Bài 1: Gắn kết định hướng phát triển với nguồn lực thực hiện
| Lời dẫn: Đổi mới mô hình tăng trưởng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng không chỉ đòi hỏi duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà còn phải thay đổi cách tạo ra tăng trưởng: nâng đóng góp của năng suất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; giảm tiêu hao tài nguyên, năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm; hạn chế ô nhiễm, phát thải; đồng thời nâng sức chống chịu của nền kinh tế trước rủi ro khí hậu và biến động thị trường. Những yêu cầu ấy khiến chuyển đổi xanh trở thành một bộ phận của đổi mới mô hình tăng trưởng, chứ không phải nhiệm vụ môi trường đứng bên ngoài hoạt động sản xuất. Tín dụng xanh có vai trò kết nối mục tiêu đó với quyết định đầu tư, nhưng chỉ phát huy hiệu quả khi dòng vốn được chuyển hóa thành năng suất, năng lực cạnh tranh và lợi ích môi trường có thể kiểm chứng. |
Nguyễn Văn Kiên, Trưởng Nghiệp vụ
Nguyễn Phương Anh, Phó trưởng Nghiệp vụ,
Đỗ Thị Loan, Lê Thị Thảo, Chuyên viên Ban Tuyên giáo Đảng ủy Agribank
Định hướng của Đảng về phát triển xanh và huy động nguồn lực cho chuyển đổi
Tăng trưởng kinh tế tạo nguồn lực để cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng và nâng cao tiềm lực quốc gia. Tuy nhiên, nếu tăng trưởng đi cùng ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên và gia tăng thiệt hại do thiên tai, những thành quả đạt được sẽ khó duy trì lâu dài. Nguồn lực đáng lẽ dành cho đầu tư phát triển phải chuyển sang khắc phục hậu quả, trong khi sức khỏe, sinh kế và điều kiện sống của người dân bị ảnh hưởng. Vì vậy, chất lượng phát triển cần được đánh giá đồng thời qua kết quả kinh tế, tiến bộ xã hội, chất lượng môi trường và khả năng bảo đảm nguồn lực cho các thế hệ tiếp theo.
Nhận thức về mối quan hệ này được Đảng từng bước bổ sung, phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) xác định ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có quan hệ tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước. Nghị quyết đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, đồng thời nhấn mạnh việc đa dạng hóa nguồn vốn trong nước và nước ngoài, kết hợp nguồn lực ngân sách với các nguồn đầu tư khác. Điều đó cho thấy, định hướng phát triển xanh đã gắn với yêu cầu huy động nguồn lực để tổ chức thực hiện.
Đại hội XIII tiếp tục xác định xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường(1). Định hướng này thể hiện sự phát triển tư duy của Đảng về phương thức sử dụng tài nguyên và tổ chức hoạt động kinh tế. Khi quy mô sản xuất ngày càng lớn, việc tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, tái sử dụng sản phẩm và hạn chế chất thải càng có ý nghĩa đối với hiệu quả tăng trưởng. Vì thế, bảo vệ môi trường cần được thực hiện ngay trong quá trình phát triển, từ quy hoạch, lựa chọn dự án đến sản xuất và tiêu dùng.
![]() |
| Vốn và lao động phải được sử dụng hiệu quả hơn; công nghệ phải nâng năng suất; sản xuất phải giảm cường độ sử dụng tài nguyên và năng lượng; sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường. Ảnh: Agribank |
Kế thừa những quan điểm đó, Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh việc xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đặt các định hướng này trong cùng một chỉnh thể cho thấy yêu cầu đổi mới cả đầu vào, quy trình và đầu ra của tăng trưởng: vốn và lao động phải được sử dụng hiệu quả hơn; công nghệ phải nâng năng suất; sản xuất phải giảm cường độ sử dụng tài nguyên và năng lượng; sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường. Vì vậy, chuyển đổi xanh cần tham gia trực tiếp vào quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng, thay vì chỉ được xem như chi phí tuân thủ.
Từ định hướng ấy, chuyển đổi xanh cần được hiểu là sự thay đổi trong cách thức tạo ra và sử dụng của cải xã hội. Đối với doanh nghiệp, đó là lựa chọn công nghệ phù hợp, giảm tiêu hao nguyên liệu, tiết kiệm năng lượng và kiểm soát chất thải. Đối với ngành và địa phương, đó là tổ chức không gian sản xuất, phát triển hạ tầng và liên kết các hoạt động kinh tế theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên. Đối với cơ quan quản lý, đó là xây dựng chính sách và tiêu chí đánh giá để lợi ích kinh tế trước mắt gắn với yêu cầu phát triển lâu dài.
Về phương diện kinh tế, yêu cầu này đòi hỏi tính toán đầy đủ hơn lợi ích và chi phí của hoạt động sản xuất. Một dự án có thể mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư nhưng đồng thời gây ô nhiễm nguồn nước, suy thoái đất hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Nếu những tổn thất đó không được tính đến, lợi ích của doanh nghiệp có thể tăng lên trong khi Nhà nước và người dân phải gánh thêm chi phí. Vì vậy, trách nhiệm bảo vệ môi trường cần được xác định ngay từ khâu lựa chọn dự án, đi cùng cơ chế phòng ngừa, giám sát và xử lý phù hợp.
Trên cơ sở đó, phát triển nhanh và phát triển bền vững cần được thực hiện trong một quá trình thống nhất. Đầu tư vào công nghệ tiết kiệm năng lượng, giảm thất thoát nguyên liệu hoặc tái sử dụng nước có thể giúp doanh nghiệp hạ chi phí và nâng hiệu quả sản xuất. Quá trình đầu tư còn tạo nhu cầu đối với thiết bị, dịch vụ kỹ thuật và lao động có kỹ năng. Tuy nhiên, hiệu quả ấy phụ thuộc vào khả năng lựa chọn công nghệ, tổ chức vận hành và tiêu thụ sản phẩm. Do đó, chuyển đổi xanh phải gắn với điều kiện cụ thể của từng ngành, từng doanh nghiệp và được đánh giá bằng kết quả thực tế.
Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, được phê duyệt tại Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ, gắn tăng trưởng xanh với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển hạ tầng bền vững và ứng dụng công nghệ. Từ các mục tiêu chung, mỗi ngành, địa phương và doanh nghiệp cần xác định rõ việc phải làm, nhu cầu vốn, tiến độ và trách nhiệm thực hiện.
![]() |
Nguồn lực cho chuyển đổi xanh bao gồm vốn, công nghệ, nhân lực, hạ tầng và năng lực quản lý. Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ, bởi vốn chỉ phát huy hiệu quả khi được đầu tư vào công nghệ phù hợp và được sử dụng bởi đội ngũ có đủ năng lực. Ngược lại, công nghệ và ý tưởng đổi mới khó triển khai nếu thiếu nguồn tài chính. Vì vậy, huy động nguồn lực phải đi đôi với nâng cao khả năng tiếp nhận, sử dụng và phối hợp giữa các chủ thể. Đây là điều kiện để đầu tư cho chuyển đổi tạo ra năng lực sản xuất và giá trị mới.
Trong tổng thể đó, tín dụng là một kênh quan trọng cung ứng vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thông qua quyết định cấp vốn, tổ chức tín dụng góp phần lựa chọn những dự án được triển khai và những công nghệ được đưa vào sử dụng. Khi lợi ích và rủi ro môi trường được xem xét trong quá trình thẩm định, dòng vốn có thêm căn cứ để hướng đến các phương án tiết kiệm tài nguyên, giảm ô nhiễm và nâng cao hiệu quả sản xuất. Phát triển tín dụng xanh, theo nghĩa này, góp phần kết nối định hướng phát triển với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Quá trình kết nối đó cần được bảo đảm bằng những quy định và tiêu chí rõ ràng. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã dành Điều 149 quy định về tín dụng xanh, xác định các nhóm dự án đầu tư gắn với lợi ích môi trường. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Việc hình thành căn cứ phân loại giúp cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng và nhà đầu tư có cơ sở thống nhất để xem xét dự án, hạn chế tình trạng chỉ dựa vào tên gọi hoặc cam kết của chủ đầu tư.
![]() |
| Chính sách hỗ trợ cần tính đến những lợi ích môi trường mà dự án tạo ra cho cộng đồng nhưng chưa được bù đắp đầy đủ qua doanh thu. Ảnh: Agribank |
Đảng xác định mục tiêu, phương hướng phát triển; Nhà nước cụ thể hóa bằng pháp luật, chiến lược và chính sách; tổ chức tín dụng và doanh nghiệp thực hiện theo chức năng, trách nhiệm của mình. Sự thống nhất giữa các cấp độ này giúp chủ trương được chuyển thành công cụ và hành động cụ thể. Đồng thời, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý về tài chính, môi trường, công nghệ và đầu tư là điều kiện để dự án có thể triển khai thông suốt.
Trong quá trình thực hiện, Nhà nước cần tạo điều kiện thúc đẩy tín dụng xanh trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc thị trường. Chính sách hỗ trợ cần tính đến những lợi ích môi trường mà dự án tạo ra cho cộng đồng nhưng chưa được bù đắp đầy đủ qua doanh thu. Tuy nhiên, quyết định cấp tín dụng vẫn phải dựa trên tính khả thi và khả năng trả nợ. Một dự án có mục tiêu bảo vệ môi trường vẫn cần công nghệ phù hợp, thị trường đầu ra và phương án vận hành hiệu quả. Vì vậy, khuyến khích tín dụng xanh phải gắn với minh bạch thông tin, sử dụng vốn đúng mục đích và kiểm soát rủi ro.
Cùng với hiệu quả kinh tế, cần bảo đảm cơ hội tham gia chuyển đổi cho các nhóm doanh nghiệp và người dân. Doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, hộ sản xuất có thể gặp khó khăn về thông tin, nhân lực và chi phí chuẩn bị hồ sơ. Nếu thiếu sự hỗ trợ phù hợp, các chủ thể này sẽ khó đáp ứng yêu cầu để tiếp cận nguồn vốn. Bởi vậy, chính sách cần chú trọng cung cấp thông tin, tư vấn kỹ thuật và đào tạo, giúp họ từng bước nâng cao năng lực. Qua đó, chuyển đổi xanh góp phần mở rộng cơ hội phát triển, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
Định hướng phát triển xanh đặt ra yêu cầu gắn mục tiêu tăng trưởng với năng suất, hiệu quả sử dụng tài nguyên, chất lượng môi trường và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Tín dụng xanh là một công cụ để hỗ trợ quá trình chuyển đổi, không phải mục tiêu tự thân. Giá trị của nó cần được thể hiện qua những thay đổi cụ thể trong sản xuất: công nghệ phù hợp hơn, chi phí đầu vào giảm, năng lực cạnh tranh tăng và tác động môi trường được đo lường. Trên nền tảng đó, cần làm rõ cơ chế tác động của tín dụng xanh và nhận diện những điều kiện khiến nguồn vốn có thể hoặc chưa thể tạo ra kết quả như kỳ vọng.
Gắn kết chuyển đổi xanh với tín dụng xanh, tạo động lực phát triển nhanh và bền vững
Chuyển đổi xanh là quá trình đổi mới công nghệ, tổ chức sản xuất và phương thức quản lý nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, giảm ô nhiễm, giảm phát thải và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu(2). Quá trình này diễn ra trong toàn bộ hoạt động của nền kinh tế, từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng và xử lý chất thải. Vì vậy, chuyển đổi xanh cần được xem xét trong suốt vòng đời sản phẩm, từ lựa chọn nguyên liệu, thiết kế, chế tạo đến sử dụng, tái chế và thải bỏ, đồng thời bảo đảm việc làm, sinh kế của người dân.
Ở từng doanh nghiệp, chuyển đổi xanh có thể bắt đầu bằng những việc cụ thể như thay thế thiết bị tiêu tốn nhiều năng lượng, giảm hao hụt nguyên liệu, tái sử dụng nước hoặc sử dụng bao bì thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, để những thay đổi này mang lại hiệu quả lâu dài, cần có sự hỗ trợ của hạ tầng và sự phối hợp trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Chẳng hạn, phụ phẩm của một cơ sở chỉ có thể trở thành nguyên liệu cho cơ sở khác khi đáp ứng yêu cầu về chất lượng, có công nghệ xử lý và phương án vận chuyển phù hợp. Vì thế, hiệu quả chuyển đổi xanh phụ thuộc vào cả năng lực của doanh nghiệp và sự liên kết giữa các chủ thể.
Cùng với giảm ô nhiễm và phát thải, chuyển đổi xanh còn phải giúp nền kinh tế thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu. Báo cáo Quốc gia về khí hậu và phát triển cho Việt Nam của Nhóm Ngân hàng Thế giới năm 2022 đề cập đồng thời hai hướng: nâng cao khả năng chống chịu trước tác động khí hậu và giảm phát thải carbon. Theo cách tiếp cận này, một phương án đầu tư cần được đánh giá cả về hiệu quả sử dụng tài nguyên, mức độ phát thải và khả năng duy trì hoạt động trước những rủi ro như ngập lụt, hạn hán hoặc thiếu nước. Đây là cơ sở để gắn mục tiêu bảo vệ môi trường với yêu cầu bảo đảm an toàn sản xuất và ổn định sinh kế.
Để thực hiện những thay đổi đó, doanh nghiệp cần nguồn vốn phù hợp. Tín dụng xanh là một công cụ đáp ứng nhu cầu này thông qua việc cấp vốn cho các dự án mang lại lợi ích môi trường, trên cơ sở những tiêu chí và điều kiện cụ thể. Điều 149 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 xác định các nhóm dự án được cấp tín dụng xanh, bao gồm sử dụng hiệu quả tài nguyên; ứng phó với biến đổi khí hậu; quản lý chất thải; xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường; phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Như vậy, căn cứ quan trọng để nhận diện tín dụng xanh là mục đích sử dụng vốn và lợi ích môi trường của dự án. Những lợi ích này cần được chứng minh, theo dõi và kiểm tra trong quá trình thực hiện.
Cần đặt tín dụng xanh trong phạm vi rộng hơn của tài chính xanh. Nếu tài chính xanh bao gồm nhiều hình thức huy động và sử dụng vốn cho mục tiêu môi trường, như đầu tư vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu và cấp tín dụng, thì tín dụng xanh là một bộ phận trong đó. Đồng thời, cần phân biệt khoản vay đáp ứng tiêu chí xanh với khoản vay hỗ trợ doanh nghiệp từng bước chuyển đổi. Một doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ phát thải cao có thể cần vốn để cải tiến thiết bị, giảm ô nhiễm. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp có kế hoạch chuyển đổi không đồng nghĩa mọi khoản vay của doanh nghiệp đều được xác định là tín dụng xanh. Việc phân loại phải căn cứ vào mục đích của từng khoản vay và các tiêu chí áp dụng(3).
Lãi suất cũng không phải căn cứ duy nhất để xác định tính chất xanh của khoản vay. Lãi suất phụ thuộc vào chi phí huy động vốn, thời hạn cho vay, mức độ rủi ro và chính sách hỗ trợ cụ thể. Khoản vay xanh có thể được hưởng ưu đãi khi đáp ứng điều kiện của chương trình hỗ trợ, nhưng cũng có thể được cấp theo điều kiện thương mại. Do đó, phát triển tín dụng xanh cần được hiểu là nâng khả năng cung ứng vốn cho những dự án đáp ứng yêu cầu môi trường, đồng thời bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn và khả năng hoàn trả.
Mối quan hệ giữa chuyển đổi xanh và tín dụng xanh trước hết xuất phát từ nhu cầu đầu tư. Đổi mới thiết bị, cải tiến quy trình và xây dựng hạ tầng đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ vốn trước, trong khi doanh thu hoặc phần chi phí tiết kiệm thường chỉ hình thành sau một thời gian vận hành. Tín dụng giúp doanh nghiệp bù đắp khoảng thiếu hụt vốn này để triển khai dự án. Tuy nhiên, nhu cầu chuyển đổi chỉ có thể trở thành nhu cầu vay vốn khả thi khi được cụ thể hóa bằng phương án công nghệ, kế hoạch đầu tư, thị trường tiêu thụ và nguồn trả nợ rõ ràng.
Theo chiều ngược lại, tín dụng xanh có thể tạo điều kiện và động lực để doanh nghiệp đẩy nhanh chuyển đổi. Nguồn vốn với thời hạn và phương thức trả nợ phù hợp giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong đầu tư. Những yêu cầu về hồ sơ, dữ liệu môi trường và giám sát sử dụng vốn cũng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng lực quản lý, lựa chọn công nghệ và theo dõi hiệu quả sản xuất. Như vậy, tác động của tín dụng xanh được thể hiện cả ở việc bổ sung nguồn lực tài chính và khuyến khích thay đổi cách thức hoạt động của doanh nghiệp(4).
Có thể thấy rõ mối quan hệ này qua trường hợp một cơ sở chế biến đầu tư thay thế hệ thống làm lạnh nhằm giảm tiêu thụ điện và hạn chế hao hụt sản phẩm. Doanh nghiệp cần tính toán chi phí mua sắm, lắp đặt, bảo trì, mức điện năng tiết kiệm và hiệu quả bảo quản. Ngân hàng dựa trên những thông tin đó để xem xét tính khả thi và khả năng trả nợ. Nếu dự án vận hành hiệu quả, phần chi phí tiết kiệm được có thể bổ sung vào nguồn trả nợ. Lợi ích môi trường và lợi ích kinh tế nhờ đó hỗ trợ lẫn nhau; việc khoản vay có được phân loại xanh hay không vẫn phải căn cứ tiêu chí cụ thể.
Sự gắn kết còn thể hiện trong cách nhận diện và quản lý rủi ro. Rủi ro khí hậu có thể tác động trực tiếp đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Lũ lụt, hạn hán hoặc thời tiết cực đoan có thể làm hư hỏng tài sản, gián đoạn sản xuất và giảm doanh thu. Trong khi đó, thay đổi về công nghệ, chính sách và yêu cầu thị trường có thể khiến thiết bị lạc hậu, sản phẩm khó tiêu thụ hoặc chi phí sản xuất tăng lên. Đây là những biểu hiện của rủi ro vật lý và rủi ro chuyển đổi được đề cập trong các hướng dẫn của Mạng lưới các ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát về xanh hóa hệ thống tài chính (NGFS). Xem xét những yếu tố này giúp ngân hàng đánh giá sát hơn năng lực tài chính của khách hàng trong suốt thời gian vay vốn.
Dù vậy, cần đánh giá đầy đủ cả lợi ích môi trường và mức độ an toàn tài chính của dự án. Một dự án đáp ứng tiêu chí xanh vẫn có thể gặp khó khăn do công nghệ chưa phù hợp, chậm tiến độ, chi phí vượt dự kiến hoặc thiếu thị trường đầu ra. Bởi vậy, tính chất xanh không thay thế các yêu cầu thẩm định tín dụng. Đồng thời, quản lý rủi ro môi trường cần được thực hiện trong hoạt động cấp tín dụng nói chung. Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn nội dung này, góp phần đưa yếu tố môi trường vào quá trình xem xét và quản lý khoản cấp tín dụng.
Ở phạm vi nền kinh tế, sự đồng hành giữa chuyển đổi xanh và tín dụng xanh có thể góp phần nâng cao năng suất, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng và cải thiện chất lượng sản phẩm. Quá trình đổi mới còn tạo nhu cầu đối với thiết bị, công nghệ, dịch vụ kỹ thuật và lao động có kỹ năng, qua đó mở thêm cơ hội phát triển. Tuy nhiên, những lợi ích ấy phụ thuộc vào khả năng lựa chọn dự án, tiếp nhận công nghệ và tổ chức sản xuất. Vì vậy, hiệu quả tín dụng xanh cần được đánh giá bằng kết quả sử dụng vốn, lợi ích môi trường và đóng góp đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Để phát huy những tác động đó, nguồn vốn cho chuyển đổi cần được huy động từ nhiều kênh. Ngân sách và đầu tư công tập trung vào hạ tầng, dịch vụ công và những nhiệm vụ cần vai trò dẫn dắt của Nhà nước; vốn chủ sở hữu thể hiện trách nhiệm và khả năng chia sẻ rủi ro của nhà đầu tư; tín dụng và thị trường vốn đáp ứng các nhu cầu tài trợ phù hợp. Sự kết hợp này giúp phân bổ trách nhiệm hợp lý, giảm sức ép lên hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng tài chính vững chắc hơn cho chuyển đổi. Cùng với hiệu quả kinh tế, cần chú trọng việc làm, thu nhập và cơ hội tham gia của doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, người lao động.
Đổi mới mô hình tăng trưởng chỉ thành hiện thực khi định hướng phát triển được chuyển thành những quyết định đầu tư có chất lượng. Chuyển đổi xanh xác định nhu cầu thay đổi; tín dụng xanh có thể tài trợ cho thay đổi ấy, nhưng không thể thay thế công nghệ phù hợp, quản trị tốt, dữ liệu đáng tin cậy hay thị trường đầu ra. Vì vậy, trọng tâm không phải là mở rộng tín dụng bằng mọi giá, mà là tạo điều kiện để nguồn vốn đến đúng dự án, được sử dụng hiệu quả và tạo ra kết quả kinh tế – môi trường có thể kiểm chứng. Đây là thước đo thực chất của sự gắn kết giữa chuyển đổi xanh và tín dụng xanh.
(Còn nữa)
Tài liệu tham khảo:
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 331.
(2) Vũ Trọng Lâm: "Thúc đẩy chuyển đổi xanh hướng đến phát triển bền vững ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 2-4-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1230302/view_content.
(3) Nguyễn Hồng Thu: "Vai trò của chính sách tín dụng xanh đối với chuyển đổi xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng, ngày 19-12-2024, https://tapchinganhang.gov.vn/vai-tro-cua-chinh-sach-tin-dung-xanh-doi-voi-chuyen-doi-xanh-cua-cac-doanh-nghiep-tai-viet-nam-33.html.
(4) Nguyễn Hồng Thu: "Vai trò của chính sách tín dụng xanh đối với chuyển đổi xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng, ngày 19-12-2024, https://tapchinganhang.gov.vn/vai-tro-cua-chinh-sach-tin-dung-xanh-doi-voi-chuyen-doi-xanh-cua-cac-doanh-nghiep-tai-viet-nam-33.html.
Tin tức khác
Hoàn thiện khung pháp lý về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Định danh điện tử giúp hạn chế gian lận, trục lợi bất động sản
Không để nguồn lực đất đai lãng phí, ngân sách thất thu vì dự án bất động sản “đắp chiếu”
Lời cảm ơn của Ban Tổ chức Tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc - kiến tạo trụ cột an sinh bền vững”
Đại biểu Quốc hội đề nghị cấm chuyển nhượng nhà trên giấy để ngăn đầu cơ, lướt sóng
Bài 2: Quyết sách chiến lược, hành động đột phá, quyết liệt
Gần 44 triệu thửa đất đã kết nối dữ liệu, đáp ứng “đúng, đủ, sạch, sống”
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Ngoại giao trở thành đòn bẩy trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế
Bài 1: Gắn kết định hướng phát triển với nguồn lực thực hiện
Hoàn thiện khung pháp lý về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Định danh điện tử giúp hạn chế gian lận, trục lợi bất động sản
Không để nguồn lực đất đai lãng phí, ngân sách thất thu vì dự án bất động sản “đắp chiếu”
Lời cảm ơn của Ban Tổ chức Tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc - kiến tạo trụ cột an sinh bền vững”
Đại biểu Quốc hội đề nghị cấm chuyển nhượng nhà trên giấy để ngăn đầu cơ, lướt sóng
Bài 2: Quyết sách chiến lược, hành động đột phá, quyết liệt
Gần 44 triệu thửa đất đã kết nối dữ liệu, đáp ứng “đúng, đủ, sạch, sống”
Sản xuất tiên tiến mở đường cho hàng xuất khẩu Việt Nam bứt phá
Metro Bến Thành - Cần Giờ thi công đồng loạt, hướng đến hoàn thành vào cuối năm 2028
TP. Hồ Chí Minh: Định hướng xúc tiến đầu tư vào 5 nhóm lĩnh vực trọng tâm
Bài 3: Kinh tế đêm - khai phá sâu để bứt phá
Bài 3: Khơi thông nguồn lực - Đồng vốn phải thực sự tạo ra giá trị
Kinh tế bạc có những khác biệt đáng kể so với kinh doanh thông thường
10 tháng năm 2026: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD
Thương mại điện tử duy trì đà tăng trưởng cao, doanh số tăng hơn 44%











