Phát triển dịch vụ logistics trong thương mại điện tử xuyên biên giới theo mô hình B2C tại Việt Nam
NCS, ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Email: [email protected]
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển đổi số đang trở thành xu thế phát triển tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới. Quá trình này không chỉ mở ra thị trường rộng lớn, mà còn định hình lại toàn bộ cách thức vận hành của nền kinh tế, từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng. Trong bối cảnh đó, thương mại điện tử (TMĐT) xuyên biên giới theo mô hình B2C (Business-to-Consumer) xuất hiện và phát triển mạnh mẽ như một mô hình kinh doanh hiệu quả, giúp doanh nghiệp nhanh chóng mở rộng thị trường, tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng cuối cùng ở nhiều quốc gia khác nhau, đồng thời tiết kiệm thời gian, chi phí và hạn chế rủi ro khi tham gia thị trường mới.
Theo Bộ Công Thương, năm 2025 quy mô thị trường TMĐT Việt Nam đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng 25,5%, tương đương khoảng 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước (Bộ Công Thương, 2025a). Đây là nền tảng quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng bán hàng trực tuyến ra thị trường quốc tế. Ở cấp độ doanh nghiệp, Amazon Global Selling Việt Nam (2025) cho biết trong 12 tháng kết thúc ngày 31/7/2025, doanh số sản phẩm có thương hiệu của các đối tác bán hàng Việt Nam trên Amazon tăng hơn 40%, trong khi số nhà bán hàng Việt Nam đạt doanh số trên 1 triệu USD/năm tăng 60%. Tuy nhiên, các số liệu của Amazon phản ánh phạm vi hệ sinh thái Amazon và không đại diện cho toàn bộ thị trường TMĐT xuyên biên giới Việt Nam.
Trong mô hình B2C, logistics có vai trò quyết định do đặc thù số lượng đơn hàng lớn, giá trị từng đơn nhỏ, yêu cầu giao hàng nhanh, truy xuất đơn hàng, xử lý đổi trả và tuân thủ quy định hải quan, thuế tại nhiều quốc gia. Vì vậy, phát triển logistics là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ XUYÊN BIÊN GIỚI B2C
Trong bối cảnh TMĐT xuyên biên giới B2C, logistics không chỉ là hoạt động hỗ trợ mà trở thành yếu tố cấu thành cốt lõi của mô hình kinh doanh. TMĐT xuyên biên giới B2C đại diện cho một mô hình kinh doanh số hóa tiên tiến, nơi các hoạt động mua bán hàng hóa được thực hiện trực tuyến giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng thuộc các lãnh thổ hải quan khác nhau. Logistics đóng vai trò trung tâm và thiết yếu trong hệ sinh thái này, hoạt động như cầu nối quan trọng giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng cuối cùng, đảm bảo hàng hóa được vận chuyển an toàn, kịp thời và hiệu quả qua biên giới quốc gia. Vai trò này bao gồm quản lý toàn diện chuỗi cung ứng: từ lưu kho, đóng gói, theo dõi và xử lý trả hàng, giúp giảm thiểu rủi ro liên quan đến sự chậm trễ hoặc hư hỏng sản phẩm do khoảng cách địa lý lớn.
Nhiều nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng, logistics là yếu tố quyết định đến chi phí, thời gian giao hàng và khả năng mở rộng thị trường trong TMĐT xuyên biên giới. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng và phức tạp của chuỗi cung ứng quốc tế B2C, các mô hình logistics phổ biến được thiết kế từ mô hình truyền thống sang các mô hình tiên tiến hơn. Mô hình 3PL (Third-Party Logistics) nổi lên như một giải pháp phổ biến, nơi các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba chịu trách nhiệm xử lý vận chuyển, quản lý kho bãi và phân phối. Mô hình 4PL mở rộng phạm vi bằng cách cung cấp dịch vụ quản lý toàn diện chuỗi cung ứng, bao gồm lập kế hoạch chiến lược và tối ưu hóa mạng lưới thông qua phân tích dữ liệu lớn. Đặc biệt, mô hình hoàn tất đơn hàng (fulfillment) xuyên biên giới - bao gồm Fulfillment by Merchant (FBM) và Fulfillment by Platform (FBP) - đại diện cho sự đổi mới hiện đại, tập trung vào việc tích hợp các trung tâm lưu kho quốc tế và hệ thống tự động hóa để xử lý đơn hàng từ nguồn gốc đến đích cuối cùng.
Tại Việt Nam, chuỗi logistics TMĐT xuyên biên giới B2C bao gồm các khâu gom hàng, khai báo hải quan, vận tải quốc tế, dịch vụ hoàn tất đơn hàng (fulfillment), kho bãi, giao hàng chặng cuối và logistics ngược. Phát triển hạ tầng logistics, dữ liệu và dịch vụ fulfillment vì vậy là điều kiện quan trọng để mở rộng xuất khẩu trực tuyến (Bộ Công Thương, 2026b).
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM Kết quả đạt được giai đoạn 2024-2026
Giai đoạn 2021-2026 có thể xem là giai đoạn chuyển đổi quan trọng của logistics phục vụ TMĐT xuyên biên giới B2C tại Việt Nam. Năm 2025, Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026-2030 đã được ban hành (Bộ Công Thương, 2025c). Trong năm 2026, định hướng phát triển logistics tiếp tục được củng cố thông qua Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn 2050 (Bộ Công Thương, 2026a).
Thứ nhất, mô hình vận hành đang chuyển từ giao hàng trực tiếp từ Việt Nam sang kết hợp fulfillment, kho trung gian và dịch vụ 3PL/4PL tại thị trường đích. Fulfillment giúp doanh nghiệp chủ động hơn về tồn kho, đóng gói, xử lý đơn hàng và giao hàng chặng cuối.
Thứ hai, hạ tầng logistics tiếp tục được cải thiện. Hệ thống cảng biển, sân bay, đường cao tốc, trung tâm logistics và kho bãi đang được đầu tư, tạo điều kiện nâng cao năng lực kết nối hàng hóa. Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025- 2035, tầm nhìn đến năm 2050 xác định phát triển hạ tầng logistics đồng bộ, nâng cao kết nối và thúc đẩy logistics xanh, logistics thông minh là những định hướng quan trọng (Bộ Công Thương, 2025b). Trong năm 2026, Bộ Công Thương đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược, qua đó cụ thể hóa các nhiệm vụ phát triển dịch vụ logistics trong giai đoạn mới (Bộ Công Thương, 2026a).
Thứ ba, đầu tư vào công nghệ số hóa và tự động hóa tiếp tục được đẩy mạnh. Các doanh nghiệp logistics đang tăng cường sử dụng hệ thống quản lý vận tải (TMS), hệ thống quản lý kho (WMS), quản lý đơn hàng (OMS), trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu và các công cụ tự động hóa. Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2025, đến hết năm 2024 đã có khoảng 61% doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng công nghệ số vào hoạt động logistics. Việc triển khai các công nghệ này giúp giảm chi phí logistics trung bình khoảng 23% so với phương pháp truyền thống và rút ngắn thời gian xử lý đơn hàng trung bình 35% nhờ tự động hóa (Bộ Công Thương, 2025a). Ở phạm vi quốc tế, ước tính AI áp dụng vào lớp quyết định logistics có thể giảm chi phí logistics 5-20% và giảm tồn kho 20- 30%. Nhiều doanh nghiệp triển khai WMS/TMS hiện đại ghi nhận ROI trong vòng 12-18 tháng, đồng thời giảm khối lượng xử lý ngoại lệ thủ công khoảng 30- 40%. Bộ Công Thương hiện định hướng đẩy mạnh quản lý dựa trên dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu TMĐT và từng bước ứng dụng AI trong quản lý, đồng thời thúc đẩy TMĐT xuyên biên giới gắn với xuất khẩu (Bộ Công Thương, 2025a).
Thứ tư, hiện đại hóa thủ tục xuất khẩu được thúc đẩy thông qua hải quan điện tử, Cơ chế một cửa quốc gia và tăng cường kết nối dữ liệu giữa doanh nghiệp, nền tảng TMĐT, logistics và cơ quan quản lý. Năm 2026, việc triển khai Luật Thương mại điện tử tạo thêm cơ sở pháp lý cho quản lý TMĐT trong giai đoạn mới (Quốc hội, 2025).
Những thách thức và hạn chế
Mặc dù có sự tiến bộ vượt bậc, sự phát triển của logistics trong TMĐT xuyên biên giới B2C vẫn phải đối mặt với các thách thức lớn:
Một là, khung pháp lý và cơ chế thực thi cần tiếp tục hoàn thiện, đặc biệt về hải quan, thuế, bảo vệ người tiêu dùng, dữ liệu, trách nhiệm của nền tảng và quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua môi trường số. Vấn đề đặt ra không chỉ là bổ sung quy định mà còn là bảo đảm tính thống nhất và liên thông dữ liệu giữa cơ quan quản lý, nền tảng và doanh nghiệp logistics.
Hai là, hạ tầng logistics và giao thông vẫn còn những hạn chế về tính đồng bộ và kết nối đa phương thức. Mạng lưới logistics cần tiếp tục nâng cao khả năng liên kết giữa đường bộ, đường sắt, hàng không, đường biển và các trung tâm logistics. Theo các nguồn chính thức và chuyên ngành năm 2025-2026, chi phí logistics của Việt Nam vẫn duy trì ở mức khoảng 16- 18% GDP, cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu khoảng 10-12% và một số nước trong khu vực (Singapore khoảng 8-9%, Malaysia khoảng 13%) (Bộ Công Thương, 2025a; Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam, 2025). Ngân hàng Thế giới đã công bố LPI 2.0 (Connecting to Compete 2025) với phương pháp dựa trên dữ liệu theo dõi chuyến hàng thực tế thay vì khảo sát cảm nhận (World Bank, 2026), nhưng chưa có bảng xếp hạng tổng hợp tương đương công bố rộng rãi cho Việt Nam tại thời điểm hiện tại. Về cơ cấu vận tải, đường bộ vẫn chiếm tỷ trọng chi phối khoảng 75% sản lượng hàng hóa, trong khi đường sắt chỉ khoảng 0,18%, đường thủy nội địa khoảng 19- 20%, đường biển và hàng không còn rất thấp (Bộ Xây dựng, 2025).
Ba là, ứng dụng công nghệ chưa đồng đều. Doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp khó khăn về vốn, nhân lực công nghệ và năng lực tổ chức. Khả năng tích hợp dữ liệu giữa quản lý đơn hàng, kho bãi, vận tải quốc tế và giao hàng chặng cuối cần được cải thiện theo hướng quản trị chuỗi cung ứng end-to-end (World Bank, 2026).
Bốn là, logistics ngược và phát triển bền vững còn là nút thắt. Logistics ngược trong TMĐT xuyên biên giới B2C phức tạp do khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển 2 chiều, khác biệt pháp luật và yêu cầu xử lý hàng trả lại tại thị trường đích. Theo dữ liệu ngành năm 2026, tỷ lệ trả hàng online toàn cầu thường dao động 20-30% (cao hơn nhiều so với khoảng 8-10% của bán lẻ truyền thống), trong đó trả hàng xuyên biên giới trung bình khoảng 25% và với thời trang/giày dép có thể vượt 40-50% tại một số thị trường châu Âu (FreightWaves, 2026; Branvas, 2026). Chi phí logistics ngược có thể chiếm 5-15% tổng chi phí logistics, đặc biệt với thời trang, điện tử và mỹ phẩm (Bảo Bình, 2026). Vì thế, cần tiếp cận logistics ngược theo hướng xây dựng mạng lưới thu hồi, kiểm định, tái đóng gói, tái bán, tái chế và xử lý hàng trả lại phù hợp với từng thị trường.
Năm là, nguồn nhân lực và năng lực doanh nghiệp còn hạn chế. Năm 2026, sự gia tăng mạnh của hoạt động xuất nhập khẩu, sản xuất và TMĐT tiếp tục tạo áp lực mở rộng nhu cầu đối với các dịch vụ logistics. Theo Cục Thống kê (2026), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt trên 659 tỷ USD, qua đó thúc đẩy nhu cầu đối với vận tải, kho bãi và các dịch vụ logistics liên quan.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ XUYÊN BIÊN GIỚI B2C TẠI VIỆT NAM
Thứ nhất, hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao năng lực thực thi. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các chính sách và quy định liên quan, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Xây dựng khung pháp lý cho sự phát triển của dịch vụ logistics trong TMĐT xuyên biên giới B2C trong một văn bản nhằm minh bạch hóa các chính sách và tạo cơ sở thống nhất triển khai thực hiện. Cụ thể, cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước; thiết lập cơ chế và thủ tục hải quan phù hợp với hàng hóa xuất, nhập khẩu trực tuyến B2C (số lượng lớn, giá trị nhỏ); hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, phí, miễn giảm tiền thuê đất để xây dựng hạ tầng logistics.
Thứ hai, quy hoạch và phát triển hạ tầng logistics đồng bộ, hiện đại. Định hướng phát triển nên tập trung vào các trung tâm logistics quốc tế, khai thác mạnh logistics hàng không và hình thành mạng lưới giao hàng chặng cuối thông qua hợp tác với doanh nghiệp bản địa tại thị trường đích. Đây là giải pháp quan trọng để rút ngắn thời gian giao hàng, giảm chi phí vận chuyển và nâng cao trải nghiệm khách hàng B2C. Công tác quy hoạch hạ tầng logistics cần được xây dựng theo hướng đồng bộ hiện đại, với tư duy chiến lược, tầm nhìn dài hạn, gắn với liên kết vùng. Ưu tiên đầu tư các trung tâm logistics đa chức năng, trung tâm xử lý đơn hàng, kho hàng xuyên biên giới và phát triển vận tải đa phương thức.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ 4.0. Chuyển đổi số cần được xem là yếu tố trung tâm. Doanh nghiệp nên đẩy mạnh liên thông dữ liệu giữa đơn hàng, thanh toán, logistics và hải quan; đồng thời ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data) và Internet vạn vật (IoT) trong quản lý kho, phân loại tự động và tối ưu tuyến đường giao hàng. Mô hình e-logistics và logistics 5PL ngày càng phổ biến, cho phép tích hợp dữ liệu từ nhiều bên liên quan trên một nền tảng thống nhất. Nhà nước cần có sự hỗ trợ nhất định thông qua các chính sách hỗ trợ chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics và phát triển e-logistics; hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ cao có hình thức cho thuê, chuyển giao các phần mềm quản trị e-logistics cho các doanh nghiệp trong nước với giá ưu đãi.
Thứ tư, phát triển logistics xanh và logistics ngược theo hướng bền vững. Vấn đề phát triển bền vững cần được đặt ngang hàng với tăng trưởng. Logistics ngược phải được đầu tư bài bản để xử lý hàng trả về hiệu quả hơn, trong khi TMĐT xanh cần được thúc đẩy thông qua đóng gói thân thiện môi trường, giảm nhựa khó phân hủy và tăng sử dụng năng lượng sạch trong vận tải. Cần xây dựng cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), phát triển chuỗi thu hồi - tái chế bao bì có quy mô, và tăng cường chương trình truyền thông nhằm nâng cao thực hành bền vững trong toàn hệ sinh thái TMĐT.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực số và hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Cần đào tạo nhân lực về công nghệ số, ngoại ngữ, marketing trực tuyến, pháp lý và quản trị chuỗi cung ứng số; tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và hiệp hội; đồng thời hình thành các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp về pháp lý, chứng từ và tiêu chuẩn hóa sản phẩm.
Thứ sáu, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics Việt Nam. Doanh nghiệp cần đầu tư công nghệ, mở rộng mạng lưới quốc tế, hợp tác với sàn TMĐT và đối tác nước ngoài, đồng thời phát triển các mô hình 3PL, 4PL và fulfillment xuyên biên giới. Nhà nước cần hỗ trợ hình thành chuỗi giá trị logistics, tạo điều kiện để doanh nghiệp quy mô vừa phát triển thành doanh nghiệp có khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
KẾT LUẬN
Dịch vụ logistics giữ vai trò then chốt đối với sự phát triển của TMĐT xuyên biên giới B2C tại Việt Nam. Giai đoạn 2024-2026 cho thấy sự chuyển biến về mô hình vận hành, hạ tầng và ứng dụng công nghệ, song vẫn tồn tại các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, chi phí, số hóa, logistics ngược và nguồn nhân lực. Quy mô thị trường TMĐT Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng 25,5%, tạo dư địa đáng kể cho logistics phục vụ xuất khẩu trực tuyến (Bộ Công Thương, 2025a).
Trong giai đoạn 2026-2030, cần triển khai đồng bộ 6 nhóm giải pháp gồm hoàn thiện chính sách, phát triển hạ tầng, chuyển đổi số, logistics xanh và logistics ngược, phát triển nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Trọng tâm cần đặt vào liên thông dữ liệu, fulfillment, khả năng chống chịu chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và năng lực thực thi chính sách. Các mục tiêu định lượng chỉ nên sử dụng khi có dữ liệu thống nhất, cập nhật và có thể kiểm chứng.
Tài liệu tham khảo:
1. Amazon Global Selling Việt Nam (2025). Báo cáo trao quyền cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam 2025. https://sell.amazon.vn/bao-cao-hoat-dong-amazon-2025
2. Bảo Bình (2026). Logistics ngược “nút thắt” thương mại điện tử xuyên biên giới của doanh nghiệp Việt. https://vneconomy.vn/techconnect/logistics-nguoc-nut-that-thuong-mai-dien-tu-xuyen-bien-gioi-cua-doanh-nghiep-viet.htm
3. Branvas (2026). The cross-border ecommerce returns report: Return rates and refund times by country. Cross-Border Ecommerce Returns Report https://branvas.com/blogs/news/cross-border-ecommerce-returns-report
4. Bộ Công Thương (2025a). Báo cáo Logistics Việt Nam 2025. Nxb Công Thương.
5. Bộ Công Thương (2025b). Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050.
6. Bộ Công Thương (2025c). Quyết định số 1568/QĐ-BCT ngày 3/6/2025 phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026-2030.
7. Bộ Công Thương (2026a). Quyết định số 458/QĐ-BCT ngày 13/3/2026 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050.
8. Bộ Công Thương (2026b). Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.
9. Bộ Xây dựng (2025). Số liệu thống kê vận tải và kết cấu hạ tầng giao thông năm 2025.
10. Cục Thống kê (2026). Xuất nhập khẩu 7 tháng đạt hơn 659 tỷ USD; Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2026.
11. FreightWaves (2026). International returns surge as e-commerce merchants face rising logistics hurdles. https://www.freightwaves.com/news/international-returns-surge-as-e-commerce-merchants-face-rising-logistics-hurdles
12. Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (2025). Các thông tin và số liệu về ngành dịch vụ logistics Việt Nam.
13. Quốc hội (2025). Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15.
14. Worldbank (2026). Connecting to Compete 2025: The New Logistics Performance Indicators 2.0. https://documents.worldbank.org/en/publication/documents-reports/documentdetail/099042226142014971.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 10/2026 |
Tin tức khác
Giảm giá điện và thuế xăng, lợi ích nào chuyển hóa thành lợi nhuận doanh nghiệp?
Thúc đẩy xuất khẩu đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Nâng cao chất lượng hàng Việt đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng 2 con số
Giảm thuế xăng, giá điện: Giảm chi phí đầu vào, thiết thực hỗ trợ sản xuất, kinh doanh
Giá điện và xăng giảm tác động ra sao đến từng nhóm ngành?
Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế xanh: Xu hướng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Đề xuất mô hình giải trình 2 chiều trong quản trị công và giám sát ngân sách tại địa phương
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tinh thần Hiến pháp năm 1946 phải được thể hiện bằng sự tận tâm phục vụ nhân dân
Không bắt buộc người dân, doanh nghiệp chuyển sang sử dụng phương tiện giao thông thuần điện
Sẽ tăng mức phạt vi phạm nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy
Đề xuất hơn 63.450 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy, tội phạm
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ưu tiên cao nhất kiểm soát lạm phát
Tập trung cao độ, quyết tâm hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026
Hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ được miễn thủ tục bảo vệ dữ liệu cấp độ 2
Giao dịch ngân hàng, chứng khoán, thương mại điện tử phải liên kết danh tính điện tử quốc gia
Đưa vùng Trung du và miền núi phía Bắc trở thành cửa ngõ kết nối ASEAN với Trung Quốc
Hạ tầng triển lãm mở rộng kết nối doanh nghiệp tại Hà Nội
Phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Chuyển từ lượng sang chất
Phát triển dịch vụ logistics trong thương mại điện tử xuyên biên giới theo mô hình B2C tại Việt Nam
Bài 3: Mở đường cho tư nhân bước vào những "sân chơi" lớn
TP. Hồ Chí Minh mời gọi đầu tư công viên hơn 456 ha tại Củ Chi cùng loạt dự án lớn
Du lịch Việt Nam tăng tốc, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế năm 2026
Grab giảm phí, tăng hỗ trợ tài xế sau kết quả xác minh của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia
TP. Hồ Chí Minh tháo gỡ vướng mắc, giới thiệu hơn 200 dự án tới doanh nghiệp Hàn Quốc








