eMagazine

Bài 3: Khi cực tăng trưởng được trao cơ chế vượt trội

14:55 | 22/07/2026

Động lực tăng trưởng mới chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong không gian phát triển đủ lớn để thử nghiệm, bứt phá và lan tỏa. Việc Trung ương liên tiếp ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và nhiều địa phương động lực khác không chỉ tạo thêm nguồn lực cho từng địa phương, mà còn kiến tạo những cực tăng trưởng có khả năng dẫn dắt, kết nối và truyền động lực phát triển cho cả nền kinh tế.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những cải cách mang tính đột phá hiếm khi được triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước. Thay vào đó, nhiều quốc gia lựa chọn một số địa bàn có đủ tiềm năng để trao quyền mạnh hơn, thí điểm cơ chế mới, trước khi nhân rộng các mô hình thành công. Chính những địa bàn này đã trở thành đầu tàu tăng trưởng, kéo theo sự phát triển của các vùng và của cả nền kinh tế.

Một trong những ví dụ tiêu biểu phải kể đến Thâm Quyến (Trung Quốc). Sau khi được lựa chọn xây dựng Đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc vào năm 1980, Thâm Quyến được trao quyền tự chủ cao hơn cùng nhiều cơ chế đặc biệt về đầu tư, thương mại và quản lý kinh tế. Từ một làng chài nhỏ nằm sát Hồng Kông, Thâm Quyến đã phát triển thành một trong những trung tâm công nghệ, đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới. Quan trọng hơn, thành công của Thâm Quyến không chỉ tạo động lực tăng trưởng cho địa phương mà còn trở thành "phòng thí nghiệm cải cách", cung cấp thực tiễn để Trung Quốc từng bước mở rộng nhiều chính sách ra phạm vi cả nước.

Cách tiếp cận này cho thấy, trao cơ chế đặc thù không phải là tạo ra những ngoại lệ, mà là thiết lập các "không gian thể chế" để thử nghiệm những chính sách mới, trước khi được đánh giá và nhân rộng khi chứng minh được hiệu quả.

Đối với Việt Nam, yêu cầu duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tới càng đặt ra nhu cầu phải hình thành những cực tăng trưởng đủ mạnh, đủ năng lực dẫn dắt và đủ dư địa để tạo ra những đột phá mới.

Thực tế cho thấy, tư duy này đang ngày càng được thể hiện rõ trong quá trình hoàn thiện thể chế phát triển. Theo ông Hoàng Quốc Khánh, Đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu, hiện có 10 trong tổng số 34 địa phương trên cả nước được áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù theo các nghị quyết của Quốc hội. Những địa phương này chiếm gần 50 triệu dân và đóng góp trên 60% GDP của cả nước. Thực tiễn triển khai cho thấy các cơ chế đặc thù đã góp phần giải phóng nguồn lực, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Điều đó cho thấy việc trao cơ chế đặc thù không còn chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn cho từng địa phương riêng lẻ mà đang từng bước trở thành một hướng tiếp cận quan trọng trong hoàn thiện thể chế phát triển, tạo điều kiện để những địa phương có đủ tiềm năng phát huy vai trò cực tăng trưởng và dẫn dắt nền kinh tế.

Điểm đáng chú ý là các cơ chế mới không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn hay tạo thêm nguồn lực tài chính, mà còn hướng tới trao thêm quyền chủ động cho địa phương trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện.

Nhìn rộng hơn, đây cũng là quá trình kiến tạo những "không gian thể chế" mới cho phát triển. Những địa phương được trao cơ chế vượt trội không chỉ có thêm công cụ để phát triển nhanh hơn, mà còn có điều kiện thử nghiệm những mô hình quản trị, chính sách và phương thức phát triển mới trước khi được hoàn thiện và nhân rộng trên phạm vi cả nước.

Đó cũng là bước chuyển từ tư duy quản lý đồng đều sang tư duy phát triển theo các cực tăng trưởng. Những địa phương có lợi thế nổi trội được trao thêm “động lực” để phát huy tối đa tiềm năng, tạo ra tốc độ phát triển cao hơn và từ đó lan tỏa tới các vùng, miền khác và toàn bộ nền kinh tế.

Định hướng này đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khi phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XVI. Người đứng đầu Đảng, Nhà nước yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý phân tán sang quản trị thống nhất không gian phát triển và nguồn lực quốc gia.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, không gian hành chính không thể giới hạn tư duy phát triển; đất đai, biển, đô thị, hạ tầng, tài nguyên và dữ liệu phải được nhìn trong một chỉnh thể, được tổ chức theo chiến lược quốc gia, lợi thế vùng và hiệu quả tổng thể. Bước chuyển đó nhằm tạo ra không gian phát triển mới, đưa nguồn lực đến nơi sử dụng hiệu quả nhất, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, đồng thời kết nối lợi thế của từng địa phương thành sức mạnh của quốc gia.

Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu việc xem xét các đề án thành lập TP. Quảng Ninh và TP. Bắc Ninh trực thuộc Trung ương phải đặt trong yêu cầu hình thành các cực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực quản trị đô thị và tăng cường liên kết vùng. Việc thay đổi địa vị hành chính không chỉ là điều chỉnh về tổ chức bộ máy mà phải tạo chuyển biến thực chất về năng lực quản trị, hiệu quả huy động nguồn lực và sức lan tỏa phát triển, bảo đảm mỗi đề án đều tạo ra giá trị phát triển mới cho địa phương, cho vùng và cho cả nước.

Nếu nhìn vào các chính sách được Quốc hội ban hành trong thời gian gần đây, có thể thấy một điểm chung rất rõ: Các địa phương không chỉ được trao thêm nguồn lực, mà còn được trao quyền để kiến tạo không gian phát triển mới.

Đó là sự chuyển dịch từ tư duy “xin - cho” về cơ chế sang tư duy phân quyền thực chất, trao quyền chủ động nhiều hơn cho chính quyền địa phương trong quy hoạch, đầu tư, huy động nguồn lực, phát triển hạ tầng và tổ chức thực hiện. Khi có đủ quyền chủ động, các địa phương có điều kiện thử nghiệm những mô hình quản trị mới, thu hút các ngành kinh tế mới và hình thành những cực tăng trưởng có sức lan tỏa đối với cả vùng và cả nước.

Tại Hà Nội, Luật Thủ đô (sửa đổi) trao cho chính quyền Thành phố 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội, tạo cơ sở pháp lý để Thủ đô chủ động hơn trong quy hoạch, phát triển không gian đô thị, huy động nguồn lực, liên kết vùng và triển khai nhiều cơ chế mới theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Đối với TP. Hồ Chí Minh, hàng loạt cơ chế mới đang được triển khai như phát triển đô thị theo mô hình TOD, xây dựng khu thương mại tự do, thu hút nhà đầu tư chiến lược, đẩy mạnh phân cấp trong quy hoạch và từng bước hình thành trung tâm tài chính quốc tế. Những chính sách này đều hướng tới xây dựng các động lực tăng trưởng mới dựa trên đổi mới sáng tạo, tài chính hiện đại và kết nối quốc tế.

Định hướng trao quyền đang được nâng lên một bước mới thông qua Dự thảo Luật Phát triển đô thị (trước đây là Luật Đô thị đặc biệt), dự kiến trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất tới đây (tháng 8/2026). Dự thảo Luật hướng tới xây dựng một khung thể chế có tính ổn định và lâu dài dành cho các đô thị đặc biệt và khu kinh tế đặc biệt, tạo nền tảng pháp lý cho những mô hình phát triển mới.

Trong đó, TP. Hồ Chí Minh và các đô thị đặc biệt sẽ được áp dụng hệ thống cơ chế vượt trội về tổ chức chính quyền, quy hoạch, phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, huy động nguồn lực và liên kết vùng. TP. Hà Nội ngoài việc áp dụng quy định tại Luật Thủ đô, Hội đồng nhân dân TP. Hà Nội có quyền quyết định việc áp dụng quy định tại Luật này trừ quy định về khu kinh tế đặc biệt. TP. Đồng Nai và thành phố khác chưa được công nhận là đô thị đặc biệt cũng được áp dụng một số cơ chế, chính sách theo quy định của Chính phủ trong trường hợp có chủ trương của cấp có thẩm quyền, phù hợp với điều kiện đặc thù, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng thành phố.

Một trong những điểm đáng chú ý là dự thảo trao quyền tự chủ cao hơn cho chính quyền đô thị. Hội đồng nhân dân thành phố được quyết định biên chế trong phạm vi không vượt quá 20% số biên chế Trung ương giao, được ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật khác với quy định hiện hành để tháo gỡ các vướng mắc từ thực tiễn và thí điểm những mô hình mới. Trong lĩnh vực quy hoạch, Thành phố được trao quyền quản lý và khai thác không gian ngầm, không gian trên cao; phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Về phát triển kinh tế, dự thảo bổ sung hàng loạt cơ chế mới như khu thương mại tự do, kinh tế đêm, logistics tích hợp, áp dụng linh hoạt phương thức đối tác công - tư (PPP), tạo điều kiện hình thành các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm, dự thảo Luật hướng tới xây dựng khung thể chế đủ mạnh cho các đô thị lớn, bảo đảm phân cấp, phân quyền thực chất để địa phương chủ động trong tổ chức thực hiện. Đối với khu kinh tế đặc biệt, ông nhấn mạnh đây sẽ là cực tăng trưởng mới nhưng hiện pháp luật Việt Nam chưa có quy định đầy đủ.

PGS.TS. Phan Thanh Bình, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (nay là Ủy ban Văn hóa và Xã hội) khóa XIV nhận định, đây không phải luật phát triển đô thị thông thường, mà là một đạo luật kiến tạo các đô thị đặc biệt nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia; tạo điều kiện để các đô thị này phát triển và dẫn dắt. 

TS. Trần Du Lịch, chuyên gia kinh tế, nguyên Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh khóa XIII cho rằng, đây là lần đầu tiên TP. Hồ Chí Minh có cơ hội được phân cấp, phân quyền một cách hệ thống trên hầu hết các lĩnh vực. Một thể chế đủ thông thoáng sẽ giúp Thành phố nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng không gian phát triển và phát huy vai trò đầu tàu của nền kinh tế.

Theo TS. Trần Du Lịch, thay vì quy định quá chi tiết địa phương được làm gì, pháp luật nên chuyển sang cách tiếp cận “địa phương được chủ động thực hiện, trừ những nội dung thuộc thẩm quyền Trung ương”, qua đó tạo môi trường thuận lợi hơn cho đổi mới sáng tạo và phát triển.

Có thể thấy, điểm chung của các cơ chế vượt trội là không chỉ tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” trước mắt, mà còn hướng tới kiến tạo các không gian phát triển mới cho những lĩnh vực dẫn dắt mô hình tăng trưởng mới như đổi mới sáng tạo, kinh tế số, logistics hiện đại, tài chính quốc tế, công nghệ cao, bán dẫn, R&D và kinh tế xanh. Đây sẽ là những không gian để công nghệ mới được thử nghiệm, mô hình quản trị mới được áp dụng và các động lực tăng trưởng mới được hình thành, lan tỏa.

Định hướng này cũng được Chính phủ thể hiện rõ trong quá trình xây dựng các chính sách mới. Đối với mô hình khu thương mại tự do, Chính phủ chủ trương thiết kế các cơ chế có tính tương đồng giữa TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng và TP. Hải Phòng nhằm hình thành mạng lưới các cực tăng trưởng có sự liên kết, bổ trợ lẫn nhau, từ đó tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ cho toàn bộ nền kinh tế.

Đây cũng là cách tiếp cận đã được nhiều quốc gia áp dụng thành công. Từ Thâm Quyến của Trung Quốc đến các đặc khu kinh tế của Hàn Quốc hay Singapore, các vùng động lực đều trở thành nơi “mở đường” cho những chính sách mới trước khi được nhân rộng trên quy mô quốc gia.

Cũng trong việc thiết lập các cực tăng trường mới, Quốc hội đã thông qua Đồng Nai lên thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 30/4/2026, với kỳ vọng trở thành hình mẫu tiên phong trong lĩnh vực sản xuất chế tạo xanh, phát triển công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hiện đại, đồng thời giữ vai trò cửa ngõ logistics mang tầm quốc tế của khu vực phía Nam. Ban Chấp hành Trung ương cũng thống nhất chủ trương thành lập TP. Quảng Ninh trực thuộc Trung ương với định hướng phát triển thành đô thị xanh, hiện đại, lấy khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế biển và kinh tế xanh làm động lực tăng trưởng. Còn Bắc Ninh hướng tới trở thành trung tâm công nghiệp điện tử, bán dẫn, vi mạch và trí tuệ nhân tạo hàng đầu cả nước.

Điều quan trọng nhất của việc trao cơ chế vượt trội không phải là tạo ra những địa phương phát triển nhanh hơn một cách đơn lẻ, mà là tạo ra những đầu tàu có khả năng dẫn dắt và lan tỏa.

Các cực tăng trưởng phải trở thành nơi hội tụ nguồn lực, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời tạo ra các chuỗi liên kết với những địa phương khác để mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế.

Trong mô hình tăng trưởng mới, vai trò của các cực tăng trưởng không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô GRDP, mà còn bằng khả năng tạo ra các không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và lan tỏa kinh nghiệm cải cách tới các địa phương khác.

Nói cách khác, mục tiêu cuối cùng không phải là tạo thêm những “địa phương đặc biệt”, mà là kiến tạo những “đầu tàu phát triển” có thể kéo cả đoàn tàu kinh tế đi nhanh hơn.

Tinh thần này được thể hiện rất rõ trong Luật Thủ đô (sửa đổi). Luật dành riêng 1 chương quy định về liên kết và phát triển vùng, xác lập Hà Nội là hạt nhân kết nối, cực tăng trưởng của vùng Thủ đô, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc, đồng thời là một cực tăng trưởng của cả nước.

Quan trọng hơn, Luật không chỉ dừng ở việc xác định vai trò của Hà Nội, mà còn thiết kế những cơ chế cụ thể để hiện thực hóa vai trò đó. Thành phố được ưu tiên bố trí nguồn lực cho các dự án liên kết vùng; ưu tiên sử dụng nguồn tăng thu ngân sách trung ương để đầu tư các công trình liên vùng; cho phép thành lập Quỹ Phát triển vùng Thủ đô nhằm huy động và điều phối nguồn lực cho các dự án hạ tầng giao thông, xử lý ô nhiễm môi trường, cấp nước, kiểm soát dịch bệnh và các công trình có tính chất liên vùng.

Một điểm rất mới là các địa phương trong vùng Thủ đô được phép sử dụng ngân sách của mình để đầu tư trực tiếp các dự án nằm trên địa bàn địa phương khác nếu phục vụ lợi ích chung của toàn vùng. Đây là bước chuyển đáng kể từ tư duy phát triển theo địa giới hành chính sang tư duy phát triển theo không gian kinh tế, nơi lợi ích của vùng được đặt lên trên lợi ích của từng địa phương.

Tư duy này cũng đang được mở rộng trong Dự thảo Luật Phát triển đô thị. Dự thảo không chỉ trao quyền mạnh hơn cho các đô thị đặc biệt, mà còn xây dựng cơ chế điều phối các dự án liên kết vùng theo hướng rõ trách nhiệm, rõ đầu mối và đồng bộ về nguồn lực. Theo đó, các địa phương tham gia dự án sẽ thống nhất giao một địa phương làm cơ quan chủ quản; ngân sách trung ương và địa phương được ưu tiên bố trí cho các dự án có tính chất liên kết; đồng thời dự kiến thành lập Quỹ Phát triển vùng đô thị đặc biệt để huy động nguồn lực đầu tư cho các công trình hạ tầng chiến lược và giải quyết các vấn đề liên vùng.

Theo PGS.TS. Phan Thanh Bình, một “đô thị đặc biệt” cần được xác định 4 yếu tố trong nội hàm: Là cực tăng trưởng quốc gia, trung tâm đổi mới sáng tạo, đầu tàu phát triển của vùng và trung tâm hội nhập quốc tế. Vì vậy, điều cốt lõi của các cơ chế vượt trội không phải là tạo ra những ưu đãi riêng lẻ, mà là xây dựng một hệ thống thể chế đủ mạnh để các đô thị này phát huy vai trò dẫn dắt, tạo động lực cho cả nền kinh tế.

Từ góc độ phát triển, việc đặt các cực tăng trưởng trong mối liên kết vùng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trên thực tế, không một đô thị lớn nào có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao nếu chỉ dựa vào nguồn lực trong phạm vi địa giới hành chính của mình. Nguồn lao động, chuỗi cung ứng, hạ tầng giao thông, logistics, thị trường tiêu dùng hay hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đều có tính liên kết và vượt ra ngoài ranh giới của một địa phương. Vì vậy, khi các cơ chế mới tạo điều kiện để nguồn lực, dòng vốn, nhân lực và các dự án hạ tầng được kết nối trên quy mô vùng, hiệu quả phát triển sẽ không chỉ dừng lại ở một trung tâm, mà còn lan tỏa sang các địa phương lân cận, hình thành những chuỗi giá trị và không gian kinh tế rộng lớn hơn.

Đây cũng là điểm khác biệt của tư duy phát triển mới. Nếu trước đây, các địa phương chủ yếu cạnh tranh để thu hút nguồn lực về mình, thì nay, mục tiêu là tạo ra các cực tăng trưởng có khả năng kết nối và chia sẻ nguồn lực với cả vùng. Một tuyến đường vành đai, một cảng biển quốc tế, một trung tâm logistics hay một khu đổi mới sáng tạo không chỉ phục vụ địa phương nơi công trình được xây dựng, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn vùng kinh tế. Chính sự cộng hưởng đó mới tạo nên sức lan tỏa đủ lớn để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững của cả nước.

Cùng với việc trao thêm quyền, Trung ương cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về trách nhiệm.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 3 nguyên tắc quan trọng: Được trao quyền cao hơn thì phải chịu trách nhiệm cao hơn; có cơ chế đặc thù thì phải tạo ra kết quả vượt trội; đã được thí điểm trước thì phải đi đầu về kỷ cương, hiệu quả. Phân quyền phải thực chất, giao quyền phải gắn với trách nhiệm và việc thí điểm phải kiểm soát được rủi ro.

Thông điệp đó khẳng định cơ chế đặc thù không phải là đặc quyền, mà là công cụ để các địa phương phát huy tối đa tiềm năng, tạo ra những giá trị mới và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển chung của đất nước.

Nếu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “động cơ” của mô hình tăng trưởng mới, thì các cực tăng trưởng cùng những cơ chế vượt trội chính là “không gian” để động cơ ấy vận hành hiệu quả trong thực tiễn. Chính tại những không gian đó, các ý tưởng mới có cơ hội được thử nghiệm, các nguồn lực mới được huy động và các động lực tăng trưởng mới được hình thành, trước khi lan tỏa ra toàn bộ nền kinh tế.

Nhưng để các cực tăng trưởng thực sự phát huy vai trò dẫn dắt, một bài toán lớn khác cũng đang được đặt ra: Làm thế nào để huy động đủ nguồn lực cho nhu cầu đầu tư rất lớn của nền kinh tế trong giai đoạn tăng trưởng cao? Đây cũng sẽ là mắt xích tiếp theo trong hành trình kiến tạo mô hình phát triển mới của Việt Nam.

(Còn nữa)

Trần Huyền