Chuyển đổi số và quản trị dữ liệu trong quản lý thuế tại Hà Nội: Kết quả vận hành và những yêu cầu đặt ra
Đàm Thị Diệu Linh
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vũ Đức Nghĩa
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: [email protected]
Tô Thế Nguyên
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuyển đổi số trong quản lý thuế là quá trình tổ chức lại dịch vụ, quy trình nghiệp vụ, dữ liệu và trách nhiệm quản lý trên nền tảng công nghệ số. Mô hình Tax Administration 3.0 xác định người nộp thuế là trung tâm, tích hợp việc thực hiện nghĩa vụ thuế vào hoạt động thường ngày của cá nhân và doanh nghiệp, đồng thời khai thác dữ liệu theo cơ chế kiểm soát rõ ràng (OECD, 2020). Việc hiện thực hóa mô hình này đòi hỏi chiến lược số gắn với quản trị, nhân lực, kiến trúc dữ liệu và lộ trình bảo đảm hoạt động thu ngân sách diễn ra liên tục (OECD, 2025). Đánh giá chuyển đổi số trong quản lý thuế vì thế cần dựa trên chất lượng dữ liệu, mức độ hoàn thiện của quy trình đầu - cuối, hiệu quả vận hành và trách nhiệm của cơ quan quản lý.
Tại TP. Hà Nội, quá trình này diễn ra trong bối cảnh đặc thù với quy mô người nộp thuế lớn, hoạt động thương mại điện tử phát triển và sự thay đổi về mô hình tổ chức bộ máy (từ Chi cục Thuế khu vực sang Thuế thành phố và các Thuế cơ sở trong năm 2025), gắn liền với việc bãi bỏ thuế khoán từ ngày 01/01/2026 và hiệu lực của Luật Quản lý thuế mới.
Dù các chỉ báo về giao dịch điện tử, hóa đơn điện tử và hoàn thuế tự động đã mở rộng rõ rệt (Chuyên trang chuyển đổi số thủ đô, 2024; Hoàng Điệp, 2025; Trần Hoàng, 2026), thực tiễn vận hành vẫn tồn tại khoảng trống: dữ liệu hiện nay chủ yếu phản ánh kết quả mô tả, chưa đủ cơ sở lượng hóa riêng tác động của công nghệ đối với số thu ngân sách; đồng thời, việc sắp xếp lại bộ máy đặt ra thách thức lớn về đồng bộ dữ liệu, phân quyền và duy trì dịch vụ liên tục.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung trả lời 3 câu hỏi: (i) Quá trình chuyển đổi số đã tạo ra những thay đổi vận hành nào trong quản lý thuế tại Hà Nội? (ii) Việc sắp xếp tổ chức bộ máy đặt ra những yêu cầu gì đối với quản trị dữ liệu, phân quyền và duy trì dịch vụ? (iii) Hiệu quả chuyển đổi số trong quản lý thuế cần được đánh giá theo những tiêu chí nào ngoài kết quả thu ngân sách? Bài viết phân tích 4 cấu phần gồm: dịch vụ số, liên thông dữ liệu, nghiệp vụ dựa trên dữ liệu và năng lực tổ chức; đối chiếu các cấu phần này với số liệu của Hà Nội theo từng thời điểm và phạm vi địa bàn.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu kết hợp thống kê mô tả. Nguồn tài liệu gồm 3 nhóm: các công trình nghiên cứu và báo cáo của tổ chức quốc tế; văn bản pháp lý có liên quan; thông tin, báo cáo công khai của cơ quan thuế và chính quyền TP. Hà Nội.
Số liệu vận hành được cập nhật đến ngày 30/6/2026; các chỉ báo có thời điểm công bố sớm hơn được giữ nguyên ngày chốt của nguồn. Khung pháp lý được rà soát đến ngày 15/7/2026 để phản ánh Luật Quản lý thuế năm 2025 và các nghị định hướng dẫn đã có hiệu lực. Việc xác định riêng 2 mốc thời gian giúp bảo đảm tính thống nhất giữa kết quả vận hành giai đoạn 2025-2026 và bối cảnh pháp lý áp dụng từ năm 2026.
Nghiên cứu tập trung vào phân tích mô tả và nhận diện cơ chế vận hành. Trong giai đoạn từ ngày 01/3 đến ngày 30/6/2025, số liệu của Chi cục Thuế khu vực I bao gồm cả Hà Nội và Hòa Bình; vì vậy, các chỉ báo thuộc giai đoạn này được sử dụng để phản ánh hoạt động ở cấp khu vực và được ghi rõ phạm vi khi phân tích. Bài viết cũng chưa sử dụng dữ liệu khảo sát người nộp thuế hoặc cán bộ thuế. Các kết luận vì thế tập trung vào kết quả vận hành, yêu cầu quản trị và những mối liên hệ có thể xác định từ tài liệu công khai.
THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ QUẢN TRỊ DỮ LIỆU TRONG QUẢN LÝ THUẾ TẠI HÀ NỘI
Mức độ sử dụng dịch vụ thuế số
Số liệu của Thuế TP. Hà Nội 6 tháng đầu năm 2026, sau khi phương pháp khoán thuế được bãi bỏ từ ngày 01/01/2026, phản ánh sự gia tăng trong việc sử dụng các kênh giao dịch thuế điện tử của hộ, cá nhân kinh doanh. Năm 2025, Thành phố có hơn 350.000 hộ kinh doanh đang hoạt động; số thu từ khu vực này đạt 5.970 tỷ đồng (Hương Trang, 2026).
Đến giữa năm 2026, khoảng 98% số hộ đã có tài khoản giao dịch điện tử và cài đặt ứng dụng eTax Mobile; khoảng 60% số hộ thực hiện nộp thuế điện tử; 100% hồ sơ khai thuế được nộp đúng hạn. Cùng thời điểm, 17.753/19.585 hộ thuộc diện bắt buộc đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử, đạt 90,65%; trong nhóm hộ có doanh thu trên 1 tỷ đồng, 60% đã sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền (Trần Hoàng, 2026). Các chỉ báo này cho thấy dịch vụ thuế số đã được đưa vào hoạt động kê khai, nộp thuế và lập hóa đơn của một bộ phận lớn hộ kinh doanh trên địa bàn.
Năm 2025, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Hà Nội đạt 704.579 tỷ đồng, bằng 137,1% dự toán và tăng 37,1% so với năm 2024 (Minh Anh, 2025). Sáu tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách do cơ quan thuế quản lý ước đạt 387.185 tỷ đồng, bằng 63,1% dự toán và tăng 3,1% so với cùng kỳ (Trần Hoàng, 2026). Chỉ tiêu này phản ánh bối cảnh tài khóa chung của Thành phố. Việc xác định đóng góp riêng của chuyển đổi số đòi hỏi phải tách bạch với tăng trưởng kinh tế, thay đổi chính sách thuế, các khoản thu phát sinh, hoạt động thanh tra, kiểm tra và quá trình mở rộng cơ sở thuế.
Liên thông dữ liệu trong nhận diện và đối chiếu cơ sở thuế
Việc liên thông dữ liệu tại Hà Nội đã mở rộng khả năng nhận diện và chuẩn hóa thông tin về hộ kinh doanh. Đến giữa năm 2026, 94,64% hộ kinh doanh trên địa bàn đã được rà soát, chuẩn hóa thông tin (Gia Minh, 2026). Các cơ sở đăng ký mới được kết nối trực tiếp với Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, toàn bộ hộ khoán được đưa lên bản đồ số, đồng thời cơ quan thuế tiến hành đối chiếu căn cước công dân của cá nhân kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử với mã số thuế để xây dựng cơ sở dữ liệu về tài khoản ngân hàng, doanh thu và dòng tiền (Chuyên trang chuyển đổi số thủ đô, 2024). Nhờ đó, số thu qua Cổng thông tin điện tử dành cho thương mại điện tử tại Hà Nội trong năm 2025 đạt 1.309 tỷ đồng, chiếm tới 51% tổng số thu qua kênh này của cả nước (Hương Trang, 2026). Tuy nhiên, kết quả thu ngân sách này chịu sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố như: sự phát triển của thị trường, việc khớp nối thông tin định danh và các biện pháp quản lý khác, chứ không thuần túy là hệ quả riêng của chuyển đổi số.
|
BẢNG 1: MỘT SỐ CHỈ BÁO VỀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ THUẾ SỐ CỦA HỘ KINH DOANH TẠI HÀ NỘI ĐẾN NGÀY 30/6/2026 |
|||
|
Chỉ báo |
Kết quả ghi nhận |
So với cùng kỳ |
Nội dung phản ánh |
|
Hộ có tài khoản giao dịch thuế điện tử |
Khoảng 98% số hộ, đã cài đặt eTax Mobile |
Mức độ mở rộng của kênh giao dịch điện tử |
|
|
Hồ sơ khai thuế của hộ kinh doanh |
100% hồ sơ nộp đúng hạn |
Mức độ tuân thủ kê khai sau khi bỏ thuế khoán |
|
|
Hộ thực hiện nộp thuế điện tử |
Khoảng 60% số hộ |
Mức độ sử dụng thực tế của dịch vụ nộp thuế |
|
|
Số thu từ khu vực hộkinh doanh năm 2025 |
5.970 tỷ đồng |
Tăng 45% |
Quy mô nghĩa vụ thuế của khu vực hộ kinh doanh |
|
Hộ thuộc diện bắt buộc đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử |
17.753/19.585 hộ (90,65%) |
Phạm vi hình thành dữ liệu giao dịch tại điểm bán |
|
Nguồn: Tổng hợp từ Hương Trang (2026), Trần Hoàng (2026)
Thực tiễn cho thấy, hiệu quả của liên thông dữ liệu phụ thuộc cốt lõi vào độ chính xác của định danh, mức độ đầy đủ của trường thông tin, thời điểm cập nhật và khả năng xác định nguồn dữ liệu. Những sai lệch về mã số thuế, căn cước công dân, kỳ báo cáo hay chủ thể sử dụng tài khoản thanh toán đều có thể dẫn đến kết quả đối chiếu thiếu chính xác. Do đó, giá trị quản lý không chỉ nằm ở khả năng kết nối mà quyết định bởi chất lượng dữ liệu sau kết nối. Mỗi tập dữ liệu cần phải gắn liền với nguồn tạo lập, đơn vị chịu trách nhiệm, quy tắc kiểm tra chất lượng và lịch sử điều chỉnh để cơ quan thuế và người nộp thuế có thể kiểm tra lại khi phát sinh chênh lệch.
Ứng dụng dữ liệu trong hoàn thuế và quản lý rủi ro
Trong 6 tháng đầu năm 2025, Chi cục Thuế khu vực I quản lý gần 342.000 hộ kinh doanh, trong đó trên 92% thực hiện giao dịch điện tử. Khoảng 52.700 hồ sơ hoàn thuế thu nhập cá nhân được xử lý theo phương thức tự động; thời gian giải quyết được báo cáo giảm khoảng 50%. Cơ quan thuế cũng sử dụng dữ liệu lớn và thuật toán phân tích chuỗi hóa đơn để hỗ trợ nhận diện rủi ro (Hoàng Điệp, 2025). Các số liệu này phản ánh quy mô ứng dụng công nghệ trong hoạt động nghiệp vụ tại cấp khu vực. Phạm vi của Chi cục Thuế khu vực I trong giai đoạn này gồm Hà Nội và Hòa Bình, nên kết quả được sử dụng như bằng chứng cấp khu vực thay vì chỉ báo riêng của Hà Nội.
Kết quả trên thể hiện 2 hướng sử dụng dữ liệu trong nghiệp vụ thuế. Hướng thứ nhất là tự động hóa những hồ sơ có cấu trúc thông tin rõ và quy trình xử lý tương đối chuẩn, điển hình là hoàn thuế thu nhập cá nhân. Hướng thứ 2 là phân tích dữ liệu để lựa chọn trường hợp cần kiểm tra, tập trung nguồn lực vào giao dịch hoặc chuỗi hóa đơn có dấu hiệu rủi ro.
Giá trị của công nghệ trong 2 hướng này được xác định bằng mức độ chính xác, thời gian xử lý, tỷ lệ hồ sơ phải chuyển sang xử lý thủ công và khả năng giải trình kết quả.
Đối với Hà Nội, một quy trình nghiệp vụ dựa trên dữ liệu cần bao gồm kiểm tra dữ liệu đầu vào, hình thành cảnh báo, xác minh, ghi nhận kết quả và sử dụng kết quả để điều chỉnh tiêu chí phân tích. Phạm vi số liệu công bố hiện tập trung vào số lượng hồ sơ, tỷ lệ giao dịch điện tử và thời gian xử lý; do đó, việc bổ sung các chỉ tiêu về tỷ lệ cảnh báo có căn cứ, tỷ lệ chuyển xử lý thủ công và kết quả sau giải trình sẽ tạo cơ sở đầy đủ hơn để đánh giá hiệu quả nghiệp vụ.
Sắp xếp bộ máy và năng lực của tổ chức
Từ ngày 01/3/2025, Tổng cục Thuế được tổ chức lại thành Cục Thuế; hệ thống thuế tại địa phương chuyển sang mô hình 20 Chi cục Thuế khu vực theo Quyết định số 381/QĐ-BTC. Chi cục Thuế khu vực I quản lý địa bàn Hà Nội và Hòa Bình (Bộ Tài chính, 2025a). Từ ngày 01/7/2025, Quyết định số 2229/QĐ-BTC điều chỉnh hệ thống địa phương thành 34 Thuế tỉnh, thành phố và tối đa 350 Thuế cơ sở (Bộ Tài chính, 2025b; LG, 2025). Hai lần thay đổi cơ cấu trong 4 tháng làm thay đổi địa bàn quản lý, mã đơn vị, tuyến báo cáo, thẩm quyền xử lý và quyền truy cập hệ thống.
Sự thay đổi tổ chức cho thấy kiến trúc dữ liệu và cấu trúc trách nhiệm có quan hệ với nhau. Khi địa bàn hoặc mã đơn vị thay đổi, hệ thống phải chuyển tiếp trạng thái hồ sơ, nghĩa vụ thuế, lịch sử xử lý và quyền truy cập theo đúng chủ thể phụ trách. Việc phân quyền theo vị trí việc làm giúp giới hạn phạm vi sử dụng dữ liệu; nhật ký truy cập và lịch sử thay đổi bảo đảm khả năng truy vết; cơ chế dự phòng duy trì dịch vụ trong thời gian chuyển đổi hệ thống.
Thực tế tháng 3/2025 cho thấy hệ thống thuế điện tử tạm dừng để nâng cấp, chuyển đổi danh mục cơ quan thuế (Minh Nguyệt, 2025). Sự kiện này phản ánh yêu cầu duy trì dịch vụ khi tổ chức bộ máy và mã quản lý thay đổi. Việc đánh giá năng lực tổ chức vì thế cần gắn với thời gian gián đoạn, thời gian khôi phục, số hồ sơ tồn đọng, mức độ đầy đủ của dữ liệu sau chuyển đổi và khả năng xác định đơn vị chịu trách nhiệm đối với từng hồ sơ.
|
BẢNG 2: PHẠM VI SỐ LIỆU THEO CÁC GIAI ĐOẠN TỔ CHỨC CỦA CƠ QUAN THUẾ TRONG NĂM 2025 |
|||
|
Giai đoạn |
Mô hình tổ chức |
Phạm vi số liệu |
Cách sử dụng trong nghiên cứu |
|
Trước ngày 01/3/2025 |
Cục Thuế TP. Hà Nội |
Số liệu riêng của Hà Nội, chủ yếu là kết quả năm 2024. |
Phân tích thực trạng dịch vụ số và liên thông dữ liệu tại Hà Nội trước khi sắp xếp. |
|
Từ ngày 01/3 đến ngày 30/6/2025 |
Chi cục Thuế khu vực I, gồm Hà Nội và Hòa Bình |
Chỉ báo tổng hợp về hộ kinh doanh, hóa đơn điện tử, hoàn thuế và giao dịch điện tử của toàn khu vực. |
Phân tích quy mô ứng dụng ở cấp khu vực; giữ nguyên phạm vi địa bàn khi diễn giải. |
|
Từ ngày 01/7/2025 |
Thuế TP. Hà Nội và các Thuế cơ sở |
Căn cứ tổ chức mới; số liệu riêng của Hà Nội năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026. |
Phân tích sự thay đổi về trách nhiệm dữ liệu, phân quyền và duy trì dịch vụ; kết quả vận hành sau khi bỏ thuế khoán. |
Nguồn: Tổng hợp từ Bộ Tài chính (2025a), Hoàng Điệp (2026), Trần Hoàng (2026)
Khung pháp lý trong quản lý thuế
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 được ban hành ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Riêng quy định tại Điều 13 và việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quy định tại Điều 26 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 (Quốc hội, 2025). Luật xác lập định hướng xây dựng hệ thống thông tin quản lý thuế tích hợp, tập trung; kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ chức có liên quan; cung cấp dịch vụ điện tử toàn trình; phân loại mức độ tuân thủ và áp dụng quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu.
Bên cạnh đó, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế (Chính phủ, 2026a) và Nghị định số 254/2026/NĐ-CP quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử (Chính phủ, 2026b) cùng có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 là căn cứ cho việc tổ chức hệ thống quản lý thuế và khai thác dữ liệu hóa đơn trong giai đoạn tiếp theo.
Đối với thực tiễn tại Hà Nội, hành lang pháp lý mới là bệ phóng quan trọng để chuyển từ các ứng dụng điện tử riêng lẻ sang mô hình quản lý tích hợp. Khi dữ liệu đăng ký, định danh, hóa đơn, thanh toán và nghĩa vụ thuế được kết nối xuyên suốt, cơ quan thuế có thêm công cụ mạnh mẽ để tạo lập thông tin, phân loại tuân thủ và khoanh vùng rủi ro chính xác hơn. Tuy nhiên, mức độ tự động hóa cao cũng đồng thời làm gia tăng các yêu cầu khắt khe về bảo đảm chất lượng dữ liệu, phân quyền truy cập chặt chẽ, lưu vết nghiệp vụ và thiết lập cơ chế xem xét, giải trình lại các quyết định tự động của hệ thống, qua đó định hình các hàm ý quản trị cốt lõi cho Thuế TP. Hà Nội trong giai đoạn tiếp theo.
HÀM Ý QUẢN TRỊ ĐỐI VỚI THUẾ TP. HÀ NỘI
Một là, hoàn thiện quản trị dữ liệu theo vòng đời
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dữ liệu đăng ký kinh doanh, dân cư, hóa đơn, tài khoản ngân hàng và hoạt động trên nền tảng số đã được sử dụng để nhận diện người nộp thuế, đối chiếu thông tin và hỗ trợ quản lý rủi ro. Giá trị của các nguồn dữ liệu này phụ thuộc vào độ chính xác của định danh, mức độ đầy đủ của trường thông tin, thời điểm cập nhật và khả năng xác định đơn vị chịu trách nhiệm. Thuế TP. Hà Nội cần xây dựng danh mục dữ liệu trọng yếu theo từng nhóm nghiệp vụ, trong đó xác định rõ nguồn tạo lập, mục đích sử dụng, tiêu chuẩn chất lượng, tần suất cập nhật, quyền truy cập, thời hạn lưu trữ và đầu mối xử lý sai lệch.
Quản trị dữ liệu cần được thực hiện trong toàn bộ quá trình, từ thu thập, kiểm tra, chia sẻ, khai thác đến điều chỉnh và lưu trữ. Mỗi tập dữ liệu phải có đơn vị chịu trách nhiệm nghiệp vụ, từ điển dữ liệu và quy tắc kiểm tra chất lượng thống nhất. Các chỉ tiêu theo dõi gồm: tỷ lệ khớp định danh, tỷ lệ hồ sơ trùng lặp, mức độ đầy đủ của trường bắt buộc, độ trễ đồng bộ và thời gian xử lý sai lệch. Đối với dữ liệu được chia sẻ từ cơ quan ngoài ngành Thuế, phạm vi khai thác cần phù hợp với mục đích quản lý, đồng thời bảo đảm nhật ký truy cập và khả năng truy nguyên nguồn dữ liệu. Cách tổ chức này tạo cơ sở để cơ quan thuế kiểm tra lại quá trình hình thành cảnh báo và giải thích căn cứ xử lý đối với người nộp thuế.
Hai là, tổ chức quy trình nghiệp vụ xuyên suốt và duy trì dịch vụ ổn định
Việc mở rộng kê khai, nộp thuế, hóa đơn điện tử và hoàn thuế tự động đặt ra yêu cầu tổ chức quy trình nghiệp vụ xuyên suốt từ khi phát sinh nghĩa vụ đến khi hoàn tất hồ sơ. Thuế TP. Hà Nội cần rà soát từng thủ tục trọng yếu, xác định rõ dữ liệu đầu vào, bước xử lý, đơn vị tiếp nhận, điểm chuyển giao và trường hợp cần cán bộ chuyên môn xem xét. Quy trình được thiết kế thống nhất sẽ hạn chế việc nhập lại thông tin, giảm thời gian xử lý và xác định rõ trách nhiệm khi hồ sơ phát sinh sai lệch.
Quá trình sắp xếp tổ chức trong năm 2025 cho thấy việc thay đổi địa bàn, mã đơn vị, tuyến báo cáo và quyền truy cập có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống. Theo đó, Thuế TP. Hà Nội cần xây dựng cơ chế duy trì dịch vụ cho các thủ tục thiết yếu, bao gồm: phương án chuyển đổi dữ liệu, kiểm thử phân quyền, đối soát trạng thái hồ sơ và bố trí kênh xử lý thay thế khi hệ thống gặp sự cố. Hiệu quả vận hành nên được theo dõi bằng tỷ lệ hồ sơ hoàn thành trên môi trường điện tử, thời gian xử lý, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung hoặc nhập lại, số lượng sự cố và thời gian khôi phục. Các chỉ tiêu này phản ánh chất lượng dịch vụ và khả năng duy trì hoạt động của cơ quan thuế trong điều kiện tổ chức thay đổi.
Ba là, kiểm soát việc sử dụng thuật toán trong quản lý rủi ro và tự động hóa
Dữ liệu lớn và các công cụ phân tích đã được sử dụng để lựa chọn hồ sơ rủi ro, xử lý hoàn thuế và hỗ trợ một số nghiệp vụ quản lý. Mức độ tự động hóa cao hơn đòi hỏi cơ chế kiểm soát tương ứng. Mỗi mô hình phân tích hoặc bộ quy tắc tự động cần xác định rõ mục đích, phạm vi dữ liệu, tiêu chí cảnh báo, phiên bản áp dụng, đơn vị phê duyệt và trường hợp phải chuyển sang cán bộ chuyên môn xem xét. Quy trình kiểm soát cũng cần lưu lại dữ liệu đầu vào, quy tắc xử lý và kết quả để có thể tái lập căn cứ của từng cảnh báo hoặc quyết định.
Hiệu quả của công cụ phân tích rủi ro cần được đánh giá bằng chất lượng kết quả thay vì số lượng cảnh báo được tạo ra. Các chỉ tiêu phù hợp gồm: tỷ lệ cảnh báo dẫn đến phát hiện có căn cứ, tỷ lệ hồ sơ được điều chỉnh sau giải trình, thời gian xác minh và kết quả thu được trên một đơn vị nguồn lực kiểm tra. Đối với hoàn thuế hoặc kê khai tự động, cần theo dõi tỷ lệ hồ sơ được xử lý trực tiếp, tỷ lệ chuyển sang xử lý thủ công, số trường hợp điều chỉnh và số phản ánh liên quan đến dữ liệu hoặc quy tắc hệ thống. Người nộp thuế cần được tiếp cận thông tin về căn cứ xử lý và có cơ chế yêu cầu kiểm tra lại khi dữ liệu chưa phản ánh đúng tình trạng thực tế.
Bốn là, xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả theo nhiều nhóm chỉ tiêu
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ phát triển của quản lý thuế số chưa thể phản ánh đầy đủ bằng số lượng tài khoản điện tử, số hồ sơ xử lý tự động hoặc mức tăng số thu. Thuế TP. Hà Nội cần xây dựng hệ thống đánh giá gồm 4 nhóm chỉ tiêu: mức độ thuận lợi và chi phí tuân thủ của người nộp thuế; chất lượng và khả năng liên thông dữ liệu; năng suất xử lý và hiệu quả quản lý rủi ro; độ ổn định, an toàn và khả năng giải trình của hệ thống. Số thu ngân sách được sử dụng như một chỉ báo kết quả trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế, thay đổi chính sách, mở rộng cơ sở thuế và hoạt động thanh tra, kiểm tra.
Hệ thống đánh giá cũng cần phản ánh mức độ tiếp cận dịch vụ của các nhóm người nộp thuế. Hộ kinh doanh nhỏ, người cao tuổi và người có kỹ năng số hạn chế cần được hỗ trợ thông qua hướng dẫn trực tiếp, tổng đài, biểu mẫu dễ sử dụng và cơ chế ủy quyền rõ ràng. Việc theo dõi tỷ lệ hồ sơ cần hỗ trợ, loại lỗi thường gặp và thời gian hoàn thành theo từng nhóm người dùng sẽ giúp cơ quan thuế điều chỉnh dịch vụ phù hợp. Mục tiêu của quá trình chuyển đổi là mở rộng khả năng thực hiện nghĩa vụ thuế trên môi trường số, đồng thời bảo đảm mọi người nộp thuế đều có thể tiếp cận và hoàn thành thủ tục theo quy định.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tài chính (2025a). Quyết định số 381/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế.
2. Bộ Tài chính (2025b). Quyết định số 2229/QĐ-BTC ngày 30/6/2025 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 381/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế.
3. Chính phủ (2026a). Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế.
4. Chính phủ (2026b). Nghị định số 254/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử.
5. Chuyên trang chuyển đổi số thủ đô (2024). Quản lý thuế hộ kinh doanh gắn với chuyển đổi số. https://chuyendoiso.hanoi.gov.vn/tin-tuc-su-kien/quan-ly-thue-ho-kinh-doanh-gan-voi-chuyen-doi-so-2852250418151628672.htm.
6. Gia Minh (2026). Đồng hành cùng hộ kinh doanh chuyển từ thuế khoán sang kê khai. https://nhandan.vn/dong-hanhcung-ho-kinh-doanh-chuyen-tu-thue-khoan-sang-ke-khai-post973120.html.
7. Hoàng Điệp (2025). 6 tháng đầu năm 2025: Chi cục Thuế khu vực I cán mốc số thu 375.891 tỷ đồng. https://hanoi.gov.vn/tin-so-nganh/6-thang-dau-nam-2025-chi-cuc-thue-khu-vuc-i-can-moc-so-thu-375891-ty-dong 4250628110440058.htm.
8. Hương Trang (2026). “Đi tận nơi, gặp tận người” - Thuế thành phố Hà Nội đồng hành với hộ kinh doanh. https://hanoimoi.vn/di-tan-noi-gap-tan-nguoi-thue-thanh-pho-ha-noi-dong-hanh-voi-ho-kinh-doanh-739124.html.
9. LG (2025). Cục Thuế áp dụng mô hình 03 cấp mới từ ngày 01/7/2025. https://www.mof.gov.vn/tin-tuc-tai-chinh/thoi-su/cuc-thue-ap-dung-mo-hinh-03-cap-moi-tu-ngay-0172025.
10. Minh Anh (2025). Hà Nội thu ngân sách vượt hơn 700.000 tỷ đồng, đứng đầu cả nước. https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-thu-ngan-sach-vuot-hon-700000-ty-dong-dung-dau-ca-nuoc-103251231220426767.htm.
11. Minh Nguyệt (2025). Hệ thống thuế điện tử hoạt động trở lại phục vụ người dân, doanh nghiệp. https://hanoi.gov.vn/tin-songanh/he-thong-thue-dien-tu-hoat-dong-tro-lai-phuc-vu-nguoi-dan-doanh-nghiep-4250317133610391.htm.
12. OECD (2020). Tax Administration 3.0: The Digital Transformation of Tax Administration. OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/ca274cc5-en.
13. OECD (2025). Tax Administration 3.0: From Vision to Strategy. OECD, Paris, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/topics/policy-issues/tax-administration/tax-administration-3-0-from-vision-to-strategy.pdf.
14. OECD (2025). Tax Administration Digitalisation and Digital Transformation Initiatives. OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/c076d776-en.
15. Quốc hội (2025). Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 ngày 10/12/2025.
16. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
17. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 508/QĐ-TTg ngày 23/4/2022 phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030.
18. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030.
19. Trần Hoàng (2026). Hà Nội: 98% hộ kinh doanh có tài khoản giao dịch điện tử. https://nguoiquansat.vn/ha-noi-98-ho-kinhdoanh-co-tai-khoan-giao-dich-dien-tu-299973.html.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 10/2026 |
Tin tức khác
Nền kinh tế số Việt Nam tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á
Du lịch TP. Hồ Chí Minh trước bài toán chuyển đổi số, chuyển đổi xanh
Hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ được miễn thủ tục bảo vệ dữ liệu cấp độ 2
Bộ Tài chính đào tạo, nâng cao năng lực chuyển đổi số cho hơn 15.000 doanh nghiệp
TECHFEST Việt Nam 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy thương mại hóa sáng tạo
Doanh nghiệp không ngủ - xu hướng tất yếu trong kỷ nguyên AI
AI đang làm thay đổi cách doanh nghiệp bảo hiểm kiếm tiền
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tinh thần Hiến pháp năm 1946 phải được thể hiện bằng sự tận tâm phục vụ nhân dân
Không bắt buộc người dân, doanh nghiệp chuyển sang sử dụng phương tiện giao thông thuần điện
Sẽ tăng mức phạt vi phạm nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy
Đề xuất hơn 63.450 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy, tội phạm
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ưu tiên cao nhất kiểm soát lạm phát
Tập trung cao độ, quyết tâm hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026
Hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ được miễn thủ tục bảo vệ dữ liệu cấp độ 2
Giao dịch ngân hàng, chứng khoán, thương mại điện tử phải liên kết danh tính điện tử quốc gia
Xu hướng giảm tốc tăng trưởng kinh tế Trung Quốc: Tác động đến Việt Nam và một số hàm ý chính sách
Hạ tầng triển lãm mở rộng kết nối doanh nghiệp tại Hà Nội
Phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Chuyển từ lượng sang chất
Phát triển dịch vụ logistics trong thương mại điện tử xuyên biên giới theo mô hình B2C tại Việt Nam
Bài 3: Mở đường cho tư nhân bước vào những "sân chơi" lớn
TP. Hồ Chí Minh mời gọi đầu tư công viên hơn 456 ha tại Củ Chi cùng loạt dự án lớn
Du lịch Việt Nam tăng tốc, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế năm 2026
Grab giảm phí, tăng hỗ trợ tài xế sau kết quả xác minh của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia








