Triển vọng tăng trưởng kinh tế TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030: Động lực, điểm nghẽn và giải pháp đột phá tăng trưởng 2 con số
ThS.Bùi Duy Hoàng
Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
Email: [email protected]
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc hợp nhất TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội tạo ra không gian phát triển kinh tế mới với quy mô lớn hơn, mở rộng liên kết giữa trung tâm dịch vụ - tài chính, các trung tâm công nghiệp, cảng biển và kinh tế biển (Quốc hội, 2025).
Tuy nhiên, mở rộng không gian phát triển không đồng nghĩa với tăng trưởng tự động nhanh hơn; quy mô nguồn lực chỉ trở thành động lực khi được phân bổ và sử dụng hiệu quả. Định hướng phát triển giai đoạn mới của Việt Nam nhấn mạnh nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và liên kết chuỗi giá trị trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng (World Bank, 2024).
Trong bối cảnh đó, mục tiêu tăng trưởng 2 con số đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh. Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16/4/2026 của Chính phủ xác định mục tiêu này gắn với mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực (Chính phủ, 2026), đòi hỏi TP. Hồ Chí Minh cơ cấu lại các ngành và phát triển ngành giá trị gia tăng cao.
Từ góc độ này, nghiên cứu trả lời 3 câu hỏi: (i) chất lượng tăng trưởng hiện nay của TP. Hồ Chí Minh; (ii) đâu là động lực và điểm nghẽn quyết định khả năng tăng trưởng cao; (iii) cần cơ cấu lại nền kinh tế và khơi thông nguồn lực thế nào để đạt mục tiêu 2 con số đến năm 2030?
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Theo Lý thuyết tăng trưởng, sản lượng phụ thuộc vào vốn, lao động, công nghệ và năng suất; trong dài hạn, tiến bộ công nghệ, vốn con người và hiệu quả phân bổ nguồn lực giữ vai trò quyết định (Égert và Gal, 2017). Do đó, yêu cầu tăng trưởng cao của TP. Hồ Chí Minh đòi hỏi nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Nghiên cứu xây dựng khung phân tích theo chuỗi quy mô → tốc độ → cơ cấu → năng suất → vốn →
doanh nghiệp → động lực và điểm nghẽn → kịch bản tăng trưởng nhằm đánh giá nền tảng tăng trưởng hiện tại và nhận diện dư địa nguồn lực để cơ cấu lại và khơi thông nguồn lực.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích xu hướng, so sánh với vùng Đông Nam Bộ và cả nước, phân tích đóng góp của các khu vực kinh tế, kết hợp đánh giá năng suất lao động, hiệu quả đầu tư và năng lực doanh nghiệp. Chuỗi số liệu 2015- 2025 dùng để nhận diện xu hướng trước, trong và sau COVID-19, làm cơ sở xây dựng ba kịch bản đến năm 2030: thận trọng, cơ sở và tăng trưởng cao.
PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN
Quy mô và tốc độ tăng trưởng
Theo Cục Thống kê (2026) và Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2026), giai đoạn 2015-2025, kinh tế TP. Hồ Chí Minh duy trì vị thế một trong những cực tăng trưởng lớn của Việt Nam. Năm 2025, GRDP đạt 2.972.937 tỷ đồng theo giá hiện hành; tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 6,22%/năm, cao hơn mức 4,86%/năm của giai đoạn 2016-2020.
Tuy nhiên, mức tăng trưởng này vẫn thấp hơn mức 7,98% của vùng Đông Nam Bộ và 8,02% của cả nước (Cục Thống kê, 2026). Sự chênh lệch cho thấy lợi thế về quy mô thị trường, doanh nghiệp, vốn và hạ tầng chưa được chuyển hóa tương xứng thành tốc độ tăng trưởng; vấn đề của TP. Hồ Chí Minh là nâng cao khả năng chuyển hóa nguồn lực thành năng suất và giá trị gia tăng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế TP. Hồ Chí Minh tiếp tục chuyển dịch theo hướng dịch vụ hóa. Năm 2025, dịch vụ chiếm 51,4% GRDP, công nghiệp và xây dựng 36,4%; tỷ trọng dịch vụ tăng từ 43,6% năm 2015 lên 51,4% năm 2025, còn công nghiệp và xây dựng giảm từ 44,2% xuống 36,4% (Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Tuy nhiên, tăng tỷ trọng dịch vụ chưa đồng nghĩa với nâng cao chất lượng tăng trưởng; vấn đề quyết định là dịch vụ phát triển dựa trên những ngành nào và mức giá trị gia tăng, năng suất ra sao. Nghiên cứu của Eichengreen và Gupta (2013) cho thấy các dịch vụ có hàm lượng kỹ năng và công nghệ cao ngày càng giữ vai trò lớn.
Đối với TP. Hồ Chí Minh, các lĩnh vực như tài chính - ngân hàng, công nghệ thông tin, logistics, dịch vụ chuyên môn và khoa học - công nghệ có khả năng trở thành động lực quan trọng nếu được phát triển theo chiều sâu (Bộ Chính trị, 2022).
Đối với công nghiệp, việc giảm tỷ trọng một phần là kết quả của dịch vụ tăng nhanh hơn. Tuy nhiên, nếu đi kèm tốc độ tăng trưởng thấp và chưa chuyển dịch đủ mạnh sang công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ, đây có thể trở thành điểm nghẽn đối với mục tiêu tăng trưởng nhanh, bởi công nghiệp còn giữ vai trò quan trọng trong tạo liên kết với logistics và xuất khẩu.
GRDP bình quân đầu người và mật độ kinh tế
Năm 2025, GRDP bình quân đầu người của TP. Hồ Chí Minh đạt khoảng 215,37 triệu đồng/người theo giá hiện hành, cao nhất vùng Đông Nam Bộ; theo giá so sánh, chỉ tiêu này tăng bình quân 4,52%/năm giai đoạn 2021-2025, cao hơn mức 2,26%/năm của giai đoạn trước đó (Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Tuy nhiên, chỉ tiêu này cao không đồng nghĩa với tăng trưởng tương lai tự động cao; khả năng duy trì tăng trưởng phụ thuộc ngày càng lớn vào năng suất và hiệu quả phân bổ nguồn lực (Égert và Gal, 2017).
Bên cạnh đó, mật độ kinh tế của Thành phố năm 2025 đạt khoảng 438 tỷ đồng/km², cao hơn nhiều lần bình quân cả nước. Mật độ kinh tế cao tạo lợi thế về tập trung thị trường, kết nối doanh nghiệp và hình thành các cụm ngành.
Vì vậy, vấn đề không chỉ là gia tăng mật độ mà phải tổ chức lại không gian phát triển và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Việc mở rộng không gian kinh tế tạo cơ hội phân bổ lại các chức năng sản xuất, logistics và dịch vụ, giảm áp lực tập trung.
Chất lượng tăng trưởng: năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn
Năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn là những chỉ báo quan trọng để đánh giá khả năng chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu. Năm 2025, năng suất lao động của TP. Hồ Chí Minh đạt khoảng 396,99 triệu đồng/lao động theo giá hiện hành, cao 1,62 lần bình quân cả nước (Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Đây là lợi thế lớn, phản ánh sự tập trung cao về vốn, doanh nghiệp, hạ tầng và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, tốc độ tăng năng suất mới là vấn đề quyết định: giai đoạn 2021-2025, năng suất lao động theo giá so sánh chỉ tăng bình quân 2,80%/năm (Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Như vậy, TP. Hồ Chí Minh có mức năng suất cao nhưng tốc độ cải thiện chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng cao; nếu xu hướng này kéo dài, Thành phố sẽ phải dựa nhiều hơn vào mở rộng vốn và lao động trong khi dư địa các yếu tố đầu vào ngày càng hạn chế (Égert và Gal, 2017).
Do đó, nâng năng suất cần trở thành trọng tâm của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung vào chuyển dịch lao động sang ngành năng suất cao, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ và cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực (Bộ Chính trị, 2022).
Ở chiều ngược lại, hiệu quả sử dụng vốn đã cải thiện rõ rệt: hệ số ICOR bình quân giai đoạn 2021-2025 khoảng 4,08, thấp hơn đáng kể mức 6,59 của giai đoạn 2016-2020, tạo điều kiện huy động nguồn lực cho hạ tầng, logistics, đô thị và các không gian phát triển mới.
Tuy nhiên, cải thiện ICOR chưa đủ để tạo bước chuyển về tốc độ tăng trưởng nếu năng suất lao động vẫn tăng chậm; TP. Hồ Chí Minh cần chuyển sang nâng cao hiệu quả đầu tư kết hợp tăng năng suất.
Sức khỏe và năng lực của khu vực doanh nghiệp
Khu vực doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp huy động vốn, sử dụng lao động, tổ chức sản xuất và tạo giá trị gia tăng. TP. Hồ Chí Minh có lợi thế nổi bật về quy mô hệ sinh thái doanh nghiệp: số doanh nghiệp hoạt động tăng từ 229.016 (2017) lên 298.303 (2024), mật độ doanh nghiệp năm 2024 cao khoảng 2,4 lần bình quân cả nước.
Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp tăng chưa đồng nghĩa với năng lực tăng trưởng tăng tương ứng. Lao động trong doanh nghiệp chỉ tăng nhẹ từ 4,28 triệu người (2017) lên 4,38 triệu người (2024), khiến lao động bình quân trên một doanh nghiệp giảm từ 18,7 xuống 14,7 người (Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2025).
Diễn biến này cho thấy, điểm nghẽn của khu vực doanh nghiệp không nằm ở số lượng mà ở khả năng nâng cấp quy mô, năng suất, công nghệ và sức cạnh tranh. Sự gia tăng doanh nghiệp nhỏ có thể là tín hiệu tích cực, nhưng nếu không đi cùng tích lũy vốn và đổi mới công nghệ, sự gia tăng số lượng sẽ khó chuyển hóa thành giá trị gia tăng (Bộ Chính trị, 2022).
Thảo luận đánh giá chung
Thực trạng giai đoạn 2015-2025 cho thấy, TP. Hồ Chí Minh sở hữu nhiều lợi thế nền tảng: quy mô kinh tế lớn, GRDP bình quân đầu người cao, khu vực dịch vụ phát triển, năng suất lao động vượt bình quân cả nước và hệ sinh thái doanh nghiệp quy mô lớn - cơ sở để Thành phố giữ vai trò cực tăng trưởng của quốc gia.
Tuy nhiên, các lợi thế này chưa được chuyển hóa đầy đủ thành tốc độ tăng trưởng tương xứng: tăng trưởng năm 2025 thấp hơn vùng Đông Nam Bộ và cả nước; công nghiệp giảm tỷ trọng và tăng trưởng thấp; năng suất lao động tuyệt đối cao nhưng cải thiện chậm. Dư địa tăng trưởng vì vậy nằm ở khả năng tái cấu trúc và khơi thông nguồn lực.
Từ góc độ mục tiêu tăng trưởng 2 con số đến năm 2030, 3 vấn đề cần ưu tiên làm rõ là: cơ cấu lại nền kinh tế và không gian phát triển để chuyển nguồn lực sang các ngành có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn; khơi thông các nguồn lực - vốn, đất đai, hạ tầng, lao động chất lượng cao và khu vực tư nhân; và tạo đột phá về năng suất thông qua đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Như vậy, vấn đề trọng tâm của TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030 không phải là thiếu nguồn lực mà là khả năng tổ chức, kết nối và chuyển hóa nguồn lực thành động lực tăng trưởng mới.
ĐỘNG LỰC, ĐIỂM NGHẼN VÀ TRIỂN VỌNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2030
Cơ sở xây dựng các kịch bản
Triển vọng tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030 được xác định trên cơ sở kết hợp xu hướng tăng trưởng 2015-2025 với những thay đổi về cơ cấu kinh tế, năng suất, hiệu quả sử dụng vốn và năng lực doanh nghiệp. Giai đoạn 2021-2025, GRDP tăng bình quân khoảng 6,22%/năm và năm 2025 đạt 7,53%, nhưng năng suất lao động chỉ tăng bình quân 2,8%/năm.
Triển vọng giai đoạn 2026-2030 phụ thuộc chủ yếu vào khả năng cải thiện năng suất, nâng cấp cơ cấu công nghiệp - dịch vụ, mở rộng quy mô và năng lực đổi mới của doanh nghiệp, phát triển hạ tầng - logistics và khai thác hiệu quả không gian kinh tế mới. Việc mở rộng không gian phát triển tạo thêm dư địa về đất đai, công nghiệp, cảng biển và thị trường, nhưng chỉ tạo ra tăng trưởng cao nếu đi kèm liên kết hạ tầng và thể chế phù hợp.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng 3 kịch bản. Các kịch bản được xây dựng theo phương pháp kịch bản có điều kiện, mỗi mức tăng trưởng tương ứng với một tổ hợp giả định về năng suất, cơ cấu ngành, đầu tư, doanh nghiệp và hạ tầng (Bảng).
Kịch bản cơ sở: tăng trưởng 6,5-7,5%/năm
Kịch bản cơ sở giả định các động lực hiện tại tiếp tục được duy trì nhưng tốc độ cải thiện năng suất, đổi mới công nghệ và cơ cấu lại nền kinh tế chưa có bước đột phá. Với nền tảng tăng trưởng bình quân 6,22% và mức tăng 7,53% năm 2025, tốc độ 6,5-7,5%/năm phù hợp với quỹ đạo hiện tại.
Trong kịch bản này, khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực chính; công nghiệp duy trì vai trò quan trọng nhưng chuyển dịch chưa đủ nhanh sang ngành công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn. Không gian phát triển mới được khai thác từng bước, trong khi hạ tầng và năng lực doanh nghiệp cải thiện nhưng chưa đồng đều.
Kịch bản này có tính khả thi tương đối cao nhưng khó tạo ra bước thay đổi căn bản về chất lượng tăng trưởng; nếu năng suất tiếp tục tăng chậm, tăng trưởng có xu hướng quay về vùng 6-7%/năm.
Kịch bản tăng trưởng cao: 8-9%/năm
Kịch bản tăng trưởng cao giả định Thành phố thực hiện đồng bộ các cải cách về thể chế, hạ tầng, doanh nghiệp, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực, đồng thời khai thác tốt hơn lợi thế của không gian phát triển mới. Khi đó, tăng trưởng chuyển dần từ mở rộng đầu tư sang nâng năng suất và đổi mới công nghệ.
Động lực chính của kịch bản này gồm: năng suất lao động được cải thiện rõ hơn thông qua công nghệ, kỹ năng và tổ chức sản xuất; dịch vụ hiện đại và công nghiệp công nghệ cao tăng nhanh hơn; doanh nghiệp trong nước được nâng cấp và liên kết tốt hơn với khu vực FDI; hạ tầng giao thông, cảng biển và logistics được kết nối hiệu quả.
So với kịch bản cơ sở, đây là vùng tăng trưởng cao có tính khả thi hơn nhưng đòi hỏi năng lực thực thi chính sách và phối hợp liên vùng cao hơn.
| BẢNG: SO SÁNH CÁC KỊCH BẢN | |||
| Tiêu chí | Kịch bản cơ sở | Kịch bản tăng trưởng cao | Kịch bản mục tiêu |
| Tăng trưởng GRDP | 6,5-7,5% | 8-9% | 10% |
| Năng suất | Cải thiện chậm | Cải thiện rõ | Tăng mạnh |
| Cơ cấu kinh tế | Chuyển dịch từng bước | Dịch vụ giá trị cao, công nghiệp công nghệ cao tăng nhanh | Chuyển dịch mạnh sang mô hình dựa trên năng suất và đổi mới |
| Doanh nghiệp | Phát triển theo xu hướng hiện tại | Nâng cấp và mở rộng quy mô | Hình thành doanh nghiệp dẫn dắt và hệ sinh thái đổi mới |
| Hạ tầng - logistics | Cải thiện từng bước | Kết nối đồng bộ hơn | Đột phá, tạo hiệu ứng lan tỏa lớn |
| Không gian phát triển mới | Khai thác từng phần | Hình thành các cực tăng trưởng liên kết | Tổ chức thành một hệ thống kinh tế thống nhất |
| Yêu cầu chính sách | Duy trì ổn định | Cải cách đồng bộ | Cải cách mạnh và năng lực thực thi rất cao |
Nguồn: Kết quả nghiên cứu
Kịch bản mục tiêu: tăng trưởng 10%/năm
Kịch bản 10% không phải là dự báo chắc chắn mà là kịch bản mục tiêu phản ánh mức tăng trưởng Thành phố có thể hướng tới nếu tạo được thay đổi mang tính đột phá về năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Để đạt mức này, các động lực tăng trưởng phải được cải thiện đồng thời: năng suất lao động tăng nhanh hơn đáng kể; công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ giá trị gia tăng lớn mở rộng; doanh nghiệp nâng mạnh năng lực công nghệ và quy mô; đầu tư hạ tầng và logistics tạo hiệu ứng lan tỏa; không gian phát triển mới được tổ chức thành một hệ thống kinh tế liên kết cao.
Điểm quyết định của kịch bản 10% không phải là tăng đầu tư bằng mọi giá, mà là nâng hiệu quả chuyển hóa vốn, lao động, công nghệ và không gian thành giá trị gia tăng. Với mức tăng năng suất hiện nay còn hạn chế, mục tiêu 10% chỉ có cơ sở khi đồng thời cải thiện nhiều yếu tố của mô hình tăng trưởng.
Ba kịch bản cho thấy tăng trưởng cao không tự động xuất hiện từ việc mở rộng quy mô nguồn lực. Khoảng cách giữa kịch bản cơ sở và kịch bản 8-9% chủ yếu nằm ở khả năng nâng năng suất, cải thiện chất lượng doanh nghiệp và kết nối không gian kinh tế; khoảng cách từ 8-9% lên 10% lớn hơn đáng kể, bởi đòi hỏi nhiều điều kiện và mức độ thay đổi sâu hơn.
Vì vậy, vấn đề chính sách không phải lựa chọn một con số tăng trưởng mà là tạo đủ các điều kiện để dịch chuyển quỹ đạo tăng trưởng từ kịch bản cơ sở sang kịch bản tăng trưởng cao và tiến tới kịch bản mục tiêu, làm cơ sở xác định các nhóm giải pháp chính sách ở phần tiếp theo.
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2030
Kết quả phân tích cho thấy, thách thức của TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030 không chỉ ở quy mô nguồn lực mà ở khả năng huy động, phân bổ, kết nối và chuyển hóa nguồn lực thành năng suất và giá trị gia tăng cao hơn. Để tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Thành phố cần chuyển sang mô hình dựa trên năng suất, công nghệ và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Nâng năng suất và chất lượng nguồn nhân lực trở thành trọng tâm của chính sách tăng trưởng
Chính sách đầu tư, phát triển ngành, hỗ trợ doanh nghiệp, khoa học - công nghệ và đào tạo nhân lực cần được đánh giá trên cơ sở khả năng tạo thêm giá trị gia tăng và nâng cao năng suất.
Trọng tâm là thúc đẩy chuyển dịch lao động sang các ngành có năng suất cao; nâng chất lượng đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp; tăng cường kỹ năng số, công nghệ, quản trị, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa, logistics, tài chính, nghiên cứu và phát triển (R&D). Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào xác định chuẩn đầu ra; đồng thời Thành phố cần thu hút chuyên gia và nhân lực quản trị chất lượng cao.
Về quản trị, hiệu quả của chính sách nhân lực cần được đo bằng việc làm, thu nhập, năng suất và khả năng đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp thay vì chỉ bằng số lượng người được đào tạo; qua đó, phát triển nguồn nhân lực gắn trực tiếp với mục tiêu nâng năng suất.
Cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng dịch vụ giá trị cao gắn với công nghiệp hiện đại
Chuyển dịch cơ cấu cần hướng tới nâng cao chất lượng giá trị gia tăng thay vì đơn thuần gia tăng tỷ trọng dịch vụ. Thành phố cần ưu tiên các dịch vụ có năng suất và sức lan tỏa cao như tài chính, bảo hiểm, logistics, công nghệ thông tin, thương mại điện tử, dịch vụ chuyên môn, tư vấn, thiết kế, R&D và quản trị chuỗi cung ứng. Đồng thời, cần tránh xu hướng dịch vụ hóa làm suy giảm nền tảng sản xuất.
Trong không gian phát triển mới, cần phát huy lợi thế khác biệt của từng khu vực: TP. Hồ Chí Minh tập trung vào tài chính, công nghệ, R&D và dịch vụ chuyên môn; các khu vực có lợi thế về đất đai và công nghiệp phát triển sản xuất; hệ thống cảng biển và logistics đảm nhiệm vai trò cửa ngõ thương mại quốc tế.
Nâng cấp doanh nghiệp gắn với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số
Trọng tâm chính sách không nên tiếp tục đặt nặng vào gia tăng số lượng doanh nghiệp mà phải chuyển sang nâng cấp chất lượng, quy mô, năng suất và năng lực đổi mới. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ về quản trị, chuyển đổi số, công nghệ và tiếp cận vốn; doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cần hỗ trợ mở rộng quy mô và thị trường.
Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo cần chuyển từ vai trò hỗ trợ sang động lực nội sinh của tăng trưởng. Trọng tâm không chỉ là tăng chi cho nghiên cứu mà là nâng khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành công nghệ, sản phẩm và doanh thu. Thành phố cần thúc đẩy liên kết thực chất giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp, cần ưu tiên ứng dụng tự động hóa, dữ liệu, AI và các nền tảng số nhằm giảm chi phí, nâng năng suất và cải thiện năng lực cạnh tranh; đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và FDI để nâng tỷ lệ nội địa hóa.
Đột phá hạ tầng, logistics và tổ chức lại không gian phát triển
Đầu tư hạ tầng cần chuyển từ tư duy phát triển từng công trình sang phát triển mạng lưới kết nối các cực tăng trưởng, ưu tiên giao thông liên kết đô thị với các trung tâm công nghiệp, cảng biển và logistics.
Cần đồng thời tăng cường kết nối đường bộ, đường sắt, đường thủy và cảng biển nhằm giảm chi phí logistics và chi phí giao dịch. Việc phân bổ không gian kinh tế cần dựa trên lợi thế so sánh, mức độ kết nối và khả năng tham gia chuỗi giá trị thay vì theo ranh giới hành chính, qua đó giảm áp lực lên đô thị lõi.
Đặc biệt, cần có cơ chế điều phối thống nhất về quy hoạch, giao thông, công nghiệp, logistics, đất đai và thu hút đầu tư trong toàn không gian phát triển mới, nhằm tạo ra hiệu ứng cộng hưởng giữa công nghiệp, dịch vụ, cảng biển, logistics và thị trường quốc tế.
Nâng hiệu quả đầu tư và khơi thông nguồn lực xã hội
Thành phố cần đẩy mạnh huy động nguồn lực ngoài ngân sách thông qua cơ chế hợp tác công - tư (PPP) và các mô hình hợp tác phù hợp; đồng thời chuyển mạnh vai trò của Nhà nước từ trực tiếp cung cấp nguồn lực sang kiến tạo thể chế, phát triển thị trường, chia sẻ rủi ro và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tham gia.
Cùng với đó, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, thủ tục đầu tư và tiếp cận vốn để nâng khả năng hấp thụ nguồn lực của khu vực doanh nghiệp - điều kiện quan trọng để mở rộng đầu tư mà không làm suy giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Quản trị tăng trưởng theo mục tiêu, kết quả và khả năng điều chỉnh chính sách
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số cần được chuyển hóa thành hệ thống mục tiêu trung gian về năng suất, đầu tư, doanh nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng và nhân lực. Thành phố cần xây dựng hệ thống chỉ báo phản ánh chất lượng tăng trưởng như năng suất lao động, ICOR, đầu tư tư nhân và năng lực công nghệ doanh nghiệp.
Trong giai đoạn 2026-2030, Thành phố cần vận hành chính sách theo nguyên tắc tăng trưởng có điều kiện và có khả năng điều chỉnh. Mục tiêu 10%/năm cần được xem là kịch bản mục tiêu đòi hỏi sự phối hợp đồng thời của năng suất, công nghệ, công nghiệp, dịch vụ giá trị cao, doanh nghiệp và hạ tầng; việc đánh giá định kỳ các chỉ tiêu trung gian sẽ giúp nhận diện sớm điểm nghẽn để có giải pháp phù hợp.
(*) Đây là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Cơ cấu kinh tế TP. Hồ Chí Minh sau sáp nhập đơn vị hành chính: Thực trạng và định hướng phát triển”.
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Chính phủ (2026). Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 20/4/2026 về cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kết luận số 18-KL/TW về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
- Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí về kết quả tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của 34 tỉnh, thành phố năm 2025. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-ket-qua-tang-truong-tong-san-pham-tren-dia-ban-grdp-cua-34-tinh-thanh-pho-nam-2025/
- Eichengreen, B., & Gupta, P. (2013). The two waves of service-sector growth. Oxford Economic Papers, 65(1), 96-123. https://doi.org/10.1093/oep/gpr059
- Égert, B., & Gal, P. (2017). The quantification of structural reforms in OECD countries: A new framework. OECD Economics Department Working Papers.
- Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
- Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2025). Số liệu kinh tế - xã hội TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2024.
- Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2026). Số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội TP. Hồ Chí Minh năm 2025.
- World Bank (2024). Viet Nam 2045: Trading up in a changing world - Pathways to a high-income future. World Bank Group. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-2092-5
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 2 tháng 10/2026 |
Tin tức khác
Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng: Khơi thông dòng vốn phát triển vùng miền Trung - Tây Nguyên
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Tạo điều kiện để Samsung mở rộng đầu tư lâu dài tại Việt Nam
Tài chính doanh nghiệp 24/7: Đạm Cà Mau nâng kế hoạch lợi nhuận, IDICO chuẩn bị khai thác 1.400 ha đất công nghiệp
Sửa Luật Đấu thầu: Chọn nhà thầu không chỉ căn cứ vào giá, mà phải có chất lượng tốt
Đề xuất mô hình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trong giai đoạn chuyển đổi
Miễn thuế đất, suất ăn: Giảm chi phí, thêm nguồn lực phát triển giáo dục
Dự kiến miễn thuế hơn 2.000 tỷ đồng mỗi năm cho các cơ sở giáo dục không vì lợi nhuận
VIDEO: Bộ Tài chính bứt phá cải cách hành chính mở đường cho kinh tế số
PODCAST: Hoàn thiện thể chế tài chính - Khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
Đấu giá quyền sử dụng khu vực biển: Công khai, cạnh tranh thực chất, rõ nghĩa vụ tài chính
Việt Nam - Nhật Bản: Củng cố tin cậy, làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện
MICA-2026: Khẳng định vai trò của chuyển đổi số và hành vi tiêu dùng xanh
Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tinh thần Hiến pháp năm 1946 phải được thể hiện bằng sự tận tâm phục vụ nhân dân
Không bắt buộc người dân, doanh nghiệp chuyển sang sử dụng phương tiện giao thông thuần điện
Sẽ tăng mức phạt vi phạm nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy
Đề xuất hơn 63.450 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy, tội phạm
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ưu tiên cao nhất kiểm soát lạm phát
Hà Nội quyết liệt khơi thông nguồn lực, phấn đấu tăng trưởng 2 con số
Dịch vụ tài chính số Việt Nam: Ba động lực tăng trưởng và dư địa bứt phá
TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp khoảng 30% vào nền kinh tế
Việt Nam - Nhật Bản: Củng cố tin cậy, làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện
Xuất khẩu thủy sản đạt hơn 10,4 tỷ USD, hướng tới mục tiêu 12 tỷ USD
Xu hướng giảm tốc tăng trưởng kinh tế Trung Quốc: Tác động đến Việt Nam và một số hàm ý chính sách
Hạ tầng triển lãm mở rộng kết nối doanh nghiệp tại Hà Nội
Phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Chuyển từ lượng sang chất








