Tạo “đường băng thể chế” cho động lực phát triển mới cất cánh
![]() |
| Đại biểu Hoàng Minh Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội |
Đột phá thể chế, mở đường cho mô hình phát triển mới
Phóng viên: Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam nêu rõ quan điểm đổi mới mô hình phát triển trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia. Theo ông, vì sao thể chế được đặt ở vị trí “trước hết” trong việc tạo ra năng lực phát triển mới.
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu: Việc Nghị quyết số 19-NQ/TW được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt vấn đề đổi mới mô hình phát triển trước hết phải tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia là sự tiếp nối nhất quán, đồng thời là một bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về động lực phát triển đất nước.
Bắt đầu từ Đại hội XI, văn kiện của Đảng đã xác định một trong 3 đột phá chiến lược là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội XIV, tư duy này được nâng lên khi đột phá thể chế không còn chỉ trong phạm vi “thể chế kinh tế”, mà là “đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển”, gắn với nâng cao năng lực hoạch định, tổ chức thực hiện, phân cấp, phân quyền, quản trị phát triển và giải phóng mọi nguồn lực.
Vì sao ở giai đoạn hiện nay thể chế càng phải được đặt ở vị trí “trước hết”? Câu trả lời nằm ở thực tiễn phát triển của đất nước, khi nhiều động lực tăng trưởng truyền thống đang dần thu hẹp dư địa. Trong một thời gian dài, Việt Nam tăng trưởng khá nhanh nhờ gia tăng vốn đầu tư, lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động rẻ, có lợi thế tài nguyên, mở rộng sản xuất gia công, thu hút FDI và tham gia mạnh vào thương mại quốc tế. Những động lực đó vẫn rất quan trọng, nhưng khó có thể tiếp tục tạo ra tốc độ tăng trưởng cao bằng cách mở rộng về lượng như trước.
Vì vậy, vấn đề của giai đoạn tới không đơn thuần là có thêm bao nhiêu vốn, đất đai hay lao động, mà quan trọng hơn là làm thế nào để cùng một lượng nguồn lực đó tạo ra nhiều giá trị hơn. Và đây chính là chỗ thể chế có ý nghĩa quyết định. Một đồng vốn đầu tư đúng chỗ hay bị phân bổ sai lệch; một khu đất được sử dụng hiệu quả hay bị bỏ hoang; một ý tưởng kinh doanh có nhanh chóng trở thành sản phẩm trên thị trường hay không; một doanh nghiệp có mở rộng đầu tư hay giữ tiền để phòng ngừa rủi ro, phần lớn đều liên quan đến chất lượng của thể chế.
Bên cạnh đó, thể chế là một trong những động lực mà chúng ta có mức độ chủ động cao nhất. Biến động kinh tế thế giới, xung đột địa chính trị, chính sách thương mại của các nước lớn, giá năng lượng hay dòng vốn quốc tế là những yếu tố Việt Nam phải thích ứng nhưng không thể tự mình quyết định. Ngược lại, chúng ta hoàn toàn có thể chủ động quyết định một thủ tục đầu tư cần bao nhiêu bước; một doanh nghiệp phải xin bao nhiêu giấy phép; quyền tài sản được bảo vệ đến đâu; phân quyền cho địa phương như thế nào; cán bộ được quyền quyết định và chịu trách nhiệm đến đâu...
Quan trọng hơn, mọi hoạt động kinh tế - xã hội đều vận hành trong một khuôn khổ thể chế nhất định. Khoa học - công nghệ có thể là động lực tăng trưởng mới, nhưng nếu pháp luật không chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo thì công nghệ khó đi vào cuộc sống.
Kinh tế tư nhân có thể trở thành động lực quan trọng, nhưng nếu quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và khả năng thực thi hợp đồng chưa được bảo đảm tốt thì doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư dài hạn. Vì thế, muốn tạo động lực mới thì trước hết phải tạo ra “đường băng thể chế” cho những động lực đó cất cánh.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy một quốc gia có thể đi rất nhanh trong giai đoạn đầu nhờ tích lũy vốn và chuyển dịch lao động, nhưng để vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình thì chất lượng quản trị, khả năng bảo vệ quyền tài sản, cạnh tranh bình đẳng, hiệu quả của bộ máy nhà nước và năng lực thích ứng chính sách ngày càng có ý nghĩa quyết định.
Bài học phát triển của chính Việt Nam cũng cho thấy mỗi bước chuyển lớn đều gắn với một bước đột phá về thể chế. Đổi mới từ năm 1986 về bản chất không phải trước hết là Việt Nam có thêm tài nguyên hay lao động, mà là thay đổi cách thức tổ chức và vận hành nền kinh tế, mở rộng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, phát triển khu vực kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế.
Ở một khía cạnh khác, thể chế quyết định tốc độ phản ứng của quốc gia trước những thay đổi của thời đại. Trước đây, một chính sách có thể được xây dựng cho một chu kỳ tương đối dài, nhưng ngày nay, công nghệ, mô hình kinh doanh và quan hệ kinh tế biến đổi nhanh hơn rất nhiều. Một thể chế tốt vì cần phải có tính mở, linh hoạt, có khả năng thử nghiệm, sửa đổi và thích ứng nhanh. Quốc gia nào mất nhiều năm để hợp pháp hóa một mô hình kinh doanh mới thì rất có thể khi quy định được ban hành, cơ hội phát triển đã chuyển sang nơi khác.
Phóng viên: Nghị quyết đặt yêu cầu chấm dứt tư duy “không quản được thì cấm”, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm thông minh. Theo ông, chủ trương này sẽ tác động như thế nào đến môi trường đầu tư, kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian tới?
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu: Theo tôi, yêu cầu chấm dứt tư duy “không quản được thì cấm”, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm thông minh là một định hướng hoàn toàn đúng và đặc biệt quan trọng đối với việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trong giai đoạn hiện nay.
Tác động trực tiếp của định hướng này là giảm đáng kể chi phí gia nhập và hoạt động trên thị trường. Khi giảm được các loại giấy phép hoặc những thủ tục không thực sự cần thiết trước khi doanh nghiệp đưa sản phẩm, dịch vụ ra thị trường, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí cơ hội.
Quan trọng hơn, giảm tiền kiểm còn góp phần thu hẹp cơ chế “xin - cho”. Khi quyền kinh doanh phụ thuộc quá nhiều vào việc được chấp thuận trước, thì dù quy định được thiết kế với mục đích tốt vẫn có thể phát sinh sự tùy nghi trong thực thi và chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp. Ngược lại, khi pháp luật quy định rõ quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn phải tuân thủ và trách nhiệm pháp lý, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong các quyết định đầu tư, kinh doanh.
Việc dỡ bỏ những rào cản gia nhập thị trường không cần thiết còn làm tăng mức độ cạnh tranh của nền kinh tế. Điều kiện kinh doanh về bản chất luôn tạo ra một “cánh cửa” trước thị trường, có thể vô tình bảo vệ những doanh nghiệp đang hiện diện trên thị trường trước các đối thủ mới.
Khi những rào cản không cần thiết được gỡ bỏ, nhiều doanh nghiệp hơn có thể tham gia thị trường, tạo ra sự cạnh tranh tích cực hơn về giá, chất lượng, công nghệ và dịch vụ. Áp lực cạnh tranh đó chính là một trong những động lực quan trọng để nâng cao năng suất của nền kinh tế. Người tiêu dùng cuối cùng cũng là đối tượng được hưởng lợi từ quá trình này.
![]() |
| Triển khai mô hình phát triển mới đòi hỏi đột phá thể chế không chỉ để tháo gỡ điểm nghẽn trong quản lý, mà còn khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng. Ảnh: Lê Toàn |
Một tác động quan trọng khác là giúp doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ nắm bắt cơ hội kinh doanh. Trong nền kinh tế hiện nay, cơ hội thị trường xuất hiện và biến mất rất nhanh. Một sản phẩm công nghệ, một mô hình kinh doanh mới hay một nhu cầu mới của thị trường nhiều khi chỉ có “cửa sổ cơ hội” trong vài tháng. Nếu doanh nghiệp phải mất một khoảng thời gian dài chỉ để hoàn thành thủ tục cấp phép thì khi được phép kinh doanh, cơ hội có thể đã qua. Do đó, tôi cho rằng cải cách thủ tục không nên chỉ được nhìn dưới góc độ doanh nghiệp tiết kiệm được bao nhiêu ngày hay bao nhiêu tiền mà là bảo đảm doanh nghiệp có thể nắm bắt được cơ hội kinh doanh. Trong một nền kinh tế cạnh tranh, tốc độ cũng chính là một nguồn lực.
Đồng thời, chuyển sang hậu kiểm thông minh sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho đổi mới sáng tạo và sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh mới. Công nghệ thường phát triển nhanh hơn pháp luật. Nếu mọi sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình mới đều phải chờ cơ quan quản lý hiểu đầy đủ và thiết kế xong một hệ thống cấp phép thì chúng ta luôn có nguy cơ đi sau sự phát triển của thị trường. Cách tiếp cận hợp lý hơn là xác định những giới hạn không được vượt qua, cho phép thử nghiệm, theo dõi rủi ro và điều chỉnh chính sách khi có đủ dữ liệu thực tiễn.
Tuy nhiên, tôi cho rằng, cần nhấn mạnh một điểm rất quan trọng, đó là chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý, và cũng không thể chỉ đơn giản bỏ giấy phép rồi coi như đã hoàn thành cải cách.
Trên thực tế, hậu kiểm thông minh đòi hỏi năng lực quản trị của Nhà nước phải cao hơn tiền kiểm. Nếu chúng ta giảm tiền kiểm nhưng không đồng thời xây dựng được năng lực hậu kiểm tương ứng thì có thể phát sinh hai nguy cơ là Nhà nước không phát hiện được vi phạm hoặc lại tăng cường thanh tra, kiểm tra một cách đại trà, khiến doanh nghiệp tiếp tục chịu phiền hà dưới một hình thức khác.
Hoàn thiện pháp luật, thúc đẩy tăng trưởng
Phóng viên: Nghị quyết cũng xác định mục tiêu đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc và động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số. Theo ông, đâu là những cải cách thể chế cần được ưu tiên để hiện thực hóa mục tiêu này?
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu: Theo tôi, để thể chế, pháp luật thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc và động lực mạnh mẽ cho phát triển thì cải cách thể chế cần được triển khai như một chỉnh thể đồng bộ, không chỉ dừng ở việc sửa một vài quy định đang vướng mắc hoặc cắt giảm một số thủ tục hành chính.
Điểm khởi đầu là đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà còn phải mở rộng không gian phát triển cho người dân và doanh nghiệp. Một quy định tốt phải giúp giảm chi phí tuân thủ, bảo vệ quyền tài sản, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, khuyến khích đầu tư, đổi mới sáng tạo và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
Cùng với đó, cần nâng cao chất lượng quá trình xây dựng chính sách. Trước khi ban hành quy định mới, cơ quan đề xuất phải xác định rõ vấn đề cần giải quyết, nguyên nhân của vấn đề, sự cần thiết phải can thiệp bằng pháp luật và lợi ích thu được có lớn hơn chi phí hay không. Đánh giá tác động chính sách phải là công cụ lựa chọn phương án tối ưu, không phải thủ tục để hợp thức hóa một phương án đã có sẵn. Đồng thời, việc tham vấn doanh nghiệp, chuyên gia, địa phương và các đối tượng chịu tác động cần được thực hiện sớm, thực chất hơn.
Hệ thống pháp luật cũng cần bảo đảm tính ổn định, thống nhất và khả năng dự báo. Doanh nghiệp không chỉ cần chính sách thuận lợi trong hiện tại mà còn cần một khuôn khổ pháp lý rõ ràng, ổn định và được áp dụng thống nhất. Nếu chính sách thay đổi quá nhanh, thiếu cơ chế chuyển tiếp hoặc cùng một quy định nhưng mỗi nơi hiểu khác nhau, thì sẽ tạo ra chi phí lớn đối với doanh nghiệp. Vì vậy, cùng với yêu cầu ban hành nhanh chính sách mới, cần tăng chất lượng rà soát xung đột pháp luật, đánh giá tác động dài hạn và bảo đảm thực thi thống nhất.
Một yêu cầu quan trọng khác là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh không thể vận hành với mọi quyết định đều phải đi qua nhiều tầng nấc hành chính. Việc gì địa phương làm tốt hơn thì mạnh dạn giao cho địa phương, việc gì thị trường và xã hội có thể làm thì Nhà nước không nhất thiết trực tiếp làm. Tuy nhiên, phân quyền phải đi cùng nguồn lực, năng lực thực thi, cơ chế kiểm tra và trách nhiệm rõ ràng, để quyết định được đưa đến cấp gần thực tiễn nhất nhưng vẫn kiểm soát được quyền lực.
Đặc biệt, cần coi tổ chức thi hành pháp luật là một khâu trọng yếu. Một đạo luật tiến bộ nhưng thực hiện chậm, không thống nhất hoặc phát sinh thêm thủ tục ở cấp dưới thì vẫn không tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi. Do đó, cần chuyển từ việc chỉ đo “ban hành được bao nhiêu văn bản” sang đo “văn bản đó tạo ra kết quả gì”, thời gian đầu tư có giảm không, chi phí tuân thủ có giảm không, nguồn lực có được khơi thông không và người dân, doanh nghiệp có thực sự thuận lợi hơn không.
Song song với các nhiệm vụ trên, cần tiếp tục hoàn thiện các thể chế nền tảng của kinh tế thị trường, nhất là thị trường đất đai, vốn, lao động, khoa học - công nghệ và dữ liệu. Tăng trưởng không thể chỉ dựa vào huy động thêm nguồn lực, mà phải làm cho nguồn lực hiện có được dịch chuyển đến nơi sử dụng hiệu quả nhất. Muốn vậy, phải bảo vệ tốt quyền tài sản, thực thi hợp đồng nhanh, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, xử lý hiệu quả phá sản và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. Cùng với đó, phải nâng cao chất lượng xét xử các vụ án kinh doanh, thương mại, phát triển trọng tài, hòa giải thương mại, bảo đảm thi hành án dân sự hiệu quả.
Phóng viên: Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn, “đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam”, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các thông lệ quốc tế. Thưa ông, cần làm gì để hệ thống pháp luật vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập, vừa phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam?
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu: Theo tôi, để hệ thống pháp luật vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập, vừa phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, cần quán triệt một nguyên tắc: xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, nhưng không khép kín với kinh nghiệm quốc tế. Kinh nghiệm quốc tế là nguồn tham khảo quan trọng, còn giải pháp cuối cùng phải phù hợp với trình độ phát triển, năng lực quản trị, cấu trúc doanh nghiệp, điều kiện thị trường và khả năng thực thi của Việt Nam.
Quá trình xây dựng pháp luật cần bắt đầu từ việc nhận diện đúng vấn đề trong thực tiễn Việt Nam. Trước khi sửa luật hoặc ban hành quy định mới, cần làm rõ vấn đề đang phát sinh là gì, nguyên nhân nằm ở đâu, có thực sự là do thiếu quy định, quy định bất cập hay tổ chức thực hiện chưa tốt.
Việc xây dựng chính sách cần dựa trên dữ liệu và bằng chứng thực tiễn. Cơ quan soạn thảo cần lắng nghe đầy đủ ý kiến của người dân, doanh nghiệp, hiệp hội, chuyên gia, địa phương và cán bộ trực tiếp thực thi. Đánh giá tác động chính sách phải thực chất, so sánh nhiều phương án khác nhau, làm rõ lợi ích, chi phí, tác động đến quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và năng lực tuân thủ của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Việc tiếp thu thông lệ quốc tế cũng cần được thực hiện có chọn lọc. Không nên chỉ hỏi các nước quy định như thế nào, mà phải xem vì sao họ quy định như vậy, điều kiện nào giúp chính sách vận hành và kết quả thực tế ra sao. Một mô hình thành công ở nước ngoài thường dựa trên nền tảng dữ liệu, năng lực quản lý, chế tài và mức độ phát triển thị trường nhất định. Nếu Việt Nam chưa có đủ điều kiện tương ứng thì cần có lộ trình, thí điểm hoặc điều chỉnh cách áp dụng, thay vì sao chép nguyên mẫu.
Đồng thời, cần phân biệt rõ giữa nghĩa vụ pháp lý quốc tế mà Việt Nam phải thực hiện với những khuyến nghị, mô hình hoặc thông lệ tốt có thể tham khảo. Các cam kết quốc tế cần được nội luật hóa nghiêm túc, đầy đủ và linh hoạt để tận dụng lợi thế hội nhập. Đối với các mô hình không bắt buộc, việc tiếp thu phải dựa trên khả năng áp dụng tại Việt Nam và mục tiêu quản trị cần đạt được, chứ không phải để hệ thống pháp luật giống với một quốc gia khác.
Đối với các vấn đề mới như trí tuệ nhân tạo, tài sản số, công nghệ tài chính, kinh tế chia sẻ hoặc kinh tế xanh, cần mạnh dạn áp dụng cơ chế thí điểm, thử nghiệm có kiểm soát. Cách làm này giúp Nhà nước vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa có dữ liệu để nhận diện rủi ro, điều chỉnh chính sách và tránh ban hành quy định quá sớm hoặc quá rộng khi chưa đủ cơ sở thực tiễn, bảo đảm sau quá trình tổng kết thí điểm sẽ có cơ sở để ban hành các quy định phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Sau khi ban hành, cần có cơ chế đánh giá thường xuyên. Một quy định dù tiến bộ nhưng vượt quá năng lực thực hiện thì vẫn khó đi vào cuộc sống. Vì vậy, khi thiết kế pháp luật cần tính đến nguồn lực, năng lực cán bộ, mức độ sẵn sàng của địa phương và khả năng tuân thủ của doanh nghiệp. Sau khi ban hành, cần thường xuyên đo lường kết quả, phát hiện điểm nghẽn và sửa đổi kịp thời.
Khái quát lại, cách tiếp cận phù hợp là vấn đề Việt Nam, bằng chứng Việt Nam, tham chiếu quốc tế và giải pháp phù hợp với Việt Nam. Khi đó, pháp luật Việt Nam vừa có thể tiệm cận các chuẩn mực cao của thế giới về minh bạch, cạnh tranh, bảo vệ quyền và quản trị hiện đại, vừa bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn đại biểu!
Tin tức khác
Kiện toàn cơ chế chỉ đạo, điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035
Tăng cường giám sát, ngăn chặn đầu cơ, trục lợi chính sách nhà ở
Bộ Tài chính là cơ quan Thường trực xây dựng Đề án về phát huy các nguồn lực của nền kinh tế
Mô hình doanh nghiệp một người: Lời giải cho bài toán thúc đẩy hộ kinh doanh lên doanh nghiệp
Củng cố niềm tin, mở đường cho doanh nhân Việt Nam vươn xa
Cùng kiến tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các lĩnh vực hợp tác trọng điểm Việt - Trung
Nâng tầm kết nối hạ tầng chiến lược Việt Nam - Trung Quốc
VIDEO: Ngành Thuế ngăn chặn vi phạm hóa đơn bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn
PODCAST: Doanh nghiệp chuyển phát gấp rút nâng cấp hệ thống theo Thông tư 142
PODCAST: Quyết liệt chống hàng giả online: Từ xử lý tài khoản ảo đến niêm phong kho thực
VIDEO: Thúc đẩy hợp tác kinh tế, tài chính Việt Nam - Luxembourg
PODCAST: Đề xuất kéo dài phiếu chuyển viện lên 20 ngày, sử dụng ngay trên VNeID
TP. Hồ Chí Minh: Trang nghiêm lễ viếng, truy điệu và an táng các anh hùng liệt sĩ
Tạo “đường băng thể chế” cho động lực phát triển mới cất cánh
Kiện toàn cơ chế chỉ đạo, điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035
Tăng cường giám sát, ngăn chặn đầu cơ, trục lợi chính sách nhà ở
Bộ Tài chính là cơ quan Thường trực xây dựng Đề án về phát huy các nguồn lực của nền kinh tế
Mô hình doanh nghiệp một người: Lời giải cho bài toán thúc đẩy hộ kinh doanh lên doanh nghiệp
EMAGAZINE: Tăng trưởng 2 con số - Đồng lòng, dồn lực cho chặng "nước rút"
Củng cố niềm tin, mở đường cho doanh nhân Việt Nam vươn xa
Cùng kiến tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các lĩnh vực hợp tác trọng điểm Việt - Trung
Tạo “đường băng thể chế” cho động lực phát triển mới cất cánh
VinaCapital: Việt Nam đứng trước cơ hội trở thành điểm đến vốn dài hạn
Phát huy sức mạnh doanh nghiệp, tạo nền tảng mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Quỹ hưu trí bổ sung: Lĩnh vực các tổ chức tài chính cần quan tâm
TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy hợp tác với Hamburg phát triển cảng biển, logistics
Vinachem hướng tới chủ động nguồn nguyên liệu ngành phân bón
Kết nối văn hóa, mở rộng thị trường, phát triển kinh tế nông thôn
Cầu đi bộ đầu tiên vượt sông Sài Gòn dự kiến hợp long ngày 21/10









