“Bẫy kết nối dọc vi mô” của thương mại quốc tế Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
ThS.Trần Vũ Trung
Trường Kinh tế và Quản lý công, Trường Đại học Ngoại thương
Email: [email protected]
ThS.Nguyễn Minh Thủy
Trường Kinh tế và Quản lý công, Trường Đại học Ngoại thương
PGS.TS.Kim Hương Trang
Khoa Tài chính Ngân hàng - Lab Nghiên cứu, Trường Đại học Ngoại thương
Phan Lê Ngọc Linh
Trường Đại học Ngoại thương
Nguyễn Minh Phúc
Trường Đại học Ngoại thương
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phân mảnh địa kinh tế và căng thẳng thương mại từ năm 2018 đã thúc đẩy tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển trọng tâm từ tối ưu hóa chi phí sang bảo đảm an ninh và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng (Aiyar, Gourinchas và cộng sự, 2023; Baldwin, 2026). Trong xu hướng China + 1 và friend-shoring, Việt Nam nổi lên như một điểm đến đầu tư và mắt xích kết nối quan trọng trong mạng lưới sản xuất toàn cầu (Alfaro và Chor, 2023; Đào Ngọc Tiến và cộng sự, 2025). Ở cấp độ vĩ mô, chỉ số Kết nối địa kinh tế của Việt Nam tăng từ 0,41 năm 2015 lên 0,79 năm 2024, phản ánh vai trò kết nối ngang ngày càng rõ nét (Aiyar, Ohnsorge và Yilmazkuday, 2026).
Tuy nhiên, mức độ kết nối ngang ở cấp độ quốc gia không đồng nghĩa với sự tham gia sâu vào chuỗi giá trị ở cấp độ ngành và doanh nghiệp. Một bộ phận hoạt động xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào linh kiện, bán thành phẩm nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc, trong khi các khâu gia công, lắp ráp tạo ra giá trị gia tăng nội địa hạn chế. Cấu trúc này làm gia tăng nguy cơ phụ thuộc đầu vào và đối mặt với các biện pháp phòng vệ thương mại, đặc biệt liên quan đến xuất xứ hàng hóa (Grozoubinski, 2024; White House, 2026).
Khoảng trống nghiên cứu nằm ở sự thiếu vắng các phân tích kết nối có hệ thống giữa vị thế kết nối địa kinh tế vĩ mô và cấu trúc phụ thuộc đầu vào ở cấp độ ngành, nhóm hàng hoặc doanh nghiệp tại Việt Nam. Cụ thể, cần làm rõ liệu sự gia tăng kết nối thương mại có đi kèm với việc nâng cao giá trị gia tăng nội địa hay chủ yếu phản ánh mô hình nhập khẩu đầu vào - gia công, lắp ráp - xuất khẩu thành phẩm. Việc nhận diện mức độ và các yếu tố chi phối hiện tượng “bẫy kết nối dọc vi mô” sẽ góp phần làm rõ rủi ro cấu trúc của thương mại Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực nội sinh và khả năng chống chịu trước những biến động địa kinh tế.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs) nhấn mạnh sự phân mảnh sản xuất xuyên quốc gia, trong đó các công đoạn được phân bổ giữa các nền kinh tế theo lợi thế và năng lực sản xuất (Gereffi et al., 2005). Theo mô hình “đường cong nụ cười”, giá trị gia tăng thường tập trung ở các khâu R&D, thiết kế, sở hữu trí tuệ, tiếp thị và phân phối, trong khi gia công, lắp ráp thường tạo ra giá trị gia tăng thấp hơn (Mudambi, 2008; Rungi & Del Prete, 2018).
Nghiên cứu sử dụng 3 chỉ tiêu GVC phổ biến: tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu, mức độ tham gia ngược (giá trị gia tăng nước ngoài trong xuất khẩu) và mức độ tham gia xuôi (giá trị gia tăng nội địa được sử dụng trong xuất khẩu của đối tác). Các chỉ tiêu này dựa trên khung thống kê TiVA của OECD (Martins Guilhoto et al., 2022). Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất chỉ số phụ thuộc kết nối dọc, kết hợp mức độ phụ thuộc nhập khẩu đầu vào, tập trung thị trường xuất khẩu và tỷ trọng giá trị gia tăng nước ngoài; chỉ số này cần được xác định công thức và kiểm định trước khi áp dụng.
Trong bối cảnh phân mảnh địa kinh tế, Aiyar et al. (2026) cung cấp khung phân tích về các quốc gia kết nối, giúp phân biệt kết nối ngang thông qua đa dạng hóa đối tác với kết nối dọc trong chuỗi cung ứng. Do đó, đánh giá vị thế thương mại của Việt Nam cần xem xét đồng thời mức độ đa dạng hóa thị trường và sự phụ thuộc vào đầu vào nhập khẩu.
THẢO LUẬN THỰC TRẠNG
Liên kết cấu trúc
Ngoại thương Việt Nam tăng trưởng mạnh, củng cố vị thế trong nhóm nền kinh tế thương mại hàng hóa hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, phân tích định lượng cho thấy sự bất đối xứng mang tính hệ thống: nhập khẩu tư liệu sản xuất từ Trung Quốc tương quan chặt chẽ với xuất khẩu thành phẩm sang Hoa Kỳ. Điều này phản ánh xu hướng “dọc hóa” chuỗi cung ứng, trong đó Việt Nam chủ yếu nhập khẩu đầu vào, gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng hạn chế rồi xuất khẩu sang Hoa Kỳ, qua đó tận dụng chênh lệch chính sách thuế quan (Bảng).
Nghiên cứu thiết lập cây quyết định chẩn đoán rủi ro cho các dòng sản phẩm xuất khẩu theo 3 tiêu chí phân loại: (i). Rủi ro cao (Mắc bẫy kết nối dọc vi mô): Khi dòng sản phẩm sử dụng > 30% giá trị đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc VÀ có thị trường xuất khẩu chính là Hoa Kỳ (chiếm > 20% kim ngạch); (ii). Rủi ro trung bình: Khi sử dụng > 30% đầu vào từ Trung Quốc nhưng xuất khẩu phân tán (không tập trung vào Mỹ), HOẶC xuất khẩu sang Mỹ 20% nhưng có tỷ lệ Giá trị Gia tăng Nội địa DVA < 30%; (iii). Rủi ro thấp (Vị thế bền vững): Dòng hàng không phụ thuộc đầu vào Trung Quốc và đạt DVA > 30%.
Phân tích cụ thể các ngành chủ lực phản ánh rõ rệt mức độ dọc hóa:
Ngành sản xuất điện tử và linh kiện
Ngành công nghiệp điện tử đã xác lập vị thế là lĩnh vực xuất khẩu hàng đầu về mặt quy mô, tuy nhiên giá trị tạo lập chủ yếu tập trung ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (World Bank, 2024).
|
BẢNG: THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ THAM GIA GVCS CỦA MỘT SỐ NGÀNH SẢN XUẤT QUAN TRỌNG CỦA VIỆT NAM |
||||||
|
Ngành |
DVA (%) |
GVC Ngược (%) |
GVC Xuôi (%) |
Nội địa hóa (%) |
Liên kết DN nội (%) |
Vị thế trong chuỗi |
|
Điện tử |
35.2 |
64.1 |
15.2 |
20.5 |
25.0 |
Sản xuất, lắp ráp |
|
Dệt may |
42.1 |
57.3 |
10.4 |
35.2 |
18.0 |
Gia công, lắp ráp |
|
Ô tô |
28.4 |
71.2 |
5.3 |
18.0 |
10.0 |
Lắp ráp CKD/SKD |
|
Nông nghiệp |
60.5 |
32.4 |
22.8 |
55.0 |
30.0 |
Sơ chế, chế biến |
|
Máy móc TB |
40.0 |
59.9 |
8.5 |
30.0 |
20.0 |
Gia công, đơn lẻ |
Nguồn: Đào Ngọc Tiến và cộng sự (2025)
Cấu trúc chuỗi giá trị của ngành phản ánh sự mất cân đối khi tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa còn ở mức khiêm tốn, trong khi mức độ tham gia chuỗi ngược lại chiếm tỷ trọng vượt trội (Đào Ngọc Tiến và cộng sự, 2025). Khối doanh nghiệp nội địa, vốn có quy mô chủ yếu là vừa và nhỏ, phần lớn dừng lại ở phân tầng cung ứng thứ cấp, tập trung vào các khâu thâm dụng lao động giản đơn hoặc dịch vụ phụ trợ như sản xuất linh kiện nhựa kỹ thuật và bao bì đóng gói. Các cấu phần phức hợp có hàm lượng công nghệ cao như vi mạch tích hợp, chất bán dẫn, phiến bán dẫn và màn hình hiển thị vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung trung gian nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.
Ngành dệt may
Là một trong những lĩnh vực sản xuất thâm dụng lao động truyền thống và đóng góp kim ngạch xuất khẩu đáng kể, ngành dệt may vẫn chịu sự chi phối mạnh mẽ từ nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, đặc biệt là nguồn cung xơ sợi, vải và phụ liệu từ thị trường Trung Quốc. Đa số các cơ sở sản xuất trong nước hiện duy trì phương thức gia công cắt may và hoàn thiện cơ bản, mang lại biên lợi nhuận sau thuế tương đối thấp (KPMG, 2023). Điểm nghẽn mang tính cấu trúc của ngành nằm ở sự thiếu hụt năng lực dệt nhuộm hoàn tất và khâu nghiên cứu thiết kế mẫu mã, qua đó tạo ra rào cản lớn đối với tiến trình chuyển dịch lên các phương thức sản xuất chủ động có giá trị gia tăng cao hơn như mua đứt bán đoạn, sản xuất theo mẫu thiết kế nguyên bản hoặc phát triển thương hiệu riêng.
Hệ quả cấu trúc và rủi ro đối với nền kinh tế việt nam
Sự phụ thuộc vào “bẫy kết nối dọc” ở cấp độ vi mô tạo ra ba hệ quả chính đối với phát triển dài hạn và năng lực tự chủ kinh tế.
Thứ nhất, gia tăng rủi ro thương mại và pháp lý. Mô hình nhập khẩu đầu vào - gia công - tái xuất khiến Việt Nam dễ bị xem là điểm trung chuyển nhằm lẩn tránh thuế quan, làm gia tăng nguy cơ điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, đặc biệt từ Hoa Kỳ (World Bank, 2026).
Thứ hai, giá trị gia tăng nội địa bị hạn chế. Khu vực FDI chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu và vận hành chuỗi cung ứng tương đối khép kín, khiến phần giá trị giữ lại trong nước chủ yếu đến từ lao động và dịch vụ phụ trợ, trong khi phần lớn lợi nhuận được chuyển ra nước ngoài (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, 2025; Đào Ngọc Tiến và cộng sự, 2025).
Thứ ba, lợi thế chi phí lao động suy giảm. Khi tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động, mô hình gia công thâm dụng lao động sẽ ngày càng kém cạnh tranh. Nếu không nâng cao năng suất và giá trị gia tăng nội địa, Việt Nam có nguy cơ mất lợi thế so sánh và đối mặt với dịch chuyển FDI sang các quốc gia có chi phí thấp hơn (ILO, 2022).
KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP
Nhằm vượt qua bẫy kết nối dọc vi mô và hiện thực hóa định hướng chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ dựa vào lợi thế chi phí thấp sang nâng cao năng suất và tạo lập giá trị gia tăng cao giai đoạn 2026-2030, nghiên cứu đề xuất khung giải pháp đa tầng với sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, Hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp.
Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía Nhà nước
Sàng lọc FDI có chiều sâu và phát triển công nghiệp hỗ trợ trọng điểm. Chuyển dịch mạnh mẽ chính sách thu hút FDI từ quy mô thuần túy sang sàng lọc có chọn lọc, ưu tiên các dự án cam kết đầu tư chiều sâu, thành lập trung tâm R&D và chuyển giao công nghệ cốt lõi. Tập trung các công cụ ưu đãi thuế, tín dụng ưu đãi để phát triển công nghiệp hỗ trợ trong các ngành điện tử, cơ khí chính xác/máy móc, ô tô và dệt nhuộm nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa giá trị nội địa và nước ngoài.
Minh bạch hóa quy tắc xuất xứ và số hóa hạ tầng thương mại. Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống quản lý quy tắc xuất xứ, hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc dữ liệu chuỗi cung ứng. Việc này giúp minh bạch hóa tỷ lệ DVA, chứng minh sự “biến đổi bản chất” của hàng hóa sản xuất tại Việt Nam, từ đó chủ động triệt tiêu rủi ro bị áp các biện pháp phòng vệ thương mại, điều tra lẩn tránh thuế quan từ Hoa Kỳ và EU. Đồng thời, hiện đại hóa hệ thống hải quan thông minh và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí bền vững/carbon trong các FTA thế hệ mới.
Bồi dưỡng đội ngũ doanh nghiệp tư nhân nòng cốt. Sử dụng quỹ hỗ trợ hợp tác công - tư (PPP) và chính sách tín dụng xuất khẩu để nuôi dưỡng các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn trong nước , tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu ngành phát huy vai trò “sếu đầu đàn”, dẫn dắt, bao tiêu sản phẩm và lan tỏa năng lực công nghệ đến toàn bộ mạng lưới SMEs phụ trợ nội địa.
Nhóm giải pháp trung mô từ phía Hiệp hội ngành hàng & Cụm liên kết ngành
Thành lập Nền tảng số kết nối Cung - Cầu chuỗi cung ứng nội địa, Các hiệp hội ngành nghề (Điện tử, Dệt may, Cơ khí) cần chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng phụ trợ đạt chuẩn để làm cầu nối chiến lược giữa khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước và các tập đoàn đa quốc gia FDI, hạn chế tình trạng vận hành biệt lập của khu vực FDI và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa thực chất.
Nhóm giải pháp vi mô từ phía Doanh nghiệp xuất khẩu
Nâng cấp chức năng và Dịch chuyển lên nấc giá trị gia tăng cao trong GVCs. Doanh nghiệp xuất khẩu thuộc các ngành rủi ro cao (điện tử, dệt may, máy móc) bắt buộc phải thực hiện cuộc chuyển dịch chiến lược từ gia công lắp ráp thuần túy sang Nâng cấp chức năng dọc theo Biểu đồ Nụ cười. Từng bước chủ động khâu thiết kế, ứng dụng công nghệ xanh, phát triển dịch vụ công nghiệp gắn liền và tự chủ xây dựng thương hiệu quốc gia (OBM).
Thực hiện chiến lược “Kết nối ngang vi mô” (Đa dạng hóa nguồn cung & thị trường). Chủ động giảm sự phụ thuộc tuyến tính vào nguồn tư liệu sản xuất nhập khẩu đơn lẻ bằng cách mở rộng mạng lưới cung ứng nguyên phụ liệu từ các đối tác trong các FTA (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, ASEAN, Ấn Độ, EU). Ở đầu ra, bên cạnh thị trường Hoa Kỳ, doanh nghiệp cần tích cực đẩy mạnh khai thác các thị trường FTA thế hệ mới (EU, CPTPP) và các thị trường ngách tiềm năng (Trung Đông, Nam Á, Mỹ Latinh) để phân tán rủi ro pháp lý và thương mại.
Đầu tư Hạ tầng Dữ liệu số và Chuẩn mực Bền vững (ESG). Chủ động chuyển đổi mô hình cạnh tranh từ chi phí lao động thấp sang cạnh tranh bằng chuẩn mực ESG, chứng nhận sinh thái và quản trị chuỗi cung ứng minh bạch. Đây được xem là khoản “bảo hiểm cấu trúc” giúp doanh nghiệp Việt Nam khẳng định tính không thể thay thế, nâng cao biên lợi nhuận và duy trì sự hiện diện bền vững trong chuỗi giá trị toàn cầu giai đoạn 2026-2030.
KẾT LUẬN
Quá trình tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đã mang lại cho Việt Nam quy mô kinh tế ngoại thương khổng lồ và vị thế kết nối ngang vĩ mô vô cùng đắt giá trên bản đồ địa kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, tính bền vững của mô hình này đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi ‘Bẫy kết nối dọc vi mô’ ở cấp doanh nghiệp, nơi sự phụ thuộc quá mức vào nguồn đầu vào Trung Quốc và khâu lắp ráp gia công mỏng lẻo khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các cú sốc phòng vệ thương mại từ các đối tác phương Tây. Con đường duy nhất để Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới là chuyển đổi đồng bộ từ mô hình tăng trưởng dựa trên quy mô và chi phí thấp sang mô hình dựa trên giá trị gia tăng nội địa (DVA), năng suất lao động vượt trội và đổi mới công nghệ cốt lõi. Sự phối hợp đa tầng chặt chẽ giữa Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp dẫn dắt trung tâm và hệ sinh thái học thuật đổi mới sáng tạo sẽ là chìa khóa vàng giúp Việt Nam khẳng định vị thế tự chủ và phát triển trên bản đồ phân công lao động quốc tế thế kỷ 21.
Tài liệu tham khảo:
- Aiyar, S., Ohnsorge, F., & Yilmazkuday, H. (2026). Connector countries in a geoeconomically fragmenting world. Journal of International Money and Finance, 167, Article 103633. https://doi.org/10.1016/j.jimonfin.2026.103633.
- Alfaro, L., & Chor, D. (2023). Global supply chains: The looming “great reallocation” (NBER Working Paper No. 31661). National Bureau of Economic Research. https://www.nber.org/papers/w31661.
- Baldwin, R. (2026). World trade war: The geopolitics of supply chain reallocation. Palgrave Macmillan.
- Đào Ngọc Tiến, Vũ Kim Ngân, Trần Vũ Trung, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Ngọc Kiên, Cao Thị Hồng Vinh, Nguyễn Ngọc Hà, Phùng Thị Yến, Trịnh Thị Thu Hiền, Trịnh Thị Lan Anh, Trịnh Thị Thu Hương, & Nguyễn Thị Bình. (2025). Báo cáo thương mại quốc tế Việt Nam 2025: Động lực tăng trưởng mới. Nxb. Công Thương.
- Gereffi, G., Humphrey, J., & Sturgeon, T. (2005). The governance of global value chains. Review of International Political Economy, 12(1), 78-104. https://doi.org/10.1080/09692290500049805.
- Grozoubinski, D. (2024). Why politicians lie about trade and what you need to know. Penguin Business.
- International Labour Organization. (2022). Global wage report 2022-23: The impact of inflation and COVID-19 on wages and purchasing power. https://www.ilo.org/publications/flagship-reports/global-wage-report-2022-23-impact-inflation-and-covid-19-wages-and.
- KPMG. (2023, March). Integration into global value chains: A roadmap for Vietnamese private enterprises. KPMG in Vietnam.
- Martins Guilhoto, J., Webb, C., & Yamano, N. (2022). Guide to OECD TiVA indicators, 2021 edition (OECD Science, Technology and Industry Working Papers No. 2022/02). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/58aa22b1-en.
- Mudambi, R. (2008). Location, control and innovation in knowledge-intensive industries. Journal of Economic Geography, 8(5), 699-725. https://doi.org/10.1093/jeg/lbn024.
- Rungi, A., & Del Prete, D. (2018). The smile curve at the firm level: Where value is added along supply chains. Economics Letters, 164, 38-42. https://doi.org/10.1016/j.econlet.2017.12.038.
- Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. (2025). Báo cáo đánh giá 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam (VPE500): Năng lực cạnh tranh và liên kết chuỗi.
- White House. (2026, August). The great transshipment scam: Rise, scope, and costs. Office of Trade and Manufacturing Policy. https://www.whitehouse.gov/wp-content/uploads/2026/08/The-Great-Transshipment-Scam.pdf.
- World Bank. (2024). Working together for better climate action: Carbon pricing and policy spillovers and global climate goal. https://www.wto.org/english/res_e/publications_e/climate_action_e.htm.
- World Bank. (2026, April). East Asia and Pacific economic update, April 2026: Industrial policy in the digital age. World Bank. https://openknowledge.worldbank.org/entities/publication/57bcd2e6-2e35-4032-9a0d-a07562811f11.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 2 tháng 10/2026 |
Tin tức khác
Phát triển thị trường tín chỉ carbon ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Chuẩn hóa doanh nghiệp, điều kiện đón dòng vốn quốc tế
INFOGRAPHIC: Xổ số cả nước nộp ngân sách hơn 53.400 tỷ đồng
Tài chính doanh nghiệp 24/7: Viettel đầu tư 200 triệu USD, Green SM giảm 25% giá cước
Hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực
Quốc hội quyết nghị năm 2027 tăng trưởng từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%
Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường tài chính Việt Nam
VIDEO: Bộ Tài chính bứt phá cải cách hành chính mở đường cho kinh tế số
PODCAST: Hoàn thiện thể chế tài chính - Khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
Đầu tư 3 tuyến cao tốc miền núi: Tính đủ hiệu quả, chi phí và nguồn lực khai thác
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách
Trình Quốc hội 7 nhóm chính sách đặc thù tạo đột phá phát triển du lịch
Hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực
Quốc hội quyết nghị năm 2027 tăng trưởng từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%
Đấu giá quyền sử dụng khu vực biển: Công khai, cạnh tranh thực chất, rõ nghĩa vụ tài chính
Việt Nam - Nhật Bản: Củng cố tin cậy, làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện
MICA-2026: Khẳng định vai trò của chuyển đổi số và hành vi tiêu dùng xanh
Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh
Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững
Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị
VinaCapital: Đảng Dân chủ thắng lớn là chất xúc tác cho VN-Index
Vốn đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp của TP. Hồ Chí Minh vượt 150% kế hoạch
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách
Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ
Đề xuất hơn 162.000 tỷ đồng đầu tư 3 dự án cao tốc kết nối vùng miền núi, Tây Nguyên







