tạo thế thuận lợi để nền kinh tế bước vào chặng nước rút. Ba tháng cuối năm đòi hỏi quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, nhất là trong xử lý các điểm nghẽn, thúc đẩy dự án, phát huy dư địa của từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Hiệu quả thực thi sẽ là yếu tố quan trọng quyết định khả năng tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Có thể khẳng định, kết quả đạt được trong năm 2026 sẽ tạo đà trực tiếp cho năm 2027 và giai đoạn 2026-2030. Yêu cầu đặt ra là tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh, củng cố sức khỏe doanh nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân. Đây là những điều kiện cốt lõi để Việt Nam duy trì nhịp phát triển cao, nâng chất lượng tăng trưởng và tạo thế vững chắc cho chặng đường tiếp theo.

 

Nội dung&Thiết kế: Thanh Hằng

Thanh Hằng