aa

Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị

07:00 | 08/11/2026
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện các điểm nghẽn và động lực tăng trưởng đối với phát triển kinh tế cấp xã trên cơ sở khảo sát ý kiến cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã trên phạm vi cả nước. Từ kết quả khảo sát, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, phát huy các động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực phát triển kinh tế ở cấp xã, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng hai con số.

PGS, TS. Bùi Văn Huyền

Viện trưởng Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính và chuyển đổi từ mô hình chính quyền địa phương 3 cấp sang chính quyền địa phương 2 cấp là một cuộc cải cách có ý nghĩa lịch sử đối với nền hành chính và quản trị quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về tổ chức bộ máy mà còn là bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại, kiến tạo phát triển và phục vụ nhân dân. Trong mô hình chính quyền mới, chính quyền cấp xã không còn chỉ là cấp thực hiện chính sách cuối cùng mà trở thành chủ thể trực tiếp hoạch định, tổ chức và hiện thực hóa mục tiêu phát triển.

Một trong những mục tiêu phát triển đất nước Việt Nam trong thời gian tới là: đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để đạt được mục tiêu dài hạn đó, nền kinh tế Việt Nam phải liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, trong đó phải có những giai đoạn bứt phá. Đại hội 14 của Đảng cũng đã đặt ra mục tiêu cho giai đoạn 2026-2030 về kinh tế: phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên.

Xã là nơi các nguồn lực phát triển được huy động, tổ chức và chuyển hóa thành kết quả kinh tế trên địa bàn. Tăng trưởng kinh tế quốc gia được tạo ra từ tăng trưởng của từng địa phương; tăng trưởng địa phương được tạo ra từ từng xã, phường, đặc khu. Tăng trưởng của địa phương cũng như quốc gia, chịu ảnh hưởng đáng kể từ năng lực lãnh đạo, điều hành phát triển kinh tế của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp xã. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số là cần thiết.

CÁC LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Các lý thuyết và cách tiếp cận về tăng trưởng kinh tế không chỉ giải thích bản chất, nguồn gốc và các động lực của tăng trưởng, mà còn cung cấp khung phân tích để nhận diện các điểm nghẽn, xác định lợi thế và động lực tăng trưởng, giới hạn phát triển, từ đó định hướng xây dựng các chính sách và giải pháp phát triển kinh tế phù hợp với từng địa bàn.

Các lý thuyết giải thích nguồn gốc tăng trưởng

David Ricardo (1817/2004), đại diện tiêu biểu của kinh tế học cổ điển, nhấn mạnh vai trò của tích lũy tư bản, lao động và đất đai trong quá trình phát triển. Harrod (1939), Domar (1946) nhấn mạnh vai trò của tích lũy vốn và đầu tư đối với tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm và hiệu quả sử dụng vốn (thường được biểu hiện thông qua hệ số ICOR). Trong mô hình Solow-Swan (1956), tích lũy vốn và gia tăng lao động làm tăng sản lượng nhưng chịu quy luật lợi suất giảm dần; trong dài hạn, tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người phụ thuộc chủ yếu vào tiến bộ công nghệ, được mô hình hóa như một yếu tố ngoại sinh. Các lý thuyết tăng trưởng nội sinh, tiêu biểu là Romer (1986) và Lucas (1988), khắc phục hạn chế của mô hình Solow-Swan bằng cách nội sinh hóa các động lực của tăng trưởng dài hạn. Romer nhấn mạnh vai trò của tri thức, nghiên cứu và phát triển và đổi mới công nghệ; Lucas nhấn mạnh tích lũy vốn nhân lực thông qua giáo dục, đào tạo và học tập.

Các lý thuyết giải thích nền tảng của tăng trưởng

Các lý thuyết giải thích nền tảng của tăng trưởng nhấn mạnh rằng vốn, lao động và công nghệ chỉ phát huy hiệu quả trong một môi trường thể chế phù hợp. Các nghiên cứu của Douglass North (1990), Acemoglu, Johnson và Robinson (2012) cho thấy, chất lượng thể chế, quyền tài sản, hiệu quả quản trị và chính sách công có vai trò quyết định trong việc định hình động cơ đầu tư, đổi mới và phân bổ nguồn lực. Thể chế minh bạch, ổn định và có tính dự báo giúp giảm chi phí giao dịch, hạn chế bất định, khuyến khích tích lũy và nâng cao năng suất, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

Các lý thuyết giải thích không gian của tăng trưởng

Các lý thuyết kinh tế không gian và phát triển vùng, với các đóng góp tiêu biểu của François Perroux (1955) nhấn mạnh rằng tăng trưởng không diễn ra đồng đều trong không gian mà có xu hướng tập trung tại các cực tăng trưởng và lan tỏa thông qua các liên kết kinh tế giữa các địa bàn. Cách tiếp cận lợi thế cạnh tranh của địa phương của Porter nêu quan điểm: sự phát triển bền vững không chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên sẵn có, mà phải tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Kinh tế học di sản với các nhà nghiên cứu như Throsby (2001) đề cập đến việc di sản không chỉ được coi là tài sản cần bảo tồn mà còn là nguồn tài nguyên kinh tế có thể khai thác thông qua du lịch, dịch vụ và các hoạt động kinh tế khác.

Các cách tiếp cận về chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng

Cách tiếp cận phát triển bền vững, được định hình quan trọng bởi Báo cáo Brundtland (1987), các nghiên cứu về kinh tế sinh thái của Herman Daly và cách tiếp cận năng lực của Amartya Sen, nhấn mạnh rằng phát triển phải đồng thời bảo đảm tăng trưởng kinh tế, tiến

bộ xã hội, công bằng và duy trì nền tảng môi trường cho các thế hệ tương lai.

Từ góc độ quản trị phát triển địa phương, các lý thuyết và cách tiếp cận trên trả lời 4 câu hỏi: (i) địa phương có những nguồn lực và động lực nào để tạo tăng trưởng; (ii) hiệu quả sử dụng các nguồn lực đó được quyết định bởi những yếu tố thể chế và quản trị nào; (iii) tăng trưởng được hình thành, tập trung và lan tỏa như thế nào trong không gian; và (iv) làm thế nào để duy trì tăng trưởng đồng thời bảo đảm công bằng xã hội, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Theo đó, tăng trưởng địa phương không nên được nhìn nhận đơn thuần là kết quả của việc gia tăng vốn đầu tư, mà là kết quả của sự tương tác giữa tích lũy nguồn lực, năng suất, vốn nhân lực, đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế, liên kết không gian và tính bền vững của quá trình phát triển.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Xác định đúng điểm nghẽn và động lực phát triển là điều kiện tiên quyết đối với phát triển kinh tế cấp xã trong bối cảnh thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Điểm nghẽn cho biết những hạn chế cần tập trung tháo gỡ, trong khi động lực phát triển định hướng những lĩnh vực cần ưu tiên khai thác và thúc đẩy. Xác định đúng điểm nghẽn và động lực là tiền đề để cấp xã lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đồng thời chuyển hóa tiềm năng, lợi thế của địa phương thành năng lực sản xuất, giá trị gia tăng và kết quả tăng trưởng thực tế.

Để có cái nhìn tổng thể về điểm nghẽn và động lực trong phát triển kinh tế ở cấp xã hiện nay, Khảo sát trực tuyến với đội ngũ lãnh đạo cấp xã Việt Nam được tác giả thực hiện qua phần mềm tương tác Mentimeter vào chiều 23/5/2026, trong thời gian tập huấn chuyên đề “ Lãnh đạo, điều hành phát triển ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số”, trong khuôn khổ Lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực xử lý tình huống thực tiễn đối với đội ngũ cán bộ cơ sở; được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và kết nối trực tuyến đến các điểm cầu tại 3.321 xã, phường, đặc khu trong cả nước. Nội dung khảo sát tập trung vào hai vấn đề: điểm nghẽn và động lực trong phát triển kinh tế ở cấp xã hiện nay. Kết quả khảo sát được hiển thị theo thời gian thực trên giao diện phần mềm và được tất cả các học viên trong lớp bồi dưỡng - người tham gia khảo sát quan sát trực tiếp trên màn hình trực tuyến.

ĐIỂM NGHẼN VÀ ĐỘNG LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở CẤP XÃ HIỆN NAY

Về điểm nghẽn chủ yếu của phát triển kinh tế ở cấp xã

Câu hỏi về điểm nghẽn phát triển kinh tế cấp xã 23.000 người phản hồi trên tổng số khoảng 26.000 người tham gia phiên khảo sát (tỷ lệ phản hồi khoảng 88%). Mỗi lãnh đạo xã được chọn tối đa 3 đáp án nên tổng số lượt bình chọn sẽ lớn hơn số người tham gia và phản hồi (Tổng số lượt bình chọn là 59.994 lượt so với số người phản hồi là 23.000).

Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị
Nguồn: Khảo sát của tác giả

Các điểm nghẽn chủ yếu xếp theo thứ tự lượt bình chọn từ nhiều nhất xuống thấp nhất (Hình 1) như sau:

Thiếu vốn (1) và hạn chế về khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (2) là hai điểm nghẽn được cho là lớn nhất với 10.550 và 10.419 lượt bình chọn. Tiếp đó là: Hạ tầng kinh tế xã hội yếu kém (3), Đầu ra thị trường không ổn định (4), Thiếu nhân lực có chất lượng (5), Liên kết vùng và chuỗi giá trị còn lỏng lẻo (6), Thể chế, thủ tục hành chính còn rườm rà (7), Thiếu dữ liệu và thông tin phục vụ quyết định (8), khác (9) với số lượt bình chọn lần lượt là: 9.441, 9.063, 7.859, 6.236, 4.584, 1.468 và 374.

Có thể thấy, thiếu vốn và hạn chế về KHCN, đổi mới sáng tạo tạo thành một cặp điểm nghẽn nổi trội nhất, với mức độ nhận diện gần như tương đương. Tiếp theo là nhóm các điều kiện trực tiếp để tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiếp cận thị trường, gồm hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu ra thị trường, nhân lực chất lượng và liên kết vùng, chuỗi giá trị. Trong khi đó, thể chế, thủ tục hành chính và đặc biệt là thiếu dữ liệu, thông tin phục vụ quyết định được lựa chọn với tỷ lệ thấp hơn đáng kể. Như vậy, nhận thức của người tham gia khảo sát tập trung nhiều hơn vào các hạn chế về nguồn lực, năng lực sản xuất - kinh doanh, công nghệ, thị trường và liên kết hơn là các rào cản về thủ tục hành chính và thông tin.

Về động lực tăng trưởng quan trọng của xã trong thời gian tới

Câu hỏi về động lực tăng trưởng của xã trong thời gian tới thu nhận 37.000 phản hồi trên tổng số khoảng 45.000 người tham gia phiên khảo sát (tỷ lệ phản hồi khoảng 82%).

Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị
Nguồn: Khảo sát của tác giả

Kết quả khảo sát về động lực tăng trưởng ở Hình 2 cho thấy, công nghệ và chuyển đổi số vượt xa các động lực còn lại với 11.988 bình chọn, phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy phát triển dựa vào vốn sang tư duy phát triển dựa vào ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số. Các nhóm động lực quan trọng khác được lựa chọn thấp hơn rõ rệt.

Động lực tăng trưởng vừa đến từ việc khắc phục điểm nghẽn, như nâng cấp hạ tầng giao thông và logistics kết nối thị trường; ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất, dịch vụ và quản lý; tăng liên kết vùng và chuỗi giá trị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tái cấu trúc và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đồng thời cũng đến từ các động lực tạo giá trị mới như: phát triển du lịch, dịch vụ dựa trên văn hóa, di sản; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; tổ chức lại không gian sản xuất.

Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy nhận thức về phát triển kinh tế cấp xã đang tập trung vào yêu cầu thay đổi phương thức tạo tăng trưởng, thay vì chỉ khắc phục các hạn chế về điều kiện đầu vào. Công nghệ và đổi mới sáng tạo đồng thời xuất hiện ở hai vị trí quan trọng: vừa là một trong những điểm nghẽn lớn nhất, vừa là động lực tăng trưởng được lựa chọn nổi bật nhất. Điều này cho thấy đây KHCN và chuyển đổi số là vấn đề mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế ở cấp xã trong nhận thức của đội ngũ lãnh đạo, được xem là dư địa quan trọng để tạo ra tăng trưởng trong thời gian tới. Bên cạnh đó, tổ chức lại không gian sản xuất và mô hình kinh tế, nâng cấp hạ tầng và logistics, phát triển du lịch - dịch vụ, tăng cường liên kết chuỗi và tái cấu trúc nguồn lực tạo thành nhóm động lực thứ hai. Kết quả này gợi mở rằng trọng tâm phát triển kinh tế cấp xã trong thời gian tới không chỉ là bổ sung nguồn lực, mà quan trọng hơn là tổ chức lại nguồn lực và đổi mới cách thức tạo ra giá trị thông qua công nghệ, mô hình kinh doanh mới, thị trường và liên kết.

Kết quả khảo sát phản ánh nhận thức và đánh giá của đội ngũ lãnh đạo cấp xã về các điểm nghẽn và động lực phát triển kinh tế cấp xã hiện nay. Do đây là khảo sát dựa trên ý kiến chủ quan của người trả lời, kết quả có thể không đồng nhất với việc đo lường khách quan thực trạng kinh tế của từng địa bàn, nhưng cung cấp những thông tin có giá trị về các vấn đề được đội ngũ lãnh đạo cơ sở quan tâm và ưu tiên xử lý trong lãnh đạo, điều hành phát triển kinh tế.

Ngoài ra, rất nhiều câu hỏi, nội dung chia sẻ của các lãnh đạo xã trên toàn quốc cũng đã gửi về cho tác giả qua phần mềm tương tác Mentimete ngay trong buổi tập huấn. Điều đó cho phép hình dung một cách rõ ràng, cụ thể và khách quan hơn về thực trạng phát triển kinh tế ở cấp xã hiện nay và những vấn đề đặt ra.

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ LÃNH ĐẠO, ĐIỀU HÀNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CẤP XÃ TRƯỚC YÊU CẦU TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ

Mục tiêu tăng trưởng hai con số rất áp lực và áp lực dây chuyền xuống cấp xã là dễ hiểu. Để lãnh đạo, điều hành phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số, vấn đề không chỉ là làm nhiều hơn mà còn phải đáp ứng những yêu cầu mới về năng lực quản trị phát triển. Dựa vào kết quả khảo sát và nội dung các câu hỏi, chia sẻ lãnh đạo xã gửi tới, tác giả xin đưa ra một số khuyến nghị về lãnh đạo, điều hành phát triển kinh tế cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số như sau:

Thứ nhất, lãnh đạo xã cần có kỹ năng “đọc địa bàn”- phân tích không gian phát triển của địa phương để lựa chọn mô hình phát triển phù hợp.

Lãnh đạo cấp xã phải trả lời được những câu hỏi cốt lõi như: địa phương phát triển dựa trên ngành/lĩnh vực chủ yếu nào? Động lực tăng trưởng nằm ở đâu? Lợi thế cạnh tranh của địa phương là gì? Cần ưu tiên nguồn lực cho lĩnh vực nào? Những nhóm dân cư, ngành nghề, khu vực chịu tác động? các giá trị cần được bảo vệ trong quá trình phát triển? Trên cơ sở đó, lãnh đạo cấp xã cần lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với đặc điểm và điều kiện của từng địa bàn. Mỗi xã, phường, đặc khu có điều kiện tự nhiên, dân cư, cơ cấu kinh tế, nguồn lực, trình độ phát triển và yêu cầu quản trị khác nhau. Không thể áp dụng một mô hình phát triển chung cho mọi địa bàn. Lãnh đạo cấp xã cần lựa chọn mô hình phát triển trên cơ sở lợi thế so sánh, khả năng tạo giá trị gia tăng, điều kiện thị trường, năng lực tổ chức thực hiện và giới hạn về môi trường, văn hóa, xã hội.

Thứ hai, phải xây dựng được kịch bản tăng trưởng hợp lý.

Kịch bản tăng trưởng cụ thể hóa mục tiêu phát triển thành nhiệm vụ có thể tổ chức thực hiện. Cấp xã cần xây dựng kịch bản tăng trưởng có mục tiêu, chỉ tiêu, tiến độ, nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng. Kịch bản phải xác định được lĩnh vực tạo tăng trưởng, nhóm chủ thể thực hiện, nguồn lực huy động, thời hạn hoàn thành, chỉ số theo dõi và rủi ro cần kiểm soát. Việc xây dựng kịch bản phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, quy hoạch, khả năng cân đối ngân sách, nguồn lực xã hội, nhu cầu của người dân và điều kiện thực thi của bộ máy cấp xã. Lãnh đạo xã cần phải theo dõi tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn, chỉ đạo thu ngân sách, giải ngân vốn đầu tư công, tham gia thu hút doanh nghiệp, tạo việc làm mới, thúc đẩy tăng năng suất lao động...

Thứ ba, huy động và tái cấu trúc nguồn lực cho tăng trưởng.

Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 1/7/2025, cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư hạ tầng, chuyển đổi số, hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác, quản lý đất đai, quản lý đầu tư trên địa bàn… Điều này làm cho nhu cầu vốn của cấp xã không còn chỉ là kinh phí đáp ứng nhu cầu quản lý hành chính mà chuyển mạnh sang nhu cầu vốn phát triển. Các xã không chỉ cần tiền để vận hành bộ máy mà còn cần để đầu tư cho cwo sở hạ tầng, logistics, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ vào sản xuất…

Trong bối cảnh đó, cán bộ xã cần chuyển từ tư duy xin thêm nguồn lực sang tái cấu trúc nguồn lực. Tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào nguồn ngân sách nhà nước. Vốn cũng không phải nguồn lực duy nhất cho tăng trưởng kinh tế. Nhiều địa phương không dồi dào ngân sách nhưng vẫn phát triển nhanh vì biết huy động, tái cấu trúc nguồn lực, kích hoạt các nguồn lực khác. Trước hết cần sử dụng hiệu quả nguồn vốn đang có. Cơ sở hạ tầng cần nguồn vốn lớn và tập trung, vì vậy nguồn đầu tư công nên ưu tiên sử dụng cho mục đích như nâng cấp hệ thống giao thông và logistic kết nối thị trường, số hóa dữ liệu… Đầu tư công phải hiệu quả. Một xã có thể tăng đầu tư nhưng không tăng trưởng tương xứng nếu đầu tư dàn trải, giải phóng mặt bằng chậm, dự án không tạo lan tỏa, hoặc nguồn lực đất đai bị đóng băng trong tranh chấp, quy hoạch chậm, thủ tục kéo dài. Địa phương cần kiểm đếm các nguồn lực đang có, nguồn lực bị bỏ quên, nguồn lực đang bị sử dụng kém hiệu quả và nguồn lực đã chạm giới hạn. Đất đai; lao động; vốn nhàn rỗi trong dân, doanh nghiệp, hợp tác xã; kiều hối; tài sản công; không gian chợ; mặt nước; rừng; cảnh quan; bản sắc văn hóa, tri thức bản địa; làng nghề, lễ hội, di tích... đều có thể là nguồn lực phát triển nếu được tổ chức lại và chuyển hóa thành giá trị kinh tế đúng cách. Cần huy động đầu tư tư nhân, xã hội hóa nguồn lực, liên kết vùng sản xuất, hợp tác công tư quy mô nhỏ; huy động sự tham gia của cộng đồng; khai thác hiệu quả đất đai, phát triển chuỗi giá trị... Tức là phải biến nguồn lực phân tán thành động lực tăng trưởng tập trung.

Thứ tư, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất, dịch vụ và quản lý.

Với nguồn lực hạn chế, cấp xã không phải nơi phù hợp thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, vận hành các phòng thí nghiệm… nhưng phù hợp và hiệu quả trong ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất, dịch vụ và quản lý. Xã nên là nơi tiếp nhận, phổ biến, lựa chọn các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các sáng chế, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để áp dụng tại địa phương.

Công nghệ phải giúp tăng năng suất, mở rộng thị trường, giảm chi phí và khai thác tốt hơn các nguồn lực địa phương, đồng thời nâng cao chất lượng quản trị phát triển địa phương. Các xã nên ứng dụng KHCN để có giống mới, quy trình canh tác mới, cơ giới hóa, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc trong nông nghiệp; đổi mới mẫu mã, tiêu chuẩn hóa sản phẩm, quản trị chất lượng và quảng bá số đối với làng nghề… Các sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có lợi thế ở xã cần được quảng bá rộng rãi trên mạng internet, qua trang thông tin điện tử và mạng xã hội, hỗ trợ thúc đẩy tiêu thụ và phát triển thị trường. Các phường, đặc khu ứng dụng công nghệ để phát triển thương mại điện tử, kinh tế số, kinh tế ban đêm. Ứng dụng công nghệ để mở rộng thị trường thông qua bản đồ số du lịch, đặt dịch vụ trực tuyến, quảng bá điểm đến, quảng bá sản phẩm...

Xã phải bố trí ngân sách chi cho Sự nghiệp KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhiều xã phản ánh nguồn tài chính của xã cho KHCN không nhiều. Tuy nhiên trong bối cảnh các cơ chế mới sau Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 193/2025/ QH15 của Quốc hội và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, Nghị quyết 193/2025/QH15 thì cấp xã hiện nay có nhiều kênh huy động nguồn lực cho ứng dụng KHCN hơn trước rất nhiều.

Xã có thể xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của xã, sau đó đề xuất tỉnh đặt hàng như một nhiệm vụ KHCN. Chủ động đề xuất các nhiệm vụ KHCN hoặc dự án chuyển đổi số vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh, chương trình KHCN cấp tỉnh, chương trình chuyển đổi số cấp tỉnh; các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao, OCOP, nông thôn mới... là một cách để có sự hỗ trợ từ cấp trên. Lựa chọn các vấn đề bức thiết (ô nhiễm làng nghề, nước sinh hoạt, an toàn thực phẩm, bảo tồn giống bản địa…) và xây dựng đề xuất theo hướng “có sản phẩm, có địa chỉ ứng dụng cụ thể”.

Hiện nay có nhiều quỹ đổi mới sáng tạo và KHCN ở trung ương và địa phương như Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ Phát triển KHCN quốc gia, Quỹ phát triển KHCN của địa phương. Xã không thể trực tiếp đứng ra xin quỹ tài trợ nhưng thay vào đó xã tìm cách liên kết trường đại học, liên kết viện nghiên cứu, doanh nghiệp để các đơn vị này chủ trì đề tài và triển khai thí điểm tại xã. Hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu, xã có cơ hội trở thành địa bàn thực nghiệm trong khi trường đại học và viện nghiên cứu có dữ liệu nghiên cứu, xã và người dân có cơ hội được hưởng công nghệ mới với chi phí chuyển giao thấp.

Tranh thủ nguồn xã hội hóa từ người dân và hợp tác xã. Có thể áp dụng mô hình “3 nhà” hoặc “4 nhà” hiệu quả: ngân sách xã hỗ trợ một phần, người dân góp một phần, hợp tác xã góp một phần và doanh nghiệp hỗ trợ công nghệ.

Thứ năm, tăng cường liên kết vùng và tham gia chuỗi giá trị.

Một xã không thể phát triển như một ốc đảo hành chính. Xã phải tự đặt mình vào cấu trúc phát triển rộng hơn của tỉnh, vùng, hành lang giao thông, đô thị trung tâm, khu công nghiệp, vùng nguyên liệu, điểm du lịch, chuỗi logistics, thị trường tiêu thụ và mạng lưới xã lân cận. Xã phải xác định được xã nằm ở đâu trong chuỗi giá trị và mạng lưới phát triển. Xã mạnh nhất ở sản phẩm nào, vị trí nào, dịch vụ nào, cảnh quan nào, nghề truyền thống nào, nguồn lao động nào, kết nối nào... Trên cơ sở đó, xã cần tránh đầu tư dàn trải; tập trung vào một số ngành, sản phẩm, không gian hoặc dịch vụ có khả năng tạo lan tỏa; đồng thời chủ động liên kết với xã lân cận, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh để hình thành chuỗi giá trị và cụm phát triển.

Thứ sáu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Phát triển kinh tế tạo ra áp lực rất lớn cho môi trường nhưng nếu phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn lại giải quyết được cả ba vấn đề: tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và tạo sinh kế bền vững cho người dân. Đây cũng là một trong những động lực phát triển mà nhiều xã có thể thực hiện với chi phí không quá lớn. Mô hình nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sinh thái, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng rất phù hợp với xã miền núi, xã ven biển, xã có làng nghề, xã có di sản văn hóa. Có thể phát triển năng lượng tái tạo quy mô nhỏ như điện mặt trời mái nhà, đèn năng lượng mặt trời, biogas hộ gia đình…

Thứ bảy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương bằng nhiều biện pháp.

Xã phải xác định mình đang thiếu loại nhân lực nào? Thiếu cán bộ quản lý phát triển mảng kinh tế ? Thiếu nhân lực KHCN và chuyển đổi số ? Thiếu lao động kỹ thuật ? Thiếu người “khởi nghiệp” ?. Xác định đúng cái mình thiếu sẽ có giải pháp chính xác, phù hợp.

Nhìn chung, trước hết nên nâng cấp năng lực đội ngũ hiện có bằng cách cử đi đào tạo, bồi dưỡng đào tạo về phát triển kinh tế địa phương, quản trị dự án, chuyển đổi số, huy động nguồn lực, kinh tế tư nhân, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế di sản, kỹ năng số, an toàn an ninh mạng...

Cần nghĩ đến viêc thu hút chất xám thay vì xin thêm biên chế. Một xã không nhất thiết phải tuyển chuyên gia toàn thời gian mà có thể ký hợp đồng vụ việc với chuyên gia, thuê tư vấn, hợp tác trường đại học, hợp tác viện nghiên cứu… để có nhân lực chất lượng cao. Có thể thực hiện liên kết vùng nhân lực. Một xã rất khó có để có riêng chuyên gia đầu tư, chuyên gia KHCN… nhưng một cụm xã hoặc một tỉnh có thể. Do đó cần đề nghị tỉnh có cơ chế dùng sử dụng chuyên gia, trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cấp tỉnh, mạng lưới tư vấn phát triển địa phương…

Tận dụng chuyển đổi số để bù đắp thiếu nhân lực. Số hóa dữ liệu, hồ sơ điện tử, dịch vụ công trực tuyến… để giảm nhu cầu nhân lực hành chính, tăng thời gian cho nhiệm vụ phát triển.

Phát triển đội ngũ doanh nhân địa phương, vì doanh nghiệp, hộ kinh doanh mới là chủ thể tạo tăng trưởng. Xã nên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong khả năng có thể.

Thứ tám, ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Trong lãnh đạo, điều hành phát triển kinh tế, dữ liệu là nền tảng của quyết định quản trị, bởi nó giúp chuyển từ quản lý theo cảm tính sang quản lý dựa trên bằng chứng. Dữ liệu giúp nhận diện đúng thực trạng kinh tế địa phương; là cơ sở để xây dựng kế hoạch và chỉ tiêu phát triển, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Không có dữ liệu thì không thể dự báo đúng; không dự báo đúng thì không thể ra quyết định đúng; và không có quyết định đúng thì không thể đạt tăng trưởng bền vững. Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu trở thành nguồn lực phát triển mới. Cần xây dựng bộ cơ sở dữ liệu phục vụ lãnh đạo, điều hành phát triển kinh tế, bao gồm (nhưng không giới hạn) ở các nhóm sau: dân cư và lao động; doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh; đất đai và không gian phát triển; sản xuất kinh tế theo ngành; tài chính - ngân sách địa phương; hạ tầng kinh tế - xã hội; môi trường và phát triển bền vững; xã hội và chất lượng sống; đầu tư và dự án và các dữ liệu dự báo, phân tích và cảnh báo sớm.

KẾT LUẬN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ về việc “phải khẳng định vai trò của xã trong không gian phát triển mới” khi phát biểu chỉ đạo Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên. Sự khẳng định này không chỉ dành riêng cho một xã mà là sự xác nhận vai trò của cấp xã nói chung trong công cuộc phát triển kinh tế nói riêng cũng như phát triển đất nước nói chung. Cấp xã phải phát huy tiềm năng, lợi thế, nỗ lực tạo bứt phá rõ nét hơn, góp phần hiệu quả thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số của đất nước.

Tài liệu tham khảo:

1. Acemoglu, D., & Robinson, J. A. (2012). Why nations fail: The origins of power, prosperity, and poverty. Crown Publishers.

2. Bourdieu, P. (1986). The forms of capital. In J. Richardson (Ed.), Handbook of theory and research for the sociology of education (pp. 241-258). Greenwood Press.

3. Domar, E. D. (1946). Capital expansion, rate of growth, and employment. Econometrica, 14(2), 137-147.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1-2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Harrod, R. F. (1939). An essay in dynamic theory. The Economic Journal, 49(193), 14-33.

6. Lucas, R. E., Jr. (1988). On the mechanics of economic development. Journal of Monetary Economics, 22(1), 3-42.

7. Perroux, F. (1955). Note sur la notion de pôle de croissance. Économie Appliquée, 8, 307-320.

8. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.

9. Smith, A. (1776/2007). An inquiry into the nature and causes of the wealth of nations. MetaLibri.

10. Ricardo, D. (1817/2004). On the principles of political economy and taxation. Dover Publications.

11. Romer, P. M. (1986). Increasing returns and long-run growth. Journal of Political Economy, 94(5), 1002-1037.

12. Solow, R. M. (1956). A contribution to the theory of economic growth. The Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65-94.

13. Throsby, D. (2001). Economics and culture. Cambridge University Press.

14. North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.

15. United Nations. (2015). Transforming our world: The 2030 agenda for sustainable development. United Nations.

16. VTV (2025). Tổng Bí thư Tô Lâm: Phải khẳng định vai trò của xã trong không gian phát triển mới. https://vtv.vn/tong-bithu-to-lam-phai-khang-dinh-vai-tro-cua-xa-trong-khong-gian-phat-trien-moi-10025071413164824.htm?

Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 10/2026

Tin tức khác

Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị

Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị

Theo Chủ tịch HĐQT Tập đoàn CNCTech Nguyễn Văn Hùng, thước đo thành công của KCN còn nằm ở giá trị gia tăng, năng suất, sức cạnh tranh tạo ra cho nền kinh tế.
Phát triển thị trường tín chỉ carbon ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Phát triển thị trường tín chỉ carbon ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều lợi thế để hình thành nguồn cung tín chỉ carbon.
“Bẫy kết nối dọc vi mô” của thương mại quốc tế Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

“Bẫy kết nối dọc vi mô” của thương mại quốc tế Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Việt Nam xác lập vị thế là quốc gia “kết nối ngang” ở tầm vĩ mô nhờ đa dạng hóa thị trường và thu hút dòng vốn chuyển dịch.
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững

Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững

Nền kinh tế toàn cầu trải qua nhiều biến động phức tạp, việc tìm kiếm các kênh huy động vốn hiệu quả và bền vững trở thành một thách thức lớn đối với nhiều DN.
Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ

Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ

Theo PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, tăng trưởng 2 con số không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống, mà cần chủ động ứng phó với những biến động bên ngoài.
Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường tài chính Việt Nam

Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tài chính thế giới tiềm ẩn nhiều áp lực rủi ro; trong bối cảnh đó, đà phục hồi của thị trường tài chính Việt Nam còn không ít thách thức.
Triển vọng tăng trưởng kinh tế TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030: Động lực, điểm nghẽn và giải pháp đột phá tăng trưởng 2 con số

Triển vọng tăng trưởng kinh tế TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030: Động lực, điểm nghẽn và giải pháp đột phá tăng trưởng 2 con số

Dùng phương pháp thống kê mô tả và so sánh trên chuỗi số liệu 2015-2025 để đánh giá thực trạng, triển vọng tăng trưởng kinh tế TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030.
Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng: Khơi thông dòng vốn phát triển vùng miền Trung - Tây Nguyên

Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng: Khơi thông dòng vốn phát triển vùng miền Trung - Tây Nguyên

Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN) được định hướng phát triển trở thành Trung tâm tài chính quốc tế hiện đại.
Xem thêm
video bo tai chinh but pha cai cach hanh chinh mo duong cho kinh te so

VIDEO: Bộ Tài chính bứt phá cải cách hành chính mở đường cho kinh tế số

Xác định cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số là đột phá chiến lược trong lộ trình kiến tạo nền kinh tế số và Chính phủ số, Bộ Tài chính đã triển khai chiến dịch rà soát quy mô lớn chưa từng có, cắt giảm và đơn giản hóa tới 797 trên tổng số 962 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý, đạt tỷ lệ ấn tượng 82,84%. ----------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast hoan thien the che tai chinh khoi thong nguon luc tao dong luc cho muc tieu tang truong 2 con so

PODCAST: Hoàn thiện thể chế tài chính - Khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Đối với các lĩnh vực kinh tế, tài chính, việc rà soát, xử lý những bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật không chỉ nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật, mà còn có ý nghĩa trực tiếp đối với việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tạo dư địa cho đổi mới mô hình phát triển đất nước và thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. -------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast tu nam 2027 luong huu tro cap bao hiem xa hoi se duoc chi tra the nao

PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?

Từ năm 2027, phương thức chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ có thêm bước chuyển quan trọng khi Tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng VNeID được đưa vào sử dụng theo lộ trình. Đây là nội dung đáng chú ý trong Kế hoạch của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, về triển khai sử dụng Tài khoản hưởng an sinh xã hội trong chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. ------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
pocast dong tien chung khoan dang tim den nhung nhom nganh nao

POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?

Sau 4 tuần giảm liên tiếp, VN-Index vừa có tuần tăng 4%, đóng cửa phiên ngày 23/10 ở 1.774 điểm. Thị trường chứng khoán đã hồi phục, nhưng câu hỏi nhiều nhà đầu tư vẫn đặt ra là: tiền đang chảy vào đâu? Câu trả lời không nằm hết ở chỉ số chung. Phía sau mỗi nhịp tăng, giảm là lựa chọn của dòng vốn, dựa trên lợi nhuận và câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp. --------------------------------- Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast tai khoa nam 2027 truoc yeu cau tang truong cao va bao dam an ninh tai chinh quoc gia

PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia

Bộ Tài chính vừa công khai Báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm 2027 Chính phủ trình Quốc hội. Trong đó, định hướng điều hành tài chính - ngân sách tiếp tục tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực, tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
Đầu tư 3 tuyến cao tốc miền núi: Tính đủ hiệu quả, chi phí và nguồn lực khai thác

Đầu tư 3 tuyến cao tốc miền núi: Tính đủ hiệu quả, chi phí và nguồn lực khai thác

Ba dự án cao tốc Bảo Hà - Lai Châu, Quảng Ngãi - Kon Tum và Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên được kỳ vọng tạo động lực kết nối vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Thảo luận về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ chính sách ưu đãi đầu tư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư; tránh hỗ trợ trùng lặp.
Trình Quốc hội 7 nhóm chính sách đặc thù tạo đột phá phát triển du lịch

Trình Quốc hội 7 nhóm chính sách đặc thù tạo đột phá phát triển du lịch

Chính phủ đề xuất 7 nhóm chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, thu hút đầu tư và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực

Hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực

Trong tuần từ ngày 1 - 7/11/2026, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành liên quan đến lĩnh vực tài chính, nổi bật là tăng cường quản lý, hạch toán tài sản công; hoàn thiện cơ chế tài chính, huy động nguồn lực đầu tư.
Quốc hội quyết nghị năm 2027 tăng trưởng từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%

Quốc hội quyết nghị năm 2027 tăng trưởng từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%

Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%.
Đấu giá quyền sử dụng khu vực biển: Công khai, cạnh tranh thực chất, rõ nghĩa vụ tài chính

Đấu giá quyền sử dụng khu vực biển: Công khai, cạnh tranh thực chất, rõ nghĩa vụ tài chính

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng cho biết, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được thiết kế theo hướng bảo đảm đấu giá quyền sử dụng khu vực biển công khai, cạnh tranh thực chất, lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm,
Việt Nam - Nhật Bản: Củng cố tin cậy, làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện

Việt Nam - Nhật Bản: Củng cố tin cậy, làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện

Trên nền tảng tin cậy chính trị và hợp tác sâu rộng, Việt Nam và Nhật Bản đang đứng trước nhiều cơ hội tăng cường liên kết kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
MICA-2026: Khẳng định vai trò của chuyển đổi số và hành vi tiêu dùng xanh

MICA-2026: Khẳng định vai trò của chuyển đổi số và hành vi tiêu dùng xanh

Sáng 6/11, Trường Đại học Tài chính - Marketing tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Marketing in the Connected Age” lần thứ 5 (MICA-2026).
Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh

Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh

Theo định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia, đến năm 2030, 100% thành phố tổ chức xây dựng, thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh.
Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị

Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị

Theo Chủ tịch HĐQT Tập đoàn CNCTech Nguyễn Văn Hùng, thước đo thành công của KCN còn nằm ở giá trị gia tăng, năng suất, sức cạnh tranh tạo ra cho nền kinh tế.
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững

Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững

Nền kinh tế toàn cầu trải qua nhiều biến động phức tạp, việc tìm kiếm các kênh huy động vốn hiệu quả và bền vững trở thành một thách thức lớn đối với nhiều DN.
Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị

Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị

Nhận diện điểm nghẽn và động lực tăng trưởng đối với phát triển kinh tế cấp xã trên cơ sở khảo sát ý kiến cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã trên phạm vi cả nước.
VinaCapital: Đảng Dân chủ thắng lớn là chất xúc tác cho VN-Index

VinaCapital: Đảng Dân chủ thắng lớn là chất xúc tác cho VN-Index

GDP tăng 9%, lợi nhuận doanh nghiệp dự báo tăng 25% nhưng VN-Index gần như đứng yên từ đầu năm. Kết quả bầu cử Mỹ có thể giúp gỡ nút thắt này.
Vốn đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp của TP. Hồ Chí Minh vượt 150% kế hoạch

Vốn đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp của TP. Hồ Chí Minh vượt 150% kế hoạch

Sau 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thu hút tại các khu chế xuất, khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh đạt khoảng 6,39 tỷ USD, vượt hơn 150% kế hoạch năm.
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách

Thảo luận về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ chính sách ưu đãi đầu tư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư; tránh hỗ trợ trùng lặp.
Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ

Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ

Theo PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, tăng trưởng 2 con số không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống, mà cần chủ động ứng phó với những biến động bên ngoài.
Đề xuất hơn 162.000 tỷ đồng đầu tư 3 dự án cao tốc kết nối vùng miền núi, Tây Nguyên

Đề xuất hơn 162.000 tỷ đồng đầu tư 3 dự án cao tốc kết nối vùng miền núi, Tây Nguyên

Chính phủ đề xuất đầu tư công 3 dự án cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, Bảo Hà - Lai Châu và Quảng Ngãi - Kon Tum, với tổng chiều dài 430,5 km, sơ bộ tổng mức đầu tư 162.393 tỷ đồng.
Đầu tư công và liên kết vùng tạo động lực tăng trưởng cho ba địa phương Đồng bằng sông Cửu Long

Đầu tư công và liên kết vùng tạo động lực tăng trưởng cho ba địa phương Đồng bằng sông Cửu Long

Cần Thơ, Vĩnh Long và Đồng Tháp cần phát huy tiềm năng, lợi thế từng địa phương và tăng cường liên kết vùng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.