

Phóng viên: Thưa ông, 9 tháng đầu năm đã đi qua và nền kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng GDP tích cực với 9,01%, tạo tiền để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong cả năm 2026. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng là trụ cột của tăng trưởng với mức tăng trên 11,2% trong 9 tháng. Vậy theo ông, trong quý IV, khu vực này có tiếp tục duy trì vai trò đầu tàu, tạo lực kéo cho nền kinh tế hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm hay không?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Mức tăng trưởng GDP 9,01% trong 9 tháng năm 2026 là mức tăng trưởng 9 tháng cao nhất trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, chỉ thấp hơn mức 9,44% của cùng kỳ năm 2022. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, đây không chỉ là một con số ấn tượng, mà còn phản ánh nỗ lực phục hồi và phát triển của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay. Nhìn lại các con số cho tốc độ tăng trưởng được cải thiện qua từng quý, quý I đạt 8,15%, quý II đạt 8,1% và quý III đạt 9,95%. Kết quả này cho thấy nền kinh tế đang có nền tảng khá tích cực.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên, quý IV/2026 phải tăng 12,5%. Mục tiêu này cho thấy trong 3 tháng cuối năm không đơn thuần là giai đoạn duy trì đà tăng trưởng, mà còn là giai đoạn phải tạo thêm một bước tăng tốc đáng kể. Điều quan trọng, không chỉ là trả lời câu hỏi có thể đạt 12,5% hay không, mà là 12,5% sẽ được tạo ra từ những động lực nào, ở những ngành nào và với mức độ lan tỏa ra sao?
Nhìn từ cả phía cung và phía cầu, có thể thấy nền kinh tế đang có những động lực đáng kể, nhưng đồng thời cũng xuất hiện những điểm cần đặc biệt lưu ý. Đối với ngành công nghiệp dù có sản lượng tăng cao song cần nhìn sâu vào giá trị gia tăng.

Từ phía cung, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là trụ cột của tăng trưởng với mức tăng trên 11,2% trong 9 tháng và đóng góp gần một nửa mức tăng của nền kinh tế. Đáng chú ý, chế biến, chế tạo vẫn là động lực lớn nhất, trong khi xây dựng duy trì tốc độ tăng khá cao.
Khu vực dịch vụ tiếp tục đóng góp quan trọng nhưng chỉ tăng 8,69%, cho thấy khu vực này chưa phát huy hết tiềm năng, nhất là ở những ngành dịch vụ thị trường có quy mô lớn.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, tiếp tục đóng vai trò bệ đỡ. Qua đó cho thấy áp lực tăng tốc trong quý IV vẫn chủ yếu đặt lên khu vực công nghiệp - xây dựng, đồng thời đòi hỏi khu vực dịch vụ phải tạo thêm lực kéo cho tăng trưởng.
Các chỉ báo về sản xuất vẫn cho thấy đà tăng khá tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng tăng 12,3%, riêng chế biến, chế tạo tăng 12,9%, trong khi tiêu thụ của ngành này tăng 12,8%, gần tương đương tốc độ sản xuất. Đây là tín hiệu cho thấy sản xuất đang được hỗ trợ tương đối tốt từ phía thị trường. Tuy nhiên, tồn kho chế biến, chế tạo cuối tháng 9 vẫn tăng 11,9% so với cùng kỳ, cho thấy khả năng hấp thụ sản phẩm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ.
Một vấn đề đáng quan tâm hơn là khả năng chuyển mức tăng sản lượng thành giá trị tăng thêm. Chẳng hạn, trong chế biến, chế tạo, sản lượng tăng 12,9% nhưng giá trị tăng thêm tăng 11,36%. Sự khác biệt này không đủ để kết luận hiệu quả tạo giá trị gia tăng đang giảm, bởi IIP và giá trị tăng thêm được tính theo những phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, đây là tín hiệu cần được theo dõi, nhất là trong bối cảnh ngành chế biến, chế tạo sử dụng đáng kể nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu. Điều quan trọng không chỉ là sản xuất tăng bao nhiêu, mà là bao nhiêu giá trị mới được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế.
Dù vậy, sự khác biệt này đặt ra một câu hỏi có ý nghĩa lớn hơn đối với chất lượng tăng trưởng: Mỗi đơn vị sản lượng công nghiệp tăng thêm đang tạo ra bao nhiêu giá trị mới trong nền kinh tế Việt Nam? Đây đặc biệt là vấn đề cần quan tâm đối với chế biến, chế tạo - khu vực có sự tham gia lớn của doanh nghiệp FDI và sử dụng đáng kể nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu. Vì vậy, bên cạnh tốc độ tăng sản lượng, cần quan tâm đến tỷ lệ đầu vào được cung ứng trong nước, mức độ liên kết với doanh nghiệp nội địa và phần giá trị được tạo ra, giữ lại trong nền kinh tế.

Phóng viên: Thưa ông, 9 tháng năm 2026, đầu tư và xuất khẩu tiếp tục ghi nhận mức tăng tích cực, trong khi tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51%, cho thấy sức cầu trong nước vẫn cần được củng cố thêm. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm đặt ra ở mức cao, theo ông, cần có những giải pháp điều hành nào để chuyển sự gia tăng của đầu tư và sức mua thành năng lực sản xuất, giá trị gia tăng của nền kinh tế?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Từ phía sử dụng GDP, đầu tư và xuất khẩu tiếp tục là những động lực quan trọng của tăng trưởng. Tích lũy tài sản 9 tháng tăng 17,88%, trong đó tích lũy tài sản cố định tăng 11,12%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%. Đáng chú ý, tích lũy tài sản lưu động tăng mạnh, phản ánh nhu cầu nhập khẩu lớn về tư liệu sản xuất, tạo nguồn đầu vào cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo. Những diễn biến này cho thấy dòng vốn và nhu cầu sản xuất đang tiếp tục mở rộng, nhưng để tạo thế cân bằng hơn cho tăng trưởng, sức cầu trong nước cần được củng cố thêm.
Tiêu dùng cuối cùng 9 tháng tăng 8,51%, trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình tăng 9,75%, cho thấy sức mua trong nước tiếp tục cải thiện. Thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 9,1 triệu đồng/tháng, tăng 9,1% so với cùng kỳ, tạo điều kiện để sức mua thực tiếp tục tăng. Tuy nhiên, mức cải thiện này vẫn cần được củng cố trong những tháng cuối năm. Bên cạnh duy trì đầu tư và xuất khẩu, cần tiếp tục hỗ trợ thu nhập, việc làm và niềm tin của người dân để thúc đẩy tiêu dùng; đồng thời bảo đảm nguồn cung và kiểm soát giá cả, qua đó chuyển sự gia tăng của cầu thành sản lượng và giá trị gia tăng thực chất trong nước.
Ở góc độ điều hành, đây là điểm cần lưu ý trong quý IV/2026. Phía cầu trong nước cần thêm một lực kéo từ tiêu dùng. Đẩy nhanh đầu tư có thể tạo thêm lực kéo cho tổng cầu, nhưng nếu chỉ dựa vào đầu tư mà sức mua trong nước không cải thiện, cấu trúc tăng trưởng sẽ thiếu cân bằng. Ngược lại, kích cầu tiêu dùng cũng cần gắn với khả năng mở rộng sản xuất, tránh tạo áp lực quá mức lên mặt bằng giá.
Bởi vậy, tôi cho rằng, vấn đề không phải đơn giản là “tăng chi tiêu”, mà là tạo điều kiện để thu nhập thực, niềm tin và nhu cầu tiêu dùng được chuyển hóa thành sức mua thực tế, đồng thời năng lực cung ứng trong nước đáp ứng được sự gia tăng của cầu.

Phóng viên: Từ đầu năm đến nay, cán cân thương mại đang đảo chiều sang nhập siêu, đây có là vấn đề đáng lo ngại không, thưa ông?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Xuất khẩu tiếp tục là một trụ cột quan trọng của tăng trưởng, với kim ngạch 9 tháng tăng 24,5%. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng nhanh hơn (tới 36,7%) khiến cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD. Tôi cho rằng, đằng sau câu chuyện nhập khẩu tăng, chúng ta cần nhìn vào mục đích và khả năng tạo giá trị.
Rõ ràng diễn biến nhập siêu cần được theo dõi nhưng không nên đồng nhất nhập siêu với tác động tiêu cực trực tiếp đến GDP. Trong phương pháp tính GDP theo sử dụng, nhập khẩu được ghi nhận ở vế trừ, đồng thời một phần đáng kể hàng nhập khẩu có thể đi vào tích lũy tài sản và trở thành đầu vào cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo. Vì vậy, điều quan trọng hơn là đánh giá nhập khẩu đang phục vụ tiêu dùng, tích lũy hay mở rộng năng lực sản xuất, và cuối cùng tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng trong nước.
Thực tế, có đến 94,1% kim ngạch nhập khẩu 9 tháng là tư liệu sản xuất, chủ yếu gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu và vật liệu. Nếu được sử dụng để mở rộng năng lực sản xuất, nâng năng suất và phát triển các công đoạn trong nước, nhập khẩu có thể trở thành đầu vào cho tăng trưởng. Vì vậy, vấn đề không chỉ là nhập khẩu tăng bao nhiêu, mà điều đáng quan tâm là bao nhiêu giá trị được tạo thêm và giữ lại trong nền kinh tế. Đây cũng là điểm then chốt để gắn mục tiêu tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn với nâng cao chất lượng và sức bền của tăng trưởng trong dài hạn.


Phóng viên: Từ những diễn biến về sản xuất công nghiệp, sức cầu trong nước và cán cân thương mại, theo ông, đâu là những yếu tố có tính chất xúc tác để khơi thông nguồn lực, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 2026?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Từ những phân tích trên, có thể thấy để đạt mức tăng trưởng cao trong quý IV/2026, ít nhất 4 điều kiện cần được bảo đảm.
Thứ nhất, công nghiệp phải tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt. Chế biến, chế tạo cần duy trì sản xuất, tiêu thụ và kiểm soát tồn kho. Đồng thời, cần theo dõi chặt chẽ chi phí điện, nhiên liệu, logistics, lãi suất cho vay và nguyên vật liệu để hạn chế việc chi phí đầu vào tăng nhanh làm thu hẹp phần giá trị gia tăng.
Thứ hai, đầu tư phải được chuyển hóa nhanh thành năng lực sản xuất và sản lượng thực tế. Đối với đầu tư công, trọng tâm không chỉ là giải ngân mà phải là khối lượng xây dựng hoàn thành, công trình đưa vào sử dụng và năng lực mới được tạo ra. Đối với đầu tư tư nhân, cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về vốn, thủ tục và thị trường.
Thứ ba, cầu trong nước cần được củng cố đồng thời với xuất khẩu. Tiêu dùng cuối năm có thể tạo thêm lực kéo cho dịch vụ, thương mại, du lịch và sản xuất hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, kích cầu cần gắn với kiểm soát lạm phát và bảo đảm nguồn cung.
Thứ tư, phải nâng phần giá trị được tạo ra và giữ lại trong nước. Đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng tăng trưởng. Xuất khẩu tăng, nhập khẩu đầu vào tăng và sản xuất tăng chỉ thực sự tạo ra sức mạnh nội tại khi mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước được cải thiện, tỷ lệ đầu vào trong nước từng bước tăng lên và năng suất của khu vực doanh nghiệp nội địa được nâng cao.

Phóng viên: Nhìn từ kết quả 9 tháng năm nay cho thấy nền kinh tế vẫn còn những dư địa có thể khai thác để tạo động lực tăng trưởng trong quý IV/2026. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ làm thế nào chuyển hóa các dư địa đó thành động lực tăng trưởng thực chất. Theo ông, cần có những giải pháp đột phá nào trong điều hành chính sách, khơi thông nguồn lực và tháo gỡ các điểm nghẽn để phát huy tối đa tiềm năng, tạo sức bật cho quý cuối cùng của năm, đồng thời bảo đảm chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Mục tiêu tăng trưởng 12,5% trong quý IV là một thách thức rất lớn. Tuy nhiên, nhìn từ kết quả 9 tháng, nền kinh tế vẫn còn những dư địa có thể tạo thêm tăng trưởng. Vấn đề là phải xác định đúng những động lực còn khả năng tăng tốc và nhanh chóng tháo gỡ các điểm nghẽn đang cản trở chúng.
Trong đó, đầu tư, nhất là đầu tư công, là một động lực cần được tập trung. Đầu tư công không chỉ tạo ra tăng trưởng trực tiếp thông qua xây dựng và các công trình hạ tầng mà còn có vai trò như “vốn mồi”, tạo thêm việc làm, đơn hàng và nhu cầu đối với vật liệu, máy móc, vận tải, dịch vụ; qua đó khuyến khích khu vực tư nhân tăng đầu tư và mở rộng sản xuất.
Theo tính toán, nếu thực hiện đủ kế hoạch vốn đầu tư công trong năm 2026, khu vực này có thể đóng góp khoảng 1,7 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Trong 9 tháng, vốn đầu tư công thực hiện mới đạt hơn 60% kế hoạch, vì vậy, nếu khối lượng vốn còn lại được thực hiện đầy đủ trong quý IV, đóng góp vào tăng trưởng riêng trong quý này có thể lên tới khoảng 2,5 điểm phần trăm. Điều đó cho thấy đẩy nhanh tiến độ đầu tư công trong những tháng cuối năm không chỉ là yêu cầu về giải ngân mà còn là một trong những giải pháp quan trọng để tạo thêm sức kéo cho tăng trưởng.
Bên cạnh đầu tư, công nghiệp cần tiếp tục duy trì đà tăng nhưng phải bảo đảm đầu ra và hiệu quả sản xuất. Xuất khẩu vẫn là động lực quan trọng, song cần tạo sự lan tỏa lớn hơn đến doanh nghiệp trong nước. Nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng cao cần được nhìn cùng với khả năng mở rộng sản xuất và tạo thêm giá trị trong nước. Trong khi đó, tiêu dùng cần được tiếp thêm động lực để tạo thế cân bằng hơn cho tăng trưởng.
Vì vậy, điều hành quý IV không nên chỉ đặt câu hỏi làm thế nào để tăng thêm tăng trưởng, mà cần cụ thể hơn là nguồn tăng trưởng nào còn khả năng mở rộng, điểm nghẽn nào cần tháo gỡ và nguồn lực nào có thể tạo tác động lan tỏa lớn nhất? Đây là cách để tập trung nguồn lực vào đúng những nơi có khả năng tạo thêm sản lượng và việc làm trong thời gian ngắn.
Quý IV/2026, vì thế, là chặng nước rút với yêu cầu tăng trưởng rất cao, đặt ra đòi hỏi phải huy động và sử dụng hiệu quả nhất những nguồn lực còn lại trong thời gian ngắn. Trọng tâm là đẩy nhanh đầu tư, nhất là đầu tư công, tháo gỡ các điểm nghẽn trong sản xuất, thúc đẩy sức mua và tăng khả năng lan tỏa của xuất khẩu đối với khu vực trong nước. Mục tiêu là tận dụng tối đa mọi dư địa tăng trưởng, phấn đấu đạt kết quả cao nhất có thể trong quý IV và cả năm 2026, qua đó tạo thêm nền tảng cho tăng trưởng những năm tiếp theo.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Phó Cục trưởng!
