eMagazine

Bài 4: “Cộng hưởng” các nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

14:09 | 23/07/2026

Động lực tăng trưởng mới và các cực tăng trưởng chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi cùng với nguồn lực đủ mạnh. Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng không gian phát triển, bài toán hiện nay là khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế, từ đầu tư công, khu vực nhà nước, khu vực tư nhân, FDI đến thị trường vốn, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Muốn duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số trong nhiều năm, Việt Nam không chỉ cần những động lực tăng trưởng mới hay những không gian phát triển mới. Điều kiện tiên quyết là phải có đủ nguồn lực để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển.

Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư cho hạ tầng chiến lược, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực ngày càng lớn, bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm vốn, mà còn phải sử dụng hiệu quả từng đồng vốn, tạo sức lan tỏa để khơi thông mọi nguồn lực của nền kinh tế.

Theo định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân được xác định ở mức khoảng 40% GDP. Đây là tỷ lệ rất cao, phản ánh yêu cầu phải đầu tư đồng thời cho nhiều lĩnh vực nền tảng nhằm tạo dư địa cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong nhiều năm tới.

Trong bức tranh đó, đầu tư công tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Quốc hội đã quyết nghị Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 với tổng mức vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước lên tới 8,22 triệu tỷ đồng - mức cao nhất từ trước đến nay. Nguồn lực này được ưu tiên cho các dự án hạ tầng chiến lược, có tính kết nối liên vùng, liên quốc gia, đồng thời tạo nền tảng cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Tuy nhiên, điểm mới trong tư duy điều hành là đầu tư công không còn được nhìn nhận đơn thuần như một động lực trực tiếp của tăng trưởng. Trong mô hình phát triển mới, đầu tư công phải thực hiện tốt hơn vai trò “mở đường”, dẫn dắt và tạo sức lan tỏa để thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển.

Ông Trần Văn Lâm, đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh cho rằng, trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, vốn nhà nước cần giữ vai trò dẫn dắt, định hướng và tạo “vốn mồi”, chứ không thể thay thế đầu tư của các khu vực khác. Theo ông, đầu tư công cần tập trung vào các dự án hạ tầng trọng điểm, có tính kết nối, mở ra không gian phát triển mới và tạo điều kiện để khu vực tư nhân cũng như các nhà đầu tư khác tham gia mạnh mẽ hơn.

Tư duy đó cũng được thể hiện rõ trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 khi Quốc hội yêu cầu giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với giai đoạn trước, tập trung nguồn lực cho các công trình trọng điểm, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún.

Không chỉ thay đổi cách phân bổ vốn, quản lý đầu tư công cũng đang chuyển từ mục tiêu “giải ngân nhanh” sang “đầu tư hiệu quả”. Bà Phạm Thúy Chinh, đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng cho rằng, cần chuyển mạnh từ tư duy “giải ngân cao” sang “hiệu quả cao”, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội, năng lực hạ tầng được bổ sung và mức độ cải thiện đời sống người dân làm thước đo.

Cùng quan điểm đó, đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị Ly Kiều Vân đề xuất nguyên tắc “ba không”: không đủ điều kiện thì không khởi công; không hiệu quả thì kiên quyết dừng; không xác định rõ trách nhiệm thì không phê duyệt.

Thông điệp được đặt ra rất rõ: Đầu tư công phải thực sự trở thành “vốn mồi”, tạo lực kéo cho các nguồn lực khác cùng tham gia phát triển. Nhưng với quy mô đầu tư công chỉ chiếm khoảng 1/5 tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tăng trưởng 2 con số không thể chỉ dựa vào nguồn lực từ ngân sách nhà nước. Điều đó đặt ra yêu cầu phải khơi thông mạnh mẽ mọi nguồn lực của nền kinh tế.

Đầu tư công chỉ có thể phát huy trọn vẹn vai trò “vốn mồi” khi đi cùng với việc khơi thông và huy động hiệu quả nguồn lực từ kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và khu vực FDI. Mỗi khu vực không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư, mà còn mang đến những nguồn lực về công nghệ, quản trị, đổi mới sáng tạo và khả năng kết nối với chuỗi giá trị toàn cầu, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho nền kinh tế.

Đối với khu vực kinh tế nhà nước, Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ yêu cầu “tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính”. Điều đó đồng nghĩa với việc nguồn lực nhà nước cần tập trung vào các lĩnh vực chiến lược, đầu tư cho hạ tầng, công nghệ và những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác chưa hoặc không thể đầu tư, qua đó tạo sức lan tỏa và thu hút các nguồn lực xã hội cùng tham gia.

Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công (Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội), điểm mới hiện nay là tạo cơ chế để kinh tế nhà nước dẫn dắt, kinh tế tư nhân đồng hành và khu vực FDI tiếp nối, vừa hợp tác vừa cạnh tranh trên một thị trường thống nhất.

Theo ông, doanh nghiệp nhà nước cần tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi, đồng thời mở rộng hợp tác với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI trong các lĩnh vực hạ tầng chiến lược, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và đổi mới sáng tạo. Chính sự kết nối này sẽ giúp khơi thông nguồn lực tài chính, công nghệ và tạo thêm dư địa cho tăng trưởng.

Đối với khu vực kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định đây là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “kích hoạt, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong nhân dân” cho phát triển kinh tế - xã hội. Muốn nguồn lực này được phát huy, điều quan trọng là tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, ổn định và giảm các rào cản để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.

TS. Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho rằng, kinh tế tư nhân chỉ có thể trở thành động lực tăng trưởng khi được tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị và các dự án lớn của nền kinh tế. Vì thế, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có cơ hội tham gia các dự án trọng điểm quốc gia, đồng thời thay đổi cách tiếp cận trong chính sách hỗ trợ doanh nghiệp.

Cùng quan điểm, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hồ Sỹ Hùng nhận định, muốn doanh nghiệp tư nhân trở thành một lực lượng nòng cốt trong đổi mới mô hình phát triển, cần trao cơ hội cho các doanh nghiệp khu vực tư nhân tham gia vào các dự án đầu tư lớn của quốc gia, nhất là liên quan đến các hạ tầng, công nghệ chiến lược, sản phẩm chiến lược. Cùng với đó là khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo thông qua phát triển tín dụng theo chuỗi giá trị, tín dụng xanh, quỹ đầu tư công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm, cơ chế bảo lãnh tín dụng và từng bước thí điểm tín dụng dựa trên tài sản trí tuệ.

Tư duy mới về thu hút đầu tư nước ngoài cũng đã được chỉ rõ. Phát biểu tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Chúng ta không còn đặt câu hỏi làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa, thay vào đó phải trả lời câu hỏi làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế”.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, thu hút đầu tư cần được đánh giá bằng năng suất và chất lượng của dòng vốn, trình độ công nghệ, khả năng đào tạo nguồn nhân lực, mức độ kết nối doanh nghiệp trong nước với chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng tạo ra cho nền kinh tế. Đồng thời, FDI phải được phát triển trong mối quan hệ hợp tác, cạnh tranh lành mạnh với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể để cùng tạo dựng nội lực cho đất nước. 

Có thể thấy, trong mô hình tăng trưởng mới, nguồn lực cho phát triển không còn được nhìn nhận đơn thuần là vốn đầu tư. Đó là sự cộng hưởng của nguồn lực nhà nước với sức sáng tạo của khu vực tư nhân và công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản trị từ khu vực FDI. Khi 3 khu vực kinh tế cùng được phát huy và kết nối hiệu quả, nền kinh tế sẽ có thêm động lực để mở rộng không gian tăng trưởng, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh trong dài hạn.

Quan điểm này đã được Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7 vừa qua. Theo Thủ tướng, doanh nghiệp nhà nước phải phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược; đi đầu trong đầu tư, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng và tạo thị trường cho doanh nghiệp trong nước. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải trở thành doanh nghiệp dẫn dắt thực thụ về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân phải trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; được tạo điều kiện bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, cơ hội đầu tư, đấu thầu và mua sắm công, trong đó có các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp tư nhân lớn, doanh nghiệp công nghệ cao cần phát huy vai trò dẫn dắt, đi đầu trong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cùng với đó, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu thu hút đầu tư nước ngoài phải chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng; gắn ưu đãi đầu tư với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, tỷ lệ nội địa hóa và phát triển doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng.

Khơi thông nguồn lực mới chỉ là điều kiện cần. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong nhiều năm, yêu cầu quan trọng hơn là phải phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đó. Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư ngày càng lớn, việc tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng sẽ khó đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện thuộc nhóm cao trong khu vực (tính đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế tương đương 144% GDP), trong khi dư địa mở rộng tăng trưởng dựa trên vốn đang dần thu hẹp. Điều đó cho thấy nền kinh tế cần phát triển mạnh hơn các kênh huy động vốn trung và dài hạn, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực thay vì chỉ gia tăng quy mô đầu tư.

Cùng quan điểm, ông Trịnh Xuân An, Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai cho rằng, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các định chế tài chính vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu của nền kinh tế. Nếu các “mạch dẫn vốn” phát triển mạnh mẽ hơn nữa, việc huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển sẽ hiệu quả hơn.

Chia sẻ về định hướng phát triển thị trường vốn thời gian tới, ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho rằng, thị trường vốn Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi về chất. Mục tiêu không chỉ là mở rộng quy mô, mà quan trọng hơn là nâng cao tiêu chuẩn thị trường, hoàn thiện hành lang pháp lý, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số và thu hút các dòng vốn trung, dài hạn phục vụ phát triển.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cơ quản quản lý sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện khung pháp lý, phát triển đồng bộ thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đa dạng hóa các sản phẩm và công cụ tài chính, thúc đẩy chiến lược nâng hạng thị trường, đồng thời phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức và các nguồn vốn đầu tư dài hạn. Cùng với đó là cơ cấu lại nguồn cung hàng hóa trên thị trường, khuyến khích doanh nghiệp niêm yết, tăng cường kỷ cương, minh bạch và ứng dụng công nghệ trong giám sát nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả vận hành của thị trường vốn.

Các chuyên gia cho rằng, cùng với việc điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, phát triển đồng bộ thị trường vốn theo hướng minh bạch, hiệu quả, cần tiếp tục mở rộng hợp tác công - tư (PPP); hình thành các quỹ đầu tư, quỹ đổi mới sáng tạo và các định chế tài chính dài hạn. Đồng thời, khai thác hiệu quả các nguồn lực mới từ tài chính xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh và thị trường carbon để đáp ứng yêu cầu đầu tư cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển hạ tầng chiến lược.

Quan trọng hơn, mọi nguồn lực chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được phân bổ đúng địa chỉ và tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng dựa trên mở rộng vốn đang dần thu hẹp, việc tiếp tục gia tăng đầu tư theo chiều rộng sẽ khó tạo ra bước đột phá. Đây cũng là lý do giai đoạn 2026-2030 này hướng tới mục tiêu tiếp tục giảm hệ số ICOR xuống khoảng 4,5-4,8, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tăng trưởng. Bởi nếu để tạo ra cùng một mức tăng trưởng nhưng phải huy động lượng vốn ngày càng lớn, nền kinh tế sẽ đối mặt với áp lực về chi phí vốn và hiệu quả đầu tư suy giảm. Ngược lại, khi hệ số ICOR được cải thiện, mỗi đồng vốn đầu tư sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn, góp phần nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Vì vậy, mục tiêu trong giai đoạn tới không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn phải tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi đồng vốn đầu tư. Điều đó đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng lựa chọn dự án, tăng cường kỷ luật đầu tư công, phát triển thị trường vốn theo chiều sâu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo để nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế.

Trong hành trình hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nguồn lực không chỉ được đo bằng quy mô vốn huy động, mà còn bằng khả năng chuyển hóa thành năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi đầu tư công thực hiện tốt vai trò dẫn dắt, các khu vực kinh tế cùng phát huy nguồn lực và thị trường vốn vận hành hiệu quả, những “dòng chảy” của nền kinh tế sẽ được khơi thông, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.

Nhưng để những nguồn lực đó thực sự tạo thành sức mạnh tổng hợp, điều quan trọng hơn là phải được đặt trong một mô hình tăng trưởng mới với các động lực, trụ cột và cơ chế vận hành phù hợp. Đó cũng là lời giải đang được định hình trên hành trình hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng nhanh và bền vững của Việt Nam.

(Còn tiếp)

Trần Huyền