eMagazine

Bài 1: Không thể tăng tốc trên đại lộ bằng "động cơ" đã tới hạn

10:17 | 20/07/2026

Mục tiêu tăng trưởng cao trong nhiều năm tới đang đặt Việt Nam trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ các động lực của nền kinh tế. Khi những lợi thế truyền thống dần tới hạn và bối cảnh cạnh tranh toàn cầu thay đổi sâu sắc, câu hỏi không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà là tăng trưởng bằng cách nào để bền vững và tạo dựng năng lực cạnh tranh dài hạn.

Loạt bài "KIẾN TẠO ĐỘNG LỰC CHO HÀNH TRÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI" phân tích những vấn đề cốt lõi đang đặt ra trên hành trình đó, từ đổi mới tư duy, xác lập động lực, khơi thông nguồn lực đến định hình mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Sau 40 năm đổi mới, mô hình tăng trưởng dựa trên mở rộng vốn đầu tư, lao động dồi dào, khai thác tài nguyên và hội nhập quốc tế đã tạo nên những bước phát triển mạnh mẽ cho Việt Nam. Nhưng khi mục tiêu vươn tới nhóm nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 được đặt ra, những lợi thế từng làm nên kỳ tích đã đến giới hạn. Muốn đi nhanh hơn trên chặng đường phía trước, Việt Nam không thể tiếp tục vận hành bằng "động cơ" của giai đoạn trước.

Bốn thập niên sau công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đi một chặng đường phát triển đầy ấn tượng. Từ một nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, Việt Nam từng bước vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, quy mô GDP năm vượt 514 tỷ USD, nằm trong nhóm nền kinh tế lớn của ASEAN và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chuỗi sản xuất, thương mại toàn cầu.

Theo ông Lê Trung Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính), thành quả đó gắn liền với mô hình tăng trưởng theo chiều rộng mà hầu hết các quốc gia đều trải qua ở giai đoạn đầu phát triển. Trong điều kiện xuất phát điểm thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ và hạ tầng còn nhiều hạn chế, Việt Nam đã huy động hiệu quả các nguồn lực sẵn có, đẩy mạnh đầu tư, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tận dụng lợi thế lao động dồi dào và mở rộng hội nhập quốc tế. Nhờ đó, nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chính thức bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình từ năm 2008.

Ba động lực chủ yếu của giai đoạn phát triển này là mở rộng đầu tư, thu hút dòng vốn FDI và phát huy lợi thế lao động chi phí thấp. Đây là những động lực đã giúp Việt Nam tạo dựng nền tảng phát triển trong gần 4 thập niên qua, đồng thời mở rộng không gian cho hội nhập và nâng cao vị thế của nền kinh tế.

Những thành tựu ấy không chỉ được đo bằng quy mô nền kinh tế hay tốc độ tăng trưởng, mà còn thể hiện ở sự cải thiện rõ rệt về đời sống nhân dân, sự ổn định kinh tế vĩ mô, năng lực hội nhập quốc tế và vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, càng tiến gần tới mục tiêu phát triển cao hơn, những yêu cầu đặt ra đối với nền kinh tế càng trở nên khắt khe hơn. Nếu mục tiêu của 40 năm đổi mới là thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và vươn lên nhóm nước có thu nhập trung bình, thì giai đoạn tới là hành trình hoàn toàn khác: Đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Mục tiêu này đã được khẳng định rõ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Đó không còn là câu chuyện duy trì tốc độ tăng trưởng của một vài năm hay một nhiệm kỳ. Đó là yêu cầu phải duy trì một quỹ đạo tăng trưởng cao trong thời gian dài, đồng thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Tại cuộc làm việc với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương về xây dựng Nghị quyết của Trung ương về các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới (tháng 3/2026), Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh đây là “quyết tâm chiến lược, là lựa chọn có tính lịch sử” nhằm hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Do đó, Nghị quyết phải được xây dựng với tầm nhìn dài hạn, trở thành "bản thiết kế tổng thể" cho chặng đường phát triển của đất nước trong những thập niên tới. Đồng thời, tăng trưởng phải đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô, chất lượng, tính bao trùm, phát triển bền vững và năng lực tự chủ của nền kinh tế; không đánh đổi môi trường, tiến bộ xã hội hay ổn định để lấy những con số tăng trưởng ngắn hạn.

Thông điệp đó cho thấy, điều Việt Nam đang theo đuổi không đơn thuần là một mục tiêu tăng trưởng cao hơn, mà là tìm kiếm một con đường phát triển đủ sức đưa đất nước bứt phá, tăng trưởng bền vững trong nhiều thập niên tới. Và để làm được điều đó, trước hết cần nhìn thẳng vào thực tế rằng những động lực từng tạo nên thành công trong suốt 4 thập niên qua đã tới giới hạn.

Những thành tựu của 40 năm đổi mới cho thấy mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã phát huy hiệu quả trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Tuy nhiên, khi mục tiêu phát triển được nâng lên, chính những động lực từng tạo nên thành công ấy cũng bắt đầu bộc lộ giới hạn. Điều từng là lợi thế trong giai đoạn trước không còn đủ để tạo nên những bước bứt phá cho giai đoạn tiếp theo.

Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, vị thế quốc tế không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, mô hình phát triển hiện nay bộc lộ nhiều hạn chế. Tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào vốn đầu tư và lao động giá rẻ; năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và mức độ tự chủ công nghệ còn hạn chế.

Thực tế cũng cho thấy dư địa của các động lực truyền thống đang dần thu hẹp. Lợi thế về lao động chi phí thấp không còn lớn như trước khi thu nhập bình quân tăng lên và quá trình già hóa dân số bắt đầu diễn ra. Hiệu quả sử dụng vốn đứng trước yêu cầu phải được nâng cao, trong khi việc tiếp tục mở rộng tăng trưởng chủ yếu bằng cách gia tăng vốn đầu tư hay khai thác các lợi thế sẵn có ngày càng khó tạo ra những đột phá về năng suất và chất lượng tăng trưởng.

TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho biết, giai đoạn 2021-2024, khoảng 61% tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đến từ vốn và lao động, trong khi đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) mới đạt khoảng 39%. Tỷ lệ tín dụng trên GDP cũng thuộc nhóm cao trong khu vực, cho thấy dư địa mở rộng tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn không còn nhiều như trước.

Những con số này phản ánh một thực tế: Nền kinh tế vẫn phụ thuộc khá lớn vào việc mở rộng các yếu tố đầu vào, trong khi các yếu tố tạo nên sức cạnh tranh dài hạn như năng suất, chất lượng thể chế và hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa phát huy tương xứng.

Đó cũng là thách thức mà nhiều quốc gia đang phát triển từng phải đối mặt. Không ít nền kinh tế đã đạt tốc độ tăng trưởng rất cao trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, nhưng sau đó tăng trưởng chậm lại khi những động lực truyền thống dần suy giảm, trong khi các động lực mới chưa kịp hình thành. Đây chính là thách thức mà Việt Nam cần vượt qua nếu muốn hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.

Theo PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy, có những giai đoạn tốc độ tăng trưởng là mục tiêu, nhưng cũng có những giai đoạn điều quan trọng hơn là phải trả lời được câu hỏi tăng trưởng bằng cách nào. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng sau 40 năm đổi mới, nhưng những động lực từng tạo nên thành công ấy sẽ khó tiếp tục đưa đất nước tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

"Câu hỏi quan trọng hiện nay không phải là tăng trưởng bao nhiêu, mà là tăng trưởng bằng cách nào", PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê nhấn mạnh. Đó cũng là câu hỏi về con đường phát triển của Đất nước trong giai đoạn mới.

Nếu như những giới hạn nội tại đang thu hẹp dư địa tăng trưởng của Việt Nam, thì những biến động sâu sắc của kinh tế thế giới lại tạo thêm sức ép phải thay đổi.

Trong nhiều thập niên trước, lợi thế cạnh tranh của một quốc gia chủ yếu được tạo nên từ lao động giá rẻ, nguồn tài nguyên dồi dào, khả năng huy động vốn và mở rộng quy mô sản xuất. Nhưng ngày nay, những yếu tố đó không còn là thước đo duy nhất của năng lực cạnh tranh.

Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), kinh tế toàn cầu đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chậm hơn, năng suất suy giảm và mức độ bất định trong thương mại, đầu tư gia tăng. Dòng vốn đầu tư quốc tế cũng không còn dịch chuyển chủ yếu đến những nơi có chi phí thấp, mà ngày càng ưu tiên các quốc gia có chất lượng thể chế cao, nguồn nhân lực có kỹ năng, hạ tầng hiện đại và khả năng đổi mới sáng tạo.

Giáo sư Merit Janow, Đại học Columbia (Mỹ) cho rằng, thế giới không bước vào thời kỳ "phi toàn cầu hóa" mà đang chuyển sang trạng thái "phân mảnh". Chuỗi cung ứng toàn cầu không biến mất nhưng đang được tái cấu trúc theo những tiêu chí mới, trong đó an ninh kinh tế, chủ quyền công nghệ và khả năng chống chịu trước các cú sốc ngày càng trở thành những yếu tố có tính quyết định.

Những thay đổi đó cho thấy lợi thế của các quốc gia trong giai đoạn tới sẽ không còn được quyết định chủ yếu bởi việc sở hữu nhiều nguồn lực hơn, mà bởi khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực, thích ứng nhanh với những biến động và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh.

Đối với Việt Nam, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng không chỉ xuất phát từ những giới hạn nội tại của nền kinh tế, mà còn từ sự thay đổi của môi trường phát triển toàn cầu. Khi mục tiêu phát triển được nâng lên và "luật chơi" của thế giới cũng đang thay đổi liên tục, khó dự báo, việc tiếp tục dựa chủ yếu vào những động lực của giai đoạn trước sẽ khó tạo ra bước bứt phá cần thiết.

Đó cũng là lý do việc nghiên cứu, xây dựng một mô hình tăng trưởng trở thành yêu cầu chiến lược để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Nhưng mô hình tăng trưởng mới sẽ được kiến tạo từ những động lực nào để tạo nên bước nhảy vọt mới cho nền kinh tế Việt Nam?

(Còn tiếp)

Trần Huyền