Đặt khoa học công nghệ vào những “sứ mệnh” tăng trưởng mới
![]() |
| Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực thực chất của mô hình tăng trưởng mới. Ảnh AI minh hoạ. |
Dám đầu tư, dám dừng để tạo đột phá công nghệ
Chia sẻ tại Hội thảo “Xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2026-2030”, TS. Đặng Thu Giang, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), cho rằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực thực chất của mô hình tăng trưởng mới.
Theo định hướng được chuyên gia phân tích, mô hình cũ dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ, trong khi năng suất cùng hàm lượng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo còn thấp. Mô hình mới cần đặt năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh và nhân lực chất lượng cao vào trung tâm của quá trình phát triển.
| Các mục tiêu đến năm 2030 cho thấy quy mô của cuộc chuyển đổi. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng được đặt ở mức trên 55%; kinh tế số phấn đấu chiếm từ 30% GDP; chi cho nghiên cứu và phát triển đạt 2% GDP; trên 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Đây là những chỉ tiêu đòi hỏi thay đổi sâu về năng lực sản xuất và quản trị. |
Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của TS. Đặng Thu Giang nằm ở việc thay đổi câu hỏi đầu vào. Thay vì tập trung vào việc phát triển từng ngành khoa học công nghệ, cần chuyển sang giải quyết các bài toán phát triển quốc gia. Năng lực khoa học công nghệ phải xuyên suốt công nghiệp, năng lượng, kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, giáo dục, y tế, du lịch, kinh tế biển và quản trị quốc gia.
Khi cách tiếp cận thay đổi, thước đo thành công cũng phải thay đổi. Năng suất lao động, TFP, giá trị gia tăng tạo ra trong nước, doanh thu từ sản phẩm và dịch vụ mới, tỷ lệ nội địa hóa, số doanh nghiệp thực sự đổi mới cần trở thành những chỉ số quan trọng. Số lượng đề tài, văn bản, bằng sáng chế hay tỷ lệ giải ngân tự thân chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả phát triển.
Đây là một chuyển dịch có ý nghĩa lớn đối với chính sách khoa học công nghệ. Một đề tài hoàn thành đúng thủ tục chưa đồng nghĩa với năng lực sản xuất được nâng lên. Một công nghệ được nghiên cứu thành công cần đi tiếp vào doanh nghiệp, thị trường và chuỗi giá trị. Giá trị cuối cùng phải được thể hiện bằng năng suất cao hơn, sản phẩm mới, thị trường mới và năng lực cạnh tranh tốt hơn.
Ba tầng động lực và vai trò trung tâm của doanh nghiệp
Theo đề xuất của TS. Đặng Thu Giang, mô hình tăng trưởng mới có thể hình dung theo ba tầng. Tầng thứ nhất là nâng cấp các động lực hiện có, gồm công nghiệp chế biến, chế tạo; nông nghiệp công nghệ cao; dịch vụ, logistics, du lịch số và năng lượng thông minh. Đây là khu vực tạo nền tảng tăng trưởng trong ngắn và trung hạn.
Tầng thứ hai là những động lực mới có chọn lọc. Danh mục được đặt ra gồm trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ số, công nghệ sinh học, năng lượng mới, vật liệu mới, robot và tự động hóa, cùng công nghệ lưỡng dụng. Việc nhấn mạnh chữ “chọn lọc” rất quan trọng, bởi nguồn lực quốc gia luôn có giới hạn và cần được tập trung vào những lĩnh vực tạo khả năng lan tỏa lớn.
Tầng thứ ba là nền tảng của lực lượng sản xuất mới, gồm dữ liệu, hạ tầng số, thị trường công nghệ, nhân lực, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ và tài chính đổi mới sáng tạo. Nếu tầng này phát triển yếu, những công nghệ mới khó chuyển hóa thành năng lực kinh tế. Vì vậy, bài toán tăng trưởng công nghệ phải được nhìn từ cả nền tảng thể chế, thị trường, hạ tầng và nguồn nhân lực.
![]() |
| Mô hình tăng trưởng mới được chia làm 3 tầng. Ảnh AI minh hoạ. |
Trong cấu trúc ấy, doanh nghiệp được xác định là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo định hướng gắn với Nghị quyết số 68-NQ/TW được trình bày trong tham luận, kinh tế tư nhân được đặt ở vị trí lực lượng tiên phong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mục tiêu được nêu là hình thành 1.000 doanh nghiệp tiên phong về khoa học công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Vai trò của Nhà nước vì thế cũng cần được định hình lại. Nhà nước nên nhận phần rủi ro cao thông qua nghiên cứu dùng chung, hạ tầng thử nghiệm, tín dụng công nghệ và mở thị trường. Doanh nghiệp nhà nước có thể trở thành “người mua đầu tiên”, nhà đầu tư dẫn dắt và đối tác công nghệ. Viện nghiên cứu, trường đại học cần được đánh giá qua khả năng chuyển giao công nghệ, hình thành doanh nghiệp spin-off và tác động đến năng suất.
Đổi cách quản trị để khoa học công nghệ tạo giá trị thực
Từ logic đó, các chương trình khoa học công nghệ cần được tổ chức theo những “sứ mệnh” cụ thể. Sáu hướng được đề xuất gồm nền tảng AI và dữ liệu tiếng Việt; hệ sinh thái bán dẫn; tự động hóa, robot và sản xuất thông minh; an ninh năng lượng; công nghệ sinh học; công nghệ lưỡng dụng và kinh tế biển. Mỗi sứ mệnh cần một người chịu trách nhiệm, doanh nghiệp nòng cốt, cơ quan khoa học chủ lực, mốc công nghệ rõ ràng và cơ chế dừng hoặc điều chỉnh.
Đây cũng là điểm thể hiện rõ tư duy quản trị mới là chấp nhận rủi ro có kiểm soát và sẵn sàng dừng những nhiệm vụ không còn triển vọng. Với khoa học công nghệ, thất bại ở một dự án cụ thể có thể là một phần của quá trình khám phá. Vấn đề nằm ở khả năng nhận diện sớm, điều chỉnh nguồn lực và ngăn việc tiếp tục đầu tư theo quán tính.
Muốn biến các định hướng trên thành kết quả, cải cách tổ chức và quản trị thực thi phải đi cùng chính sách. TS. Đặng Thu Giang đề xuất cơ chế điều phối quốc gia đủ thẩm quyền xử lý xung đột giữa các ngành, quản trị danh mục đầu tư có khả năng chấp nhận rủi ro, ngân sách đóng vai trò “vốn mồi” gắn với vốn đối ứng của doanh nghiệp và giải ngân theo các mốc kết quả.
Một “bảng điều hành quốc gia” với các chỉ tiêu cốt lõi được công khai định kỳ cũng được đề xuất nhằm theo dõi tiến độ thực chất. Cùng với đó, trách nhiệm của người đứng đầu cần được đánh giá theo kết quả đạt được, thay vì tiến độ văn bản hay tỷ lệ giải ngân. Cách làm này tạo áp lực chuyển từ quản lý đầu vào sang quản trị đầu ra, từ hoàn thành thủ tục sang tạo ra năng lực phát triển.
Sau cùng, bài toán tăng trưởng 2 con số cần được đặt trong giới hạn của chất lượng phát triển. TS. Đặng Thu Giang nhấn mạnh thách thức lớn nhất là tăng trưởng nhanh nhưng phải giữ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ môi trường và duy trì chất lượng phát triển. Điều đó đòi hỏi khoa học công nghệ trở thành năng lực nền tảng của nền kinh tế, thay vì chỉ là một nhóm chính sách hỗ trợ cho tăng trưởng.
Tin tức khác
Ngoại giao trở thành đòn bẩy trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế
Hoàn thiện khung pháp lý về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Định danh điện tử giúp hạn chế gian lận, trục lợi bất động sản
Không để nguồn lực đất đai lãng phí, ngân sách thất thu vì dự án bất động sản “đắp chiếu”
Lời cảm ơn của Ban Tổ chức Tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc - kiến tạo trụ cột an sinh bền vững”
Đại biểu Quốc hội đề nghị cấm chuyển nhượng nhà trên giấy để ngăn đầu cơ, lướt sóng
Bài 2: Quyết sách chiến lược, hành động đột phá, quyết liệt
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số
Ngoại giao trở thành đòn bẩy trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế
Bài 1: Gắn kết định hướng phát triển với nguồn lực thực hiện
Hoàn thiện khung pháp lý về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Định danh điện tử giúp hạn chế gian lận, trục lợi bất động sản
Không để nguồn lực đất đai lãng phí, ngân sách thất thu vì dự án bất động sản “đắp chiếu”
Lời cảm ơn của Ban Tổ chức Tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc - kiến tạo trụ cột an sinh bền vững”
Đại biểu Quốc hội đề nghị cấm chuyển nhượng nhà trên giấy để ngăn đầu cơ, lướt sóng
Bài 2: Quyết sách chiến lược, hành động đột phá, quyết liệt
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số
Sản xuất tiên tiến mở đường cho hàng xuất khẩu Việt Nam bứt phá
Metro Bến Thành - Cần Giờ thi công đồng loạt, hướng đến hoàn thành vào cuối năm 2028
TP. Hồ Chí Minh: Định hướng xúc tiến đầu tư vào 5 nhóm lĩnh vực trọng tâm
Bài 3: Kinh tế đêm - khai phá sâu để bứt phá
Bài 3: Khơi thông nguồn lực - Đồng vốn phải thực sự tạo ra giá trị
Kinh tế bạc có những khác biệt đáng kể so với kinh doanh thông thường
10 tháng năm 2026: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD










