Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ
![]() |
| PGS.TS. Bùi Quang Tuấn Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam |
Phóng viên: Năm 2026 đang bước vào những tháng cuối cùng, theo ông, đâu là những vấn đề cần tập trung trong thời gian còn lại của năm nay và cần chuẩn bị gì để duy trì tăng trưởng 2 con số trong năm 2027?
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn: Đến thời điểm này, năm 2026 chỉ còn khoảng hai tháng. Vì vậy, điều cần làm trước hết là tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu đã đặt ra từ đầu năm. Đây đều là những mục tiêu rất thách thức.
Đặc biệt, để đạt mức tăng trưởng 2 con số cho cả năm, quý IV phải tăng trưởng khoảng 12,5%. Đây là thách thức rất lớn. Do đó, những nhiệm vụ đã xác định cần tiếp tục được triển khai, chẳng hạn như đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, bảo đảm đúng tiến độ.
Tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng năm nay có thể đạt được, bởi chúng ta đã huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các nguồn lực cũng đã được huy động ở mức rất cao. Tuy nhiên, sang năm 2027, khi chúng ta tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số thì cũng còn nhiều thách thức.
Vấn đề thứ nhất là nếu không duy trì được những nền tảng quan trọng, tăng trưởng sẽ dần suy giảm. Hơn nữa, khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao cũng trở nên khó khăn hơn. Đây là một quy luật kinh tế.
Vì vậy, nếu không xác định và phát triển được những trụ cột tăng trưởng mới mà chỉ tiếp tục dựa vào các động lực truyền thống, chúng ta sẽ rất khó đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Vấn đề thứ hai là nền kinh tế Việt Nam hiện đã hội nhập rất sâu rộng, đồng nghĩa với việc phụ thuộc khá lớn vào những yếu tố bên ngoài. Chẳng hạn, xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào nhu cầu và diễn biến của thị trường thế giới. Hiện nay, có hai xu hướng quốc tế mà chúng ta cần đặc biệt chú ý.
Thứ nhất là làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI). Hiện đã xuất hiện những lo ngại về nguy cơ hình thành bong bóng AI khi lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực này quá lớn. Theo những con số tôi được biết, 5 công ty công nghệ hàng đầu đã đầu tư khoảng 800 tỷ USD vào AI, trong khi doanh thu trực tiếp mới vào khoảng 150 - 200 tỷ USD. Khi nguồn vốn đầu tư tăng mạnh nhưng doanh thu chưa tương xứng, kỳ vọng của nhà đầu tư có thể không được đáp ứng, từ đó xuất hiện những rủi ro.
Không thể cho rằng cứ đầu tư vào công nghệ là không có rủi ro. Chúng ta từng chứng kiến cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực công nghệ thông tin vào đầu những năm 2000.
Đối với Việt Nam, nhu cầu thế giới dành cho các sản phẩm điện tử xuất khẩu hiện tương đối tốt. Tuy nhiên, nếu ngành AI xảy ra khủng hoảng hoặc suy thoái, hoạt động xuất khẩu của chúng ta có thể chịu ảnh hưởng rất mạnh.
Thứ hai là vấn đề đầu vào của nền kinh tế, đặc biệt là xăng dầu. Giá xăng dầu có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế và hiện phụ thuộc nhiều vào những bất ổn địa chính trị. Tình hình tại Nga, Trung Đông và những diễn biến liên quan đến lực lượng Houthi tiếp tục khiến vấn đề trở nên phức tạp. Vì vậy, tôi chưa nhìn thấy một triển vọng thực sự lạc quan về khả năng ổn định giá dầu.
Hai xu hướng này cần được theo dõi hết sức sát sao để có sự chuẩn bị phù hợp. Nếu không chủ động, nền kinh tế có thể chịu những tác động tiêu cực.
![]() |
| Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027. |
Phóng viên: Trước những rủi ro như trên, Việt Nam cần chuẩn bị những phương án gì để nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm mục tiêu tăng trưởng, thưa ông?
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn: Để nâng cao năng lực chống chịu, trước hết chúng ta phải xem xét các kênh tác động từ bên ngoài đối với nền kinh tế. Những kênh quan trọng gồm nhu cầu thị trường thế giới, năng lượng, vốn và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Đối với năng lượng, cần chuẩn bị các nguồn cung và dự trữ cần thiết để bảo đảm an ninh năng lượng. Nếu xảy ra đứt gãy nguồn cung dầu, chúng ta phải có khả năng phản ứng phù hợp.
Tương tự, đối với hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là những đơn hàng trong lĩnh vực điện tử có liên quan nhiều đến ngành AI, cần chuẩn bị các phương án dự phòng nếu thị trường xuất hiện những thay đổi bất lợi. Việt Nam hiện phụ thuộc khá lớn vào hoạt động xuất nhập khẩu để thúc đẩy tăng trưởng. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào một kịch bản thuận lợi mà cần có phương án B để ứng phó khi nhu cầu thế giới thay đổi.
Bên cạnh đó, cần chuẩn bị các kịch bản liên quan đến dòng vốn và ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó có việc kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đã đặt ra.
Đây đều là những vấn đề phải được tính toán và chuẩn bị từ trước. Bởi lẽ, tăng trưởng có thể đạt mức cao, nhưng nếu không kiểm soát được những bất ổn kinh tế vĩ mô thì các thành quả tăng trưởng cũng có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Phóng viên: Việt Nam đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Xin ông cho biết, cần làm gì để những động lực này đóng góp thực chất hơn cho tăng trưởng, bên cạnh các động lực truyền thống như đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng?
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn: Trước hết, cần thống nhất rằng việc xác lập và chuyển đổi mô hình tăng trưởng là cả một quá trình, không thể muốn là thực hiện được ngay. Đặc biệt, chuyển từ những trụ cột tăng trưởng truyền thống như xuất nhập khẩu, đầu tư công sang các động lực mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không phải việc dễ dàng.
Quá trình này đòi hỏi nhiều thời gian, thậm chí phải thay đổi cả công nghệ, nguồn nhân lực và liên quan đến công tác giáo dục, đào tạo qua nhiều thế hệ. Vì vậy, đổi mới mô hình tăng trưởng phải được nhìn nhận là một quá trình lâu dài, có những bước phát triển không đồng đều, chứ không thể diễn ra ngay lập tức và hoàn toàn thuận lợi.
Hơn nữa, tôi cho rằng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vẫn là những động lực tăng trưởng mới rất quan trọng. Trên thực tế, chúng ta chưa khai thác được nhiều tiềm năng từ các lĩnh vực này.
Chúng ta mới xác định được tầm quan trọng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng chưa dành nguồn lực đầu tư thực sự tương xứng. Ngay cả những nguồn ngân sách đã bố trí cũng có phần chưa được giải ngân, nên chưa chuyển hóa thành sản phẩm cụ thể hoặc đóng góp trực tiếp vào GDP.
Do vậy, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vẫn phải tiếp tục được xác định là những động lực tăng trưởng mới cần tập trung phát triển.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần rà soát những lĩnh vực đã được xác định có tiềm năng tăng trưởng, chẳng hạn như du lịch, du lịch gắn với di sản và công nghiệp văn hóa.
Đây đều là những lĩnh vực đã được đề cập trong các nghị quyết, chủ trương mới. Có thể nói, chúng ta đã xác định được khá rõ những động lực tăng trưởng cần phát triển.
Vấn đề quan trọng hiện nay là làm thế nào để đưa các định hướng đó vào thực tiễn, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp trở thành chủ thể chính, tham gia sâu vào quá trình phát triển các động lực tăng trưởng mới.
Tôi cho rằng thách thức sắp tới chính là thách thức trong tổ chức thực thi. Chúng ta đã có định hướng và chủ trương tương đối rõ ràng, nhưng cần xây dựng được sự tham gia của các chủ thể theo cách tiếp cận hệ sinh thái. Trong đó, phải phát huy vai trò chủ lực của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp đầu đàn, có tiềm lực về công nghệ và tài chính, đủ khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị.
Đây là yếu tố rất quan trọng nếu Việt Nam muốn nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Muốn vậy, phải có những doanh nghiệp Việt Nam đủ lớn, đủ năng lực để dẫn dắt cả một hệ sinh thái doanh nghiệp cùng tham gia. Thông qua quá trình đó, chúng ta mới có thể từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!
Tin tức khác
Giải pháp thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong bối cảnh mới
Triển vọng tăng trưởng kinh tế TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030: Động lực, điểm nghẽn và giải pháp đột phá tăng trưởng 2 con số
Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng: Khơi thông dòng vốn phát triển vùng miền Trung - Tây Nguyên
Giá điện giảm 2%, thuế xăng về 0%, doanh nghiệp thêm dư địa lợi nhuận
Định danh bất động sản: Minh bạch thông tin, hạn chế đầu cơ, bảo vệ quyền lợi người dân
Xu hướng giảm tốc tăng trưởng kinh tế Trung Quốc: Tác động đến Việt Nam và một số hàm ý chính sách
Chuyển đổi số và quản trị dữ liệu trong quản lý thuế tại Hà Nội: Kết quả vận hành và những yêu cầu đặt ra
VIDEO: Bộ Tài chính bứt phá cải cách hành chính mở đường cho kinh tế số
PODCAST: Hoàn thiện thể chế tài chính - Khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách
Trình Quốc hội 7 nhóm chính sách đặc thù tạo đột phá phát triển du lịch
Hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực
Quốc hội quyết nghị năm 2027 tăng trưởng từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%
Đấu giá quyền sử dụng khu vực biển: Công khai, cạnh tranh thực chất, rõ nghĩa vụ tài chính
Việt Nam - Nhật Bản: Củng cố tin cậy, làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện
MICA-2026: Khẳng định vai trò của chuyển đổi số và hành vi tiêu dùng xanh
Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tinh thần Hiến pháp năm 1946 phải được thể hiện bằng sự tận tâm phục vụ nhân dân
Vốn đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp của TP. Hồ Chí Minh vượt 150% kế hoạch
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách
Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ
Đề xuất hơn 162.000 tỷ đồng đầu tư 3 dự án cao tốc kết nối vùng miền núi, Tây Nguyên
Đầu tư công và liên kết vùng tạo động lực tăng trưởng cho ba địa phương Đồng bằng sông Cửu Long
Khơi thông nguồn lực, tạo sức bật cho khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Hà Nội quyết liệt khơi thông nguồn lực, phấn đấu tăng trưởng 2 con số
Dịch vụ tài chính số Việt Nam: Ba động lực tăng trưởng và dư địa bứt phá









