Bài 3: Mở đường cho tư nhân bước vào những "sân chơi" lớn
![]() |
| Hệ thống hạ tầng APEC 2027 đang vươn mình mạnh mẽ, tạo nên những đô thị chiến lược. |
Tạo “sân chơi” lớn cho khu vực tư nhân
Sau bài toán huy động nguồn lực và mở rộng các kênh dẫn vốn, vấn đề tiếp theo đặt ra là nền kinh tế cần những không gian đầu tư đủ lớn để hấp thụ hiệu quả nguồn lực ấy. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng khi Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số, đòi hỏi sự gia tăng mạnh mẽ về vốn đầu tư, đồng thời phải tạo được bước chuyển về năng suất, công nghệ và chất lượng tăng trưởng.
Hạ tầng giao thông, đường sắt, cảng biển, logistics, năng lượng, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và công nghiệp công nghệ cao đang mở ra những dư địa phát triển đáng kể. Điểm chung của các lĩnh vực này là nhu cầu vốn lớn, thời gian đầu tư dài, yêu cầu kỹ thuật phức tạp và khả năng tạo tác động lan tỏa tới nhiều ngành kinh tế.
Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra định hướng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia các dự án quan trọng quốc gia, mở rộng hợp tác công tư trong phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển từ tư duy huy động vốn tư nhân sang tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đầu tư, xây dựng và vận hành các dự án chiến lược.
Thực tế cho thấy khả năng đảm nhận những dự án quy mô lớn của khu vực tư nhân đã có bước tiến đáng kể. Trong ba đợt khởi công, khánh thành đồng loạt các công trình, dự án lớn năm 2025, cả nước có 564 dự án với tổng mức đầu tư hơn 5,14 triệu tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn tư nhân đạt khoảng 3,84 triệu tỷ đồng, chiếm 74,6%.
![]() |
| Những dự án quy mô lớn của khu vực tư nhân đã có bước tiến đáng kể. |
Những con số này phản ánh tiềm lực đầu tư đáng kể của khu vực tư nhân, đồng thời cho thấy dư địa huy động nguồn lực xã hội cho các công trình có ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, khả năng tạo sức bật cho nền kinh tế còn phụ thuộc vào việc nguồn vốn ấy được phân bổ vào đâu, tạo ra giá trị gia tăng và năng lực sản xuất mới như thế nào.
Theo PGS.TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, kinh tế tư nhân là lực lượng nền tảng của kinh tế thị trường, đồng thời giữ vai trò chủ yếu trong sáng tạo của cải vật chất, khoa học công nghệ và những năng lực phát triển mới. "Vấn đề quan trọng là phải tạo được cơ chế để các nguồn lực lưu thông, được phân bổ hiệu quả vào những hoạt động có khả năng thúc đẩy tăng trưởng".
Từ góc nhìn này, mở không gian phát triển cho kinh tế tư nhân cần hướng tới những lĩnh vực có khả năng tạo chuyển biến về cấu trúc nền kinh tế. Một tuyến đường sắt hiện đại có thể giảm chi phí vận tải, mở rộng kết nối vùng; một trung tâm dữ liệu tạo nền tảng cho kinh tế số; một dự án năng lượng quy mô lớn góp phần bảo đảm nguồn điện cho sản xuất và thu hút đầu tư công nghệ cao.
Đòi hỏi ấy càng trở nên cấp thiết khi nền kinh tế đứng trước yêu cầu hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Các vấn đề đương đại trong phát triển” ngày 2/11/2026, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi nhấn mạnh, khu vực kinh tế tư nhân cần vươn lên trở thành lực lượng tiên phong trước những xu hướng phát triển mới.
"Trọng tâm trong thời gian tới là nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh và sức đổi mới sáng tạo, qua đó hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị trong những ngành có giá trị gia tăng cao", ông Mãi nhấn mạnh.
![]() |
| Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi. Ảnh: Quochoi.vn |
Định hướng này cho thấy yêu cầu mở rộng không gian đầu tư cần gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Bên cạnh những công trình hạ tầng truyền thống, các lĩnh vực công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng mới và công nghiệp xanh cần trở thành những thị trường phát triển mới của doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của những lĩnh vực mới chưa đồng nghĩa nền kinh tế sẽ nhanh chóng hình thành năng lực cạnh tranh tương ứng.
TS. Nguyễn Mạnh Hùng, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính, lưu ý rằng các ngành kinh tế mới hình thành trên cơ sở tích lũy và kết hợp những năng lực sẵn có. Theo thống kê, tỷ trọng kinh tế số giai đoạn 2023-2025 mới đạt 14,02% GDP, trong khi chi cho nghiên cứu và phát triển ở mức 0,41% GDP. Khoảng cách này cho thấy yêu cầu phải đẩy nhanh quá trình tích lũy công nghệ, nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo để đáp ứng những mục tiêu phát triển cao hơn.
Điều đó cũng đặt ra yêu cầu lựa chọn những dự án đầu tư có khả năng kết nối các ngành hiện hữu với những lĩnh vực mới, tạo cơ hội để doanh nghiệp trong nước từng bước tiếp nhận công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và tham gia các chuỗi giá trị có hàm lượng tri thức cao.
Nhìn từ yêu cầu tăng trưởng 2 con số, giá trị của việc mở thêm không gian đầu tư nằm ở khả năng tạo ra những động lực phát triển mới, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.
Để dự án lớn trở thành bệ phóng cho doanh nghiệp Việt
Mở được những không gian đầu tư quy mô lớn là bước khởi đầu. Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để chính những dự án ấy trở thành môi trường nâng tầm doanh nghiệp Việt, hình thành đội ngũ nhà thầu, nhà cung ứng và các tập đoàn có khả năng đảm nhận những công việc ngày càng phức tạp.
Một công trình hạ tầng khi hoàn thành có thể tạo ra giá trị sử dụng trong nhiều thập kỷ. Nhưng ngay trong quá trình triển khai, dự án còn tạo cơ hội để doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm quản trị, tiếp nhận công nghệ, phát triển nhân lực và mở rộng mạng lưới đối tác.
Đây là khía cạnh được TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, nhấn mạnh khi phân tích sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân vào các công trình quy mô lớn phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc.
Theo ông, những dự án có quy mô lớn, tiến độ gấp và tiêu chuẩn kỹ thuật cao đặt doanh nghiệp trước yêu cầu phải đồng thời nâng cấp công nghệ, quản trị dự án, tổ chức chuỗi cung ứng, điều phối nhà thầu, chất lượng nhân lực và khả năng kiểm soát rủi ro.
![]() |
| TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh. |
Thông qua quá trình thực hiện, doanh nghiệp có thể tích lũy một loại nguồn lực quan trọng mà TS. Võ Trí Thành gọi là “vốn năng lực”. Đó là kinh nghiệm giải quyết các bài toán kỹ thuật phức tạp, đội ngũ kỹ sư trưởng thành, hệ thống quản trị chuyên nghiệp hơn và khả năng phối hợp với mạng lưới nhà cung cấp ngày càng hiệu quả.
Những năng lực này tiếp tục được sử dụng trong các dự án tiếp theo, giúp doanh nghiệp từng bước nâng quy mô hoạt động và tham gia những phân khúc có giá trị cao hơn.
"Nếu được tổ chức theo hướng đó, mỗi dự án chiến lược có thể trở thành một bước tiến trong quá trình hình thành các doanh nghiệp đầu đàn. Doanh nghiệp lớn lên từ năng lực thực hiện, khả năng làm chủ công nghệ và sức cạnh tranh được tích lũy qua thực tiễn", TS. Võ Trí Thành nhận định.
Song để các dự án lớn thực sự tạo sức bật rộng khắp, lợi ích phát triển cần lan tỏa tới mạng lưới doanh nghiệp phía sau những nhà đầu tư, tổng thầu quy mô lớn.
PGS.TS. Phạm Thế Anh, Trưởng khoa Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, đầu tư công muốn phát huy hiệu quả lan tỏa cần tập trung vào những dự án trọng điểm, đồng thời chú trọng nâng tỷ lệ nội địa hóa. Để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, cần có các cơ chế khuyến khích phù hợp.
Đặt trong bối cảnh mở rộng không gian đầu tư, quan điểm này gợi mở yêu cầu nhìn nhận mỗi dự án theo toàn bộ chuỗi giá trị mà nó có thể hình thành.
Phía sau một tuyến đường sắt là nhu cầu về vật liệu, cơ khí, thiết bị điện, hệ thống tín hiệu, phần mềm, vận tải và bảo trì. Một trung tâm dữ liệu kéo theo các hoạt động xây dựng, cung cấp điện, hệ thống làm mát, an ninh mạng và dịch vụ số. Những dự án năng lượng quy mô lớn tạo thêm thị trường cho doanh nghiệp cơ khí, chế tạo thiết bị, xây lắp, vận hành và dịch vụ kỹ thuật.
Khi doanh nghiệp trong nước tham gia được nhiều công đoạn, dòng vốn đầu tư tiếp tục tạo ra đơn hàng, việc làm, nhu cầu đổi mới máy móc và đào tạo nhân lực. Giá trị lan tỏa của dự án nhờ đó được mở rộng qua nhiều tầng của nền kinh tế.
![]() |
| Phối cảnh sân bay Phú Quốc. Nguồn: Sun Group. |
Ngược lại, nếu doanh nghiệp Việt chủ yếu đảm nhận các khâu xây lắp, gia công hoặc dịch vụ có giá trị thấp, trong khi phần lớn thiết bị, công nghệ và dịch vụ kỹ thuật quan trọng phụ thuộc vào bên ngoài, tác động đối với năng lực nội sinh sẽ bị hạn chế.
Đây cũng là lý do việc phát triển những ngành kinh tế mới cần được đặt trong mối liên hệ với nâng cấp các ngành sản xuất hiện có. Doanh nghiệp muốn tham gia lĩnh vực công nghệ cao phải từng bước tích lũy năng lực từ công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chính xác, điện tử, phần mềm, tự động hóa và các hoạt động nghiên cứu ứng dụng.
Để quá trình này diễn ra nhanh hơn, cần tăng cường liên kết giữa Nhà nước, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi, mô hình liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần được tổ chức lại theo hướng gắn chặt hơn với nhu cầu thị trường. "Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, đặt hàng những bài toán lớn, chia sẻ rủi ro và tạo thị trường ban đầu; doanh nghiệp là chủ thể nghiên cứu ứng dụng, thương mại hóa; các trường đại học, viện nghiên cứu tập trung nghiên cứu cơ bản, đào tạo nhân lực và cung cấp chuyên gia".
Cách tiếp cận này có ý nghĩa trực tiếp đối với việc hình thành năng lực sản xuất mới. Khi doanh nghiệp được tham gia từ khâu xác định nhu cầu, nghiên cứu giải pháp đến ứng dụng và thương mại hóa, kết quả khoa học công nghệ có thêm điều kiện chuyển thành sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh thực tế.
Đối với các dự án chiến lược, sự liên kết ấy còn giúp doanh nghiệp trong nước từng bước làm chủ những công đoạn kỹ thuật quan trọng, nâng tỷ lệ nội địa hóa và mở rộng khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Từ đó, hiệu quả của việc huy động nguồn lực tư nhân cần được đánh giá trên cả giá trị đầu tư và những năng lực mới được tạo ra. Một dự án thành công phải góp phần hình thành thêm doanh nghiệp mạnh, đội ngũ nhân lực chất lượng cao, năng lực công nghệ và mạng lưới cung ứng có khả năng tiếp tục phát triển sau khi công trình hoàn thành.
Đây mới là nền tảng để những không gian đầu tư lớn chuyển thành sức bật lâu dài của khu vực kinh tế tư nhân.
Gỡ rào cản, tạo niềm tin cho những khoản đầu tư dài hạn
Cơ hội đầu tư đang mở rộng, song từ tiềm năng thị trường đến quyết định bỏ vốn của doanh nghiệp vẫn còn một khoảng cách đáng kể.
Đặc điểm của những dự án hạ tầng, năng lượng và công nghệ quy mô lớn là nhu cầu vốn ban đầu cao, thời gian thu hồi kéo dài, yêu cầu kỹ thuật phức tạp và chịu tác động của nhiều yếu tố chính sách. Nhà đầu tư phải tính toán đồng thời chi phí vốn, đất đai, tiến độ thực hiện, giá đầu vào, nhu cầu thị trường, cơ chế khai thác và rủi ro pháp lý.
Với những dự án có vòng đời hàng chục năm, tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường đầu tư trở thành yếu tố quan trọng trong phương án tài chính. Một thay đổi về quy hoạch, thủ tục hoặc cơ chế giá có thể làm biến động hiệu quả đầu tư, khiến doanh nghiệp thận trọng trước những cam kết vốn dài hạn.
Bởi thế, muốn khu vực tư nhân tham gia sâu vào các lĩnh vực chiến lược, yêu cầu trước tiên là tạo dựng môi trường thể chế minh bạch, ổn định và đủ tin cậy.
TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, vấn đề của nền kinh tế hiện nay không hẳn nằm ở sự thiếu hụt nguồn lực, mà còn ở khả năng giải phóng nguồn lực thông qua cải cách thể chế và đổi mới phương thức phân bổ.
Theo ông, những thủ tục kéo dài, quy định chồng chéo và sự can thiệp quá sâu vào quyết định đầu tư của doanh nghiệp làm gia tăng chi phí, thời gian và rủi ro, đồng thời thu hẹp không gian đổi mới sáng tạo.
Những rào cản này càng bộc lộ rõ khi quy mô dự án tăng lên. "Một doanh nghiệp có thể chấp nhận một số biến động ngắn hạn đối với khoản đầu tư nhỏ, nhưng sẽ khó đưa ra quyết định với dự án hàng chục nghìn tỷ đồng nếu thiếu cơ sở dự báo ổn định về pháp lý và hiệu quả kinh doanh", TS. Nguyễn Đình Cung đặt vấn đề.
![]() |
| PGS.TS Lê Xuân Bá, chuyên gia kinh tế độc lập. Ảnh: Quochoi.vn. |
Cùng quan điểm về yêu cầu tháo gỡ rào cản thể chế, PGS.TS Lê Xuân Bá, chuyên gia kinh tế độc lập, chỉ ra rằng khu vực tư nhân vẫn gặp khó khăn từ thủ tục hành chính rườm rà, môi trường cạnh tranh chưa thực sự bình đẳng và sự thiếu nhất quán trong thực thi chính sách.
“Chúng ta cần khôi phục và củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp thông qua những thay đổi thực chất trong chính sách. Đặc biệt, cần khắc phục tình trạng doanh nghiệp tư nhân gặp bất lợi trong tiếp cận đất đai, tín dụng và các chính sách hỗ trợ so với những khu vực kinh tế khác”, PGS.TS. Lê Xuân Bá nêu rõ.
Đáng chú ý, PGS.TS. Lê Xuân Bá đề xuất xem xét bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, bởi theo ông, cơ chế này có thể tạo thêm rào cản và lãng phí nguồn lực, trong khi những yêu cầu quản lý cần thiết vẫn có thể được thực hiện thông qua các công cụ pháp luật chuyên ngành.
Dù cần được xem xét trong tổng thể yêu cầu quản lý nhà nước, đề xuất trên phản ánh một vấn đề cốt lõi. Muốn doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực mới, chính sách phải giảm được chi phí tuân thủ, hạn chế rủi ro phát sinh từ thủ tục và bảo đảm quyền tiếp cận cơ hội kinh doanh bình đẳng.
Tuy nhiên, tháo gỡ rào cản pháp lý mới giải quyết một phần bài toán. Với các dự án có tính chiến lược, nhất là khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, khả năng huy động nguồn vốn dài hạn còn phụ thuộc vào cơ chế phân bổ, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính.
Ở góc độ tài chính cho khoa học, công nghệ, PGS.TS. Vũ Cương (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, ngân sách nhà nước khó có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu đầu tư, trong khi vốn tư nhân thường thận trọng với các dự án có rủi ro công nghệ và thị trường cao.
Để khơi thông nguồn lực, ông đề xuất áp dụng mô hình tài chính hỗn hợp, sử dụng vốn ngân sách nhà nước hoặc vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) để chia sẻ rủi ro, qua đó thu hút thêm dòng vốn thương mại từ khu vực tư nhân.
Điểm đáng chú ý của mô hình này là nguồn lực nhà nước được sử dụng theo hướng tạo điều kiện để các nguồn vốn khác cùng tham gia, thay vì phải trực tiếp đáp ứng toàn bộ nhu cầu đầu tư. Khi một phần rủi ro được chia sẻ thông qua cơ chế phù hợp, những dự án có tiềm năng tạo ra công nghệ và thị trường mới sẽ có thêm khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn.
PGS.TS. Vũ Cương cũng kiến nghị: "Xây dựng cơ chế bảo lãnh tín dụng hai tầng, gồm quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương hoặc ngành ở tầng thứ nhất và cơ chế tái bảo lãnh quốc gia ở tầng thứ hai. Đây được xem là lớp đệm an toàn nhằm hỗ trợ các ngân hàng thương mại mạnh dạn tài trợ những dự án công nghệ có thời gian đầu tư, thu hồi vốn dài".
Những đề xuất này mở ra hướng tiếp cận đáng chú ý đối với việc huy động nguồn lực tư nhân vào các lĩnh vực có tính đột phá. Thay vì để doanh nghiệp tự gánh toàn bộ rủi ro trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ, Nhà nước có thể thiết kế các công cụ tài chính phù hợp để chia sẻ rủi ro, tạo điều kiện thu hút thêm nguồn lực xã hội.
Đối với các dự án hạ tầng chiến lược, yêu cầu chia sẻ rủi ro cũng đặt ra trong quan hệ hợp tác công tư. Nhà đầu tư tư nhân có thể chủ động quản lý rủi ro kinh doanh, song những rủi ro liên quan đến thay đổi chính sách, quy hoạch, cơ chế giá và trách nhiệm của các bên cần được xác định rõ ràng ngay từ đầu.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP tiếp tục sửa đổi các quy định về hợp tác công tư theo hướng nâng cao tính khả thi, minh bạch, đồng bộ và đa dạng hóa hình thức hợp tác giữa Nhà nước với khu vực tư nhân. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cần đi cùng năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm những cam kết và cơ chế phân bổ rủi ro được vận hành ổn định trong suốt vòng đời dự án.
Cùng với thể chế và tài chính, cách thức tổ chức quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp cũng cần có sự thay đổi.
TS. Võ Trí Thành cho rằng, quan hệ này cần tiến tới tinh thần “đồng kiến tạo”. Nhà nước xác lập định hướng phát triển, hoàn thiện quy hoạch, thể chế và các điều kiện cần thiết; doanh nghiệp tham gia bằng nguồn lực, công nghệ, sáng kiến và năng lực tổ chức thực hiện. Sự phối hợp cần được hình thành ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án để tận dụng tốt hơn tri thức và kinh nghiệm thực tiễn của khu vực tư nhân.
"Tinh thần đồng kiến tạo đòi hỏi sự phân định rõ vai trò, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bên. Đặc biệt, việc lựa chọn nhà đầu tư phải dựa trên những tiêu chí minh bạch, cạnh tranh thực chất và năng lực triển khai, bảo đảm nguồn lực quốc gia được phân bổ tới những doanh nghiệp có khả năng thực hiện dự án hiệu quả", TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh.
Khi môi trường đầu tư ổn định, cơ chế tài chính được thiết kế phù hợp và doanh nghiệp có cơ hội tham gia bình đẳng, những dự án quy mô lớn mới có điều kiện chuyển từ chủ trương thành hoạt động đầu tư thực tế.
![]() |
| PGS.TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. |
Ở góc nhìn dài hạn, PGS.TS. Trần Đình Thiên cho rằng đổi mới mô hình phát triển đòi hỏi Việt Nam chuyển nhanh khỏi cách tăng trưởng dựa nhiều vào đất đai, lao động trình độ thấp và gia công, lắp ráp, hướng tới khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh. Muốn thực hiện bước chuyển này, thể chế phải tạo điều kiện cho cạnh tranh, sáng tạo và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.
Từ yêu cầu đó, mở không gian lớn cho kinh tế tư nhân cần được nhìn nhận như một quá trình đồng bộ. Thể chế mở đường để doanh nghiệp tiếp cận cơ hội; các công cụ tài chính giúp nguồn vốn vượt qua rào cản rủi ro; những dự án chiến lược tạo thị trường để doanh nghiệp tích lũy công nghệ, quản trị và năng lực tổ chức; các chuỗi cung ứng trong nước tiếp tục nhân rộng giá trị của nguồn vốn đầu tư.
Thành công của quá trình này cần được đo bằng số dự án được triển khai hiệu quả, lượng nguồn lực được đưa vào sản xuất, giá trị gia tăng tạo ra trong nước và số doanh nghiệp Việt trưởng thành sau những dự án lớn.
Bởi suy cho cùng, mở rộng không gian đầu tư chỉ thực sự có ý nghĩa khi nguồn lực tư nhân được chuyển hóa thành năng lực sản xuất mới, năng suất cao hơn và những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh trong các chuỗi giá trị lớn. Đây là nền tảng quan trọng để khu vực kinh tế tư nhân tạo sức bật cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp theo về sự chuyển mình của chính các doanh nghiệp Việt Nam.
(Còn tiếp)
Tin tức khác
Du lịch Việt Nam tăng tốc, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế năm 2026
Grab giảm phí, tăng hỗ trợ tài xế sau kết quả xác minh của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia
TP. Hồ Chí Minh tháo gỡ vướng mắc, giới thiệu hơn 200 dự án tới doanh nghiệp Hàn Quốc
PETROVIETNAM dẫn đầu 72 doanh nghiệp Việt trong Fortune Southeast Asia 500
Khu công nghiệp không thể chỉ cạnh tranh bằng đất sạch và giá thuê
Vương quốc Anh - Việt Nam: Tăng cường hợp tác phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh
Giá xăng dầu tiếp tục giảm sâu, xăng E5RON92 giảm 2.305 đồng/lít từ 15h ngày 5/11
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Không bắt buộc người dân, doanh nghiệp chuyển sang sử dụng phương tiện giao thông thuần điện
Sẽ tăng mức phạt vi phạm nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy
Đề xuất hơn 63.450 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy, tội phạm
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ưu tiên cao nhất kiểm soát lạm phát
Tập trung cao độ, quyết tâm hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026
Hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ được miễn thủ tục bảo vệ dữ liệu cấp độ 2
Giao dịch ngân hàng, chứng khoán, thương mại điện tử phải liên kết danh tính điện tử quốc gia
Đưa vùng Trung du và miền núi phía Bắc trở thành cửa ngõ kết nối ASEAN với Trung Quốc
TS. Lê Duy Bình: Phản ứng chính sách thần tốc khơi thông nguồn lực tăng trưởng
Bài 3: Mở đường cho tư nhân bước vào những "sân chơi" lớn
TP. Hồ Chí Minh mời gọi đầu tư công viên hơn 456 ha tại Củ Chi cùng loạt dự án lớn
Du lịch Việt Nam tăng tốc, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế năm 2026
Grab giảm phí, tăng hỗ trợ tài xế sau kết quả xác minh của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia
TP. Hồ Chí Minh tháo gỡ vướng mắc, giới thiệu hơn 200 dự án tới doanh nghiệp Hàn Quốc
PETROVIETNAM dẫn đầu 72 doanh nghiệp Việt trong Fortune Southeast Asia 500
Khu công nghiệp không thể chỉ cạnh tranh bằng đất sạch và giá thuê
Vương quốc Anh - Việt Nam: Tăng cường hợp tác phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh
















