Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị
![]() |
| Ông Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn CNCTech |
Phóng viên: Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới, ông đánh giá vai trò của hệ thống khu công nghiệp sẽ thay đổi như thế nào? Theo ông, đâu là những yếu tố quyết định để khu công nghiệp thực sự trở thành một động lực tăng trưởng, thay vì chỉ là nơi tập trung các nhà máy sản xuất?
Ông Nguyễn Văn Hùng: Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, các khu công nghiệp cần chuyển từ vai trò cung cấp mặt bằng sản xuất sang kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp xanh, thông minh và bền vững, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Để thực sự trở thành động lực tăng trưởng, khu công nghiệp cần phát triển đồng bộ hạ tầng sản xuất, logistics, năng lượng, công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; đồng thời thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Giá trị của khu công nghiệp không chỉ nằm ở tỷ lệ lấp đầy hay số vốn đầu tư thu hút được, mà quan trọng hơn là giá trị gia tăng, năng suất và sức cạnh tranh mà khu công nghiệp tạo ra cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Phóng viên: Theo ông, mô hình khu công nghiệp thế hệ mới cần được tổ chức như thế nào để hình thành một hệ sinh thái sản xuất - đổi mới sáng tạo - dịch vụ, gắn với đô thị, logistics, cảng biển, sân bay và các không gian phát triển mới? Từ thực tiễn của CNCTech, đâu là những yếu tố cần ưu tiên khi phát triển mô hình này tại Việt Nam?
Ông Nguyễn Văn Hùng: Theo tôi, khu công nghiệp thế hệ mới cần được quy hoạch theo tư duy kết nối và tích hợp chuỗi giá trị, thay vì phát triển các khu công nghiệp riêng lẻ. Trong đó, sản xuất công nghiệp là hạt nhân, được kết nối đồng bộ với các trung tâm R&D, dịch vụ logistics, đô thị, hạ tầng giao thông, cảng biển và sân bay, hình thành một hệ sinh thái công nghiệp xanh, thông minh và hiện đại.
Từ thực tiễn phát triển hệ sinh thái CNC, chúng tôi cho rằng cần ưu tiên ba yếu tố: Thứ nhất, quy hoạch đồng bộ, có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm kết nối thuận lợi giữa các không gian sản xuất, logistics và đô thị. Thứ hai, phát triển hạ tầng và dịch vụ công nghiệp tích hợp, giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh. Thứ ba, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, tạo động lực đổi mới sáng tạo và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Mục tiêu cuối cùng là hình thành những trung tâm công nghiệp có khả năng thu hút đầu tư công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn và đóng góp bền vững cho tăng trưởng kinh tế.
![]() |
| Khu công nghiệp thế hệ mới cần được quy hoạch theo tư duy kết nối và tích hợp chuỗi giá trị, thay vì phát triển các khu công nghiệp riêng lẻ. |
Phóng viên: Phát triển khu công nghiệp xanh, thông minh đang trở thành xu hướng tất yếu khi các thị trường quốc tế ngày càng đặt ra những yêu cầu cao về môi trường, phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc. Theo ông, doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp và doanh nghiệp sản xuất cần thay đổi như thế nào để đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời kiểm soát được chi phí đầu tư?
Ông Nguyễn Văn Hùng: Phát triển khu công nghiệp xanh, thông minh không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp, cần chuyển từ cung cấp mặt bằng sang cung cấp giải pháp hạ tầng và dịch vụ xanh tích hợp, bao gồm năng lượng sạch, quản lý tài nguyên, xử lý môi trường, logistics và quản trị vận hành thông minh. Với doanh nghiệp sản xuất, cần đẩy mạnh đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả năng lượng, nguyên vật liệu, kiểm soát phát thải và minh bạch dữ liệu sản xuất để đáp ứng yêu cầu của khách hàng quốc tế.
Để kiểm soát chi phí, cần tiếp cận chuyển đổi xanh như một khoản đầu tư nâng cao hiệu quả dài hạn, thay vì chỉ là chi phí tuân thủ. Trong đó, ưu tiên các giải pháp có hiệu quả rõ ràng, triển khai theo lộ trình phù hợp và tận dụng hạ tầng, dịch vụ dùng chung trong khu công nghiệp để giảm chi phí đầu tư riêng lẻ.
Từ thực tiễn, chúng tôi cho rằng chuyển đổi xanh phải đi đôi với nâng cao năng suất, tối ưu chi phí và gia tăng sức cạnh tranh. Đây mới là nền tảng để phát triển công nghiệp xanh một cách thực chất và bền vững.
Phóng viên: Từ kinh nghiệm phát triển các khu, cụm công nghiệp và hạ tầng logistics xanh, thông minh, ông nhìn nhận thế nào về bài toán liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam trong các khucông nghiệp? Việt Nam cần làm gì để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và từng bước nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu?
Ông Nguyễn Văn Hùng: Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam là yếu tố quan trọng để các khu công nghiệp không chỉ thu hút vốn đầu tư mà còn tạo ra giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế. Mục tiêu không chỉ là đưa doanh nghiệp FDI vào Việt Nam, mà còn phải tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của họ.
Từ thực tiễn CNCTech, chúng tôi nhận thấy doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng công nghệ cao nếu đáp ứng được các yêu cầu về công nghệ, chất lượng, tiêu chuẩn quốc tế và năng lực giao hàng.
Để thúc đẩy quá trình này, theo tôi cần tập trung vào ba giải pháp: Thứ nhất, phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, tạo môi trường kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp FDI và nhà cung ứng trong nước. Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực công nghệ, quản trị và tiêu chuẩn sản xuất, đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn toàn cầu. Thứ ba, thúc đẩy hợp tác về R&D, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ, giúp doanh nghiệp trong nước từng bước đảm nhận những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Thành công của một khu công nghiệp không chỉ đo bằng số lượng dự án FDI, mà còn bằng số doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành và vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu từ chính khu công nghiệp đó.
![]() |
Phóng viên: Ông cố kiến nghị những cơ chế, chính sách nào để doanh nghiệp có thể mạnh dạn đầu tư vàokhu công nghiệp xanh, thông minh, hạ tầng logistics và công nghệ mới, qua đó góp phần hình thành những hệ sinh thái công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam?
Ông Nguyễn Văn Hùng: Tôi cho rằng để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào khu công nghiệp xanh, thông minh, logistics và công nghệ mới, điều quan trọng nhất là xây dựng môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, có tính dự báo cao và tạo điều kiện để doanh nghiệp triển khai dự án nhanh chóng, hiệu quả.
Theo tôi, cần ưu tiên ba nhóm chính sách. Thứ nhất, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian phê duyệt, triển khai các dự án khu công nghiệp, logistics và hạ tầng công nghệ cao. Thứ hai, có cơ chế khuyến khích đầu tư dài hạn, đặc biệt là tiếp cận nguồn vốn xanh, phát triển năng lượng sạch, hạ tầng số và các công nghệ sản xuất tiên tiến. Thứ ba, tăng cường quy hoạch và đầu tư hạ tầng kết nối liên vùng, bảo đảm sự đồng bộ giữa khu công nghiệp, đô thị, trung tâm logistics, cảng biển và sân bay.
Bên cạnh đó, cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư, phát triển các hệ sinh thái công nghiệp tích hợp, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam.
Khi thể chế thông thoáng, hạ tầng đồng bộ và doanh nghiệp được tạo điều kiện phát huy năng lực, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm động lực đầu tư, đổi mới sáng tạo và đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số của đất nước.
Phóng viên: Cảm ơn những chia sẻ của ông!
Tin tức khác
“Bẫy kết nối dọc vi mô” của thương mại quốc tế Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững
Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị
Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ
Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường tài chính Việt Nam
Triển vọng tăng trưởng kinh tế TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030: Động lực, điểm nghẽn và giải pháp đột phá tăng trưởng 2 con số
Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng: Khơi thông dòng vốn phát triển vùng miền Trung - Tây Nguyên
VIDEO: Bộ Tài chính bứt phá cải cách hành chính mở đường cho kinh tế số
PODCAST: Hoàn thiện thể chế tài chính - Khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
Đầu tư 3 tuyến cao tốc miền núi: Tính đủ hiệu quả, chi phí và nguồn lực khai thác
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách
Trình Quốc hội 7 nhóm chính sách đặc thù tạo đột phá phát triển du lịch
Hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực
Quốc hội quyết nghị năm 2027 tăng trưởng từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%
Đấu giá quyền sử dụng khu vực biển: Công khai, cạnh tranh thực chất, rõ nghĩa vụ tài chính
Việt Nam - Nhật Bản: Củng cố tin cậy, làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện
MICA-2026: Khẳng định vai trò của chuyển đổi số và hành vi tiêu dùng xanh
Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh
Khu công nghiệp thế hệ mới: Không chỉ lấp đầy diện tích, mà phải tạo ra giá trị
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam công khai, minh bạch, bền vững
Phát triển kinh tế ở cấp xã trước yêu cầu tăng trưởng hai con số: Điểm nghẽn, động lực và khuyến nghị
VinaCapital: Đảng Dân chủ thắng lớn là chất xúc tác cho VN-Index
Vốn đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp của TP. Hồ Chí Minh vượt 150% kế hoạch
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch: Không hỗ trợ trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách
Để duy trì tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào những động lực cũ
Đề xuất hơn 162.000 tỷ đồng đầu tư 3 dự án cao tốc kết nối vùng miền núi, Tây Nguyên










