eMagazine

Bài cuối: Từ đổi mới mô hình tăng trưởng đến định hình mô hình phát triển mới

15:22 | 30/07/2026

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành ngày 28/7 và được quán triệt tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 sáng 29/7 lần đầu tiên định hình đầy đủ mô hình phát triển mà Việt Nam sẽ theo đuổi trong giai đoạn mới: Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Trong mô hình tổng thể ấy, xác lập mô hình tăng trưởng mới là nội dung cốt lõi của lĩnh vực kinh tế, tạo nền tảng cho hành trình phát triển nhanh, bền vững của Đất nước.

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, khi mục tiêu không chỉ dừng ở việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong một vài năm, mà hướng tới xây dựng nền tảng để phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà còn phải đổi mới mô hình tăng trưởng và rộng hơn là định hình một mô hình phát triển phù hợp với bối cảnh mới.

Sau 4 thập niên đổi mới, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư, khai thác lợi thế lao động, tài nguyên và hội nhập quốc tế đã tạo nên những thành tựu quan trọng, đưa Việt Nam từ một nền kinh tế có thu nhập thấp vươn lên nhóm nước có thu nhập trung bình cao và trở thành một trong những nền kinh tế có quy mô lớn trong khu vực.

Tuy nhiên, những lợi thế này ngày càng thu hẹp. Nguồn lao động giá rẻ không còn là lợi thế bền vững; dư địa mở rộng đầu tư và khai thác tài nguyên ngày càng hạn chế; trong khi năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế và khả năng thích ứng trước các biến động toàn cầu đang trở thành những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và những biến động ngày càng phức tạp của kinh tế, chính trị thế giới, yêu cầu xây dựng một mô hình phát triển phù hợp với bối cảnh mới trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Sự chuyển dịch đó không chỉ xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn phát triển, mà còn được định hướng từ những quan điểm chỉ đạo của Đảng. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu Nghị quyết phải thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đột phá, khát vọng dân tộc và ý chí hành động mạnh mẽ; trở thành nghị quyết “mở đường”, tạo khuôn khổ để Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tâm thế tự tin, bản lĩnh, sáng tạo và trách nhiệm, đồng thời bảo đảm sự phát triển liên tục, trường tồn của quốc gia và nâng cao năng lực thích ứng trước những biến động của thời đại. 

Định hướng đó được cụ thể hóa tại Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV khi Trung ương ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm tạo thêm động lực cho nền kinh tế, thì Nghị quyết lần này mở rộng phạm vi sang định hình một mô hình phát triển tổng thể. Không chỉ trả lời câu hỏi làm thế nào để tăng trưởng nhanh hơn, Nghị quyết còn đặt ra yêu cầu đổi mới đồng thời thể chế, phương thức quản trị quốc gia và cơ chế vận hành của nền kinh tế trong một chỉnh thể thống nhất. Đổi mới mô hình phát triển được xác định gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển - một nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa lịch sử đối với chặng đường phát triển của Đất nước.

Điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 19-NQ/TW là cách tiếp cận đồng bộ, toàn diện, gắn kết chặt chẽ các trụ cột phát triển thành một thể thống nhất. Trong đó, đổi mới thể chế và quản trị quốc gia được xác định là khâu đột phá; quản trị chuyển từ cách tiếp cận theo ngành, lĩnh vực sang quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển và dựa trên dữ liệu; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo. Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu không chỉ tạo thêm động lực tăng trưởng, mà còn nâng cao năng lực kiến tạo, điều hành và tổ chức phát triển của quốc gia.

Có thể nói, đổi mới mô hình tăng trưởng là một “hợp phần” trong bức tranh lớn hơn mà Nghị quyết số 19-NQ/TW định hình. Các nhóm giải pháp về kinh tế được đặt trong mối liên kết với đổi mới thể chế, quản trị quốc gia và xây dựng hệ sinh thái phát triển, qua đó tạo nền tảng để chuyển từ tư duy phát triển dựa chủ yếu vào mở rộng các yếu tố đầu vào sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và hiệu quả quản trị. Đây cũng là bước chuyển quan trọng, tạo tiền đề để Việt Nam hướng tới một mô hình phát triển mới trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Nếu mô hình phát triển mới xác lập tầm nhìn và triết lý phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới, thì mô hình tăng trưởng mới chính là nền tảng kinh tế để hiện thực hóa mục tiêu đó. Điểm cốt lõi không nằm ở việc bổ sung thêm động lực tăng trưởng, mà là tái cấu trúc toàn bộ cách thức tạo ra tăng trưởng. Từ mô hình dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, nền kinh tế được định hướng chuyển sang phát triển dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba, khóa XIV diễn ra vào sáng ngày 29/7, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, trong mô hình phát triển mới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo được xác định là động lực chính; nâng cao năng suất lao động và hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm của quá trình phát triển.

Theo ThS. Phạm Thành Công, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, trong giai đoạn phát triển mới, mục tiêu tăng trưởng cao không còn dựa chủ yếu vào mở rộng vốn và lao động như trước, mà phụ thuộc vào khả năng chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này không thể diễn ra một cách tự phát hay dựa trên các chính sách đơn lẻ, mà cần được đặt trong một hệ sinh thái chính sách tích hợp, nơi các chính sách về khoa học - công nghệ, công nghiệp, giáo dục, tài chính và phát triển doanh nghiệp được thiết kế đồng bộ để tạo hiệu ứng cộng hưởng. Theo chuyên gia này, nền tảng của mô hình này được hình thành từ năng lực tạo ra tri thức, khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế, sự phát triển của thị trường vốn cho đổi mới sáng tạo và năng lực kiến tạo, điều phối của Nhà nước.

Định hướng này cũng được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 19-NQ/TW khi yêu cầu đổi mới mạnh mẽ liên kết giữa nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; lấy nhu cầu phát triển và doanh nghiệp làm trung tâm; phát triển đồng bộ các nền tảng chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ và tài chính; đồng thời thể chế hóa cơ chế liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học để nhanh chóng đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh, hình thành các sản phẩm, doanh nghiệp và ngành kinh tế mới.

Theo nhận định của PGS.TS. Lê Trung Thành, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được xác lập là nền tảng cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới. Để những động lực đó thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam phải đồng thời cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có tính kết nối giữa Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Chỉ khi nghiên cứu khoa học gắn chặt với nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp, tri thức mới có thể chuyển hóa thành công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Một trụ cột quan trọng khác của mô hình tăng trưởng mới là đổi mới căn bản cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia. Nghị quyết yêu cầu chuyển từ tư duy phân bổ sang tư duy kiến tạo, lấy hiệu quả và tác động phát triển làm thước đo trong phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực xã hội; đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, kích hoạt đầu tư xã hội, trong khi các nguồn lực tồn đọng cần được khơi thông và chuyển hóa thành động lực phát triển. Việc phân bổ nguồn lực cũng phải ưu tiên cho những lĩnh vực có năng suất, giá trị gia tăng và sức lan tỏa cao.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2026-2030, trong đó khu vực tư nhân phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 65% tổng nhu cầu vốn. Điều đó cho thấy bài toán của giai đoạn tới không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn.

Theo TS. Cấn Văn Lực, trong bối cảnh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, trong khi thị trường vốn vẫn còn nhiều dư địa phát triển, yêu cầu đặt ra là phải tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng cân bằng hơn giữa tín dụng và thị trường vốn, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư công và chất lượng thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Quan trọng hơn, việc phân bổ và sử dụng nguồn lực phải gắn với cải cách thể chế, minh bạch thông tin, kỷ luật thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường.

Bên cạnh việc hình thành các động lực tăng trưởng mới và đổi mới cơ chế huy động nguồn lực, Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển theo hướng hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm đổi mới sáng tạo, hành lang kinh tế, trung tâm logistics và hệ thống hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại. Đây là điều kiện để các động lực mới lan tỏa giữa các vùng, tăng cường liên kết vùng, liên kết ngành và mở rộng dư địa phát triển cho nền kinh tế trong dài hạn.

Có thể thấy, mô hình tăng trưởng mới không chỉ thay đổi các động lực kinh tế, mà còn tái cấu trúc toàn bộ nền tảng tạo ra tăng trưởng. Trong mô hình đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo ra động lực; thể chế và thị trường bảo đảm nguồn lực được huy động, phân bổ hiệu quả; doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo, điều phối và dẫn dắt; còn việc tổ chức lại không gian phát triển tạo điều kiện để các động lực mới lan tỏa trên phạm vi cả nước. Chính sự kết nối giữa các trụ cột này sẽ hình thành năng lực phát triển mới, giúp nền kinh tế chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào các yếu tố đầu vào sang tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức và giá trị gia tăng, đúng với tinh thần của Nghị quyết số 19-NQ/TW.

Nếu mô hình tăng trưởng mới trả lời câu hỏi làm thế nào để tạo ra của cải, thì mô hình phát triển mới trả lời câu hỏi quan trọng hơn: Những thành quả đó sẽ được tạo ra, phân bổ và thụ hưởng theo cách nào để bảo đảm sự phát triển lâu dài của quốc gia.

Làm rõ bản chất và nội hàm của môi hình phát triển này, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, mô hình phát triển mới của Việt Nam là mô hình tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người làm chủ thể, trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển; lấy nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt. Đồng thời, phát triển phải gắn với củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường đối ngoại; phát triển để ổn định và ổn định để phát triển, bảo đảm phát triển nhanh nhưng bền vững, bao trùm.

Quan điểm này cho thấy, tăng trưởng kinh tế giữ vai trò nền tảng, nhưng phải trở thành động lực để nâng cao chất lượng phát triển quốc gia và chất lượng cuộc sống của người dân.

Điểm mới của mô hình phát triển lần này còn nằm ở cách nhìn về sức mạnh quốc gia. Nếu trước đây năng lực phát triển thường được đánh giá chủ yếu qua quy mô GDP, tốc độ tăng trưởng hay khả năng huy động nguồn lực, thì nay, khái niệm đó được mở rộng sang năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro. Một nền kinh tế chỉ thực sự phát triển khi không chỉ tăng trưởng nhanh, mà còn đủ khả năng duy trì ổn định, ứng phó với biến động và bảo đảm sự phát triển liên tục trong dài hạn.

Đi cùng với đó là sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với các nguồn lực phát triển. Thay vì chỉ tập trung khai thác lợi thế sẵn có, mô hình mới hướng tới phát huy đồng thời mọi tiềm năng, lợi thế và sức mạnh của quốc gia; kết nối hiệu quả nguồn lực nhà nước với khu vực tư nhân, doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nguồn lực trong nước với nguồn lực quốc tế để tạo nên sức mạnh tổng hợp cho nền kinh tế. Mục tiêu không chỉ là tạo ra nhiều nguồn lực hơn, mà còn hình thành năng lực phát triển nội sinh đủ mạnh để Đất nước có thể chủ động trước những thay đổi của môi trường quốc tế.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển. Lấy nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, làm động lực. Khoa học công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực chủ yếu. Tăng trưởng phải được tạo ra từ từng ngành, địa bàn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động để mọi chủ thể có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng”.

Thông điệp đó cũng thể hiện yêu cầu xuyên suốt của giai đoạn phát triển mới: Tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra năng lực phát triển lâu dài cho quốc gia và mang lại cơ hội phát triển cho mọi người dân. Một nền kinh tế không chỉ cần tạo ra nhiều của cải hơn, mà còn phải tổ chức, phân bổ và chuyển hóa những thành quả đó thành sức mạnh nội sinh, chất lượng sống và khả năng thích ứng trước những biến động của thời đại.

Nhìn tổng thể, từ đổi mới thể chế, quản trị quốc gia, xác lập các động lực tăng trưởng mới, tổ chức lại không gian phát triển, khơi thông và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đến xây dựng hệ sinh thái phát triển…, tất cả đều hướng tới mục tiêu tạo dựng năng lực phát triển mới cho quốc gia. Khi các trụ cột ấy được kết nối trong một chỉnh thể thống nhất, tăng trưởng cao sẽ song hành với phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sống của người dân, củng cố sức mạnh nội sinh và vị thế quốc gia. Đó cũng là nền tảng để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 và tạo tiền đề cho tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2130.

Trần Huyền