Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam và vai trò kiến tạo của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
PGS., TS.Bùi Văn Huyền
Viện trưởng Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
TS.Nguyễn Thị Hoài Thu
Nghiên cứu viên, Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với tầm nhìn đến năm 2045 là quốc gia phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì yêu cầu đổi mới mô hình phát triển ngày càng trở nên cấp thiết. Mục tiêu phát triển đất nước không chỉ hướng tới quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà còn nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong điều kiện đó, thể chế trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định, vừa đóng vai trò định hướng, dẫn dắt, vừa kiến tạo không gian phát triển và phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội. Mục tiêu phát triển cao đòi hỏi tương ứng hệ thống thể chế ở trình độ cao với vai trò kiến tạo, dẫn dắt; trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho sự phát triển (Ban Chấp hành Trung ương, 2026).
Sau 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao; đời sống của Nhân dân được cải thiện rõ rệt; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm; tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng, dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp; năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Do đó, việc đổi mới tư duy, nâng cấp thể chế kinh tế thị trường lên một trình độ cao hơn không chỉ là yêu cầu quản lý mà đã trở thành khâu đột phá, là “hạ tầng mềm” quyết định chất lượng và tính bền vững của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở TRÌNH ĐỘ CAO
Khái quát về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hệ thống khung khổ pháp lý; các nguyên tắc; các chủ thể tham gia và cơ chế vận hành, điều chỉnh các quan hệ kinh tế dựa trên nguyên tắc thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua vai trò điều tiết của Nhà nước và các mục tiêu phát triển xã hội. Đây là mô hình thể chế kinh tế đặc thù của Việt Nam, phản ánh sự kết hợp biện chứng giữa quy luật khách quan của kinh tế thị trường và các giá trị, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2024). Khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển dựa trên tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần nâng lên trình độ cao hơn, chuyển vai trò từ hoàn thiện “luật chơi” của thị trường sang kiến tạo phát triển.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao và một số đặc trưng cốt lõi
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao không đơn thuần là sự phát triển về số lượng các quy định pháp lý hay mức độ hoàn thiện kỹ thuật của hệ thống chính sách, mà phản ánh một trạng thái phát triển mới về chất của thể chế trong mô hình phát triển quốc gia. Đây là giai đoạn mà thể chế không chỉ đáp ứng yêu cầu vận hành nền kinh tế thị trường mà còn có khả năng kiến tạo động lực tăng trưởng mới, thích ứng với biến động toàn cầu và bảo đảm thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững, bao trùm và nhân văn. Trên cơ sở đó, “trình độ cao” của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định thông qua một số đặc trưng cốt lõi sau:
Một là, hệ thống thể chế đồng bộ, hiện đại, minh bạch, ổn định và có tính dự báo cao.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao trước hết được cấu thành bởi một hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế đồng bộ, thống nhất, minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo, tiệm cận các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Trọng tâm của thể chế không chỉ là dung hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, mà phải tạo lập một hệ sinh thái thể chế phát triển tích hợp, trong đó các quy định về quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh, đầu tư, phân bổ nguồn lực và bảo đảm an sinh xã hội được thiết kế thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau. Thể chế bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, hạn chế đặc quyền, đặc lợi và những can thiệp hành chính làm méo mó tín hiệu thị trường; đồng thời chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả và hiệu quả đầu ra. Theo đó, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào những lĩnh vực thị trường có khả năng tự điều tiết, mà tập trung xây dựng luật chơi, khắc phục thất bại thị trường, kiểm soát rủi ro hệ thống và bảo đảm trật tự, kỷ cương của thị trường.
Hai là, thị trường giữ vai trò quyết định trong huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực phát triển.
Thể chế ở trình độ cao phải dựa trên nền tảng hệ thống thị trường đầy đủ, hiện đại, đồng bộ, liên thông và hội nhập. Các thị trường yếu tố sản xuất như đất đai, vốn, lao động, khoa học công nghệ vận hành minh bạch, thông suốt, bảo đảm cạnh tranh và phản ánh tương đối đầy đủ giá trị khan hiếm của nguồn lực. Đồng thời, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thể chế kịp thời hình thành và hoàn thiện các thị trường mới như thị trường dữ liệu, tài sản trí tuệ, tài sản số, tín chỉ carbon và các yếu tố sản xuất mới khác. Điểm cốt lõi là thị trường thực hiện đầy đủ chức năng phân bổ nguồn lực thông qua các tín hiệu giá cả, cạnh tranh và quan hệ cung - cầu, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều tiết để thị trường vận hành đúng quy luật, khắc phục thất bại thị trường và bảo đảm các mục tiêu phát triển dài hạn.
Ba là, phân định rõ ràng và vận hành thực chất mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.
Trình độ phát triển của thể chế được phản ánh rõ nét qua cách thức xác lập và vận hành mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Trong đó, Nhà nước điều tiết, dẫn dắt, định hướng, tạo lập thị trường mới, lĩnh vực mới, hình thành các năng lực chiến lược quốc gia; thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực; xã hội tham gia, giám sát, phản biện, tạo đồng thuận và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Sự phân định này được thể chế hóa bằng các quy định rõ ràng về chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp, qua đó khắc phục tình trạng chồng lấn, bao biện hoặc buông lỏng quản lý. Đặc biệt, khu vực kinh tế tư nhân cần được bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Bộ Chính trị, 2025).
Bốn là, thể chế có tính mở, linh hoạt, thích ứng và có năng lực kiến tạo các động lực phát triển mới.
máy nhà nước mà còn huy động tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực của xã hội. Người dân, doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức xã hội, chuyên gia và các cơ sở nghiên cứu cần có cơ chế tham gia phù hợp vào quá trình xây dựng, phản biện, thực thi và đánh giá chính sách.
Sự tham gia của xã hội phải được chuyển từ hình thức tham vấn đơn thuần sang cơ chế tương tác thường xuyên, trong đó thông tin phản hồi từ thực tiễn trở thành một đầu vào của quá trình hoạch định chính sách. Cùng với đó, minh bạch thông tin, trách nhiệm giải trình và giám sát xã hội là những điều kiện quan trọng để kiểm soát quyền lực công, hạn chế lợi ích nhóm và nâng cao chất lượng thực thi chính sách. Chuyển đổi số tạo thêm điều kiện để hình thành các phương thức tương tác chính sách dựa trên dữ liệu, tăng khả năng phản hồi và giám sát theo thời gian thực.
Cơ chế vận hành linh hoạt dựa trên dự báo và quản trị rủi ro
Trong môi trường kinh tế có tốc độ thay đổi nhanh, thể chế không thể chỉ phản ứng sau khi vấn đề phát sinh mà phải nâng cao năng lực dự báo và chủ động thích ứng. Vì vậy, phương thức quản lý cần chuyển từ kiểm soát hành chính và tiền kiểm sang quản trị dựa trên dữ liệu, tiêu chuẩn, mức độ rủi ro và kết quả đầu ra. Đồng thời, đối với những lĩnh vực mới hoặc chưa có tiền lệ, thể chế cần tạo khả năng thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh chính sách trên cơ sở thực tiễn. Quá trình này hình thành một chu trình chính sách linh hoạt: thử nghiệm - đánh giá - điều chỉnh - hoàn thiện - nhân rộng. Đây là cơ chế quan trọng giúp giảm độ trễ của thể chế, đồng thời hạn chế cả hai xu hướng cực đoan là buông lỏng quản lý và kiểm soát quá mức đối với đổi mới sáng tạo.
Cơ chế phân phối và điều tiết nhằm bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội
Trong thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phân phối không chỉ là kết quả của quá trình vận hành thị trường mà còn là đối tượng của điều tiết xã hội. Phân phối lần đầu được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và mức độ đóng góp các nguồn lực; đồng thời, Nhà nước sử dụng các công cụ tài khóa, thuế, chi tiêu công và an sinh xã hội để điều tiết, hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương và bảo đảm cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản.
Điểm quan trọng là cơ chế điều tiết phân phối phải được thiết kế theo hướng vừa duy trì động lực làm giàu hợp pháp, khuyến khích đầu tư, lao động và đổi mới sáng tạo, vừa hạn chế những bất bình đẳng quá mức và bảo đảm cơ hội phát triển cho các nhóm xã hội. Trong điều kiện chuyển đổi số, cơ chế này cần tính đến những dạng bất bình đẳng mới, nhất là chênh lệch về khả năng tiếp cận công nghệ, dữ liệu, kỹ năng số và các cơ hội việc làm mới. Đồng thời, yêu cầu phát triển xanh đặt ra vấn đề phân bổ hợp lý chi phí và lợi ích của quá trình chuyển đổi, bảo đảm không để những nhóm yếu thế phải gánh chịu chi phí xã hội không tương xứng.
THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VỚI VAI TRÒ KIẾN TẠO TRONG ĐỔI MỚI MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Để thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao thực sự trở thành đột phá chiến lược, khơi thông các nguồn lực, giải phóng sức sản xuất và tạo động lực đổi mới mô hình phát triển, cần đột phá mạnh mẽ phương thức thiết kế, thực thi và đánh giá thể chế theo hướng chủ động, kiến tạo và thích ứng.
Thứ nhất, chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo và phát triển.
Yêu cầu tiên quyết là chuyển đổi mạnh mẽ tư duy xây dựng và thực thi thể chế, coi thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà phải trở thành “hạ tầng mềm” trực tiếp khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sản xuất và là lợi thế cạnh tranh quốc gia. Trọng tâm cải cách là chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên cơ sở quản trị rủi ro; từ phản ứng bị động sang chủ động thiết kế, dẫn dắt các xu hướng phát triển mới. Mọi quy định can thiệp vào hoạt động kinh tế cần được xem xét trên cơ sở chi phí - lợi ích, mức độ cần thiết và tác động đối với đổi mới sáng tạo, qua đó loại bỏ những quy định tạo chi phí tuân thủ không cần thiết và các rào cản gia nhập thị trường.
Thứ hai, xây dựng hệ thống thể chế có chất lượng cao, ổn định và nhất quán, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh tế làm trọng tâm.
Đột phá thể chế trước hết phải được thể hiện ở chất lượng của hệ thống pháp luật và chính sách. Cần bảo đảm tính thống nhất, minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của môi trường pháp lý; củng cố bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời, đổi mới quy trình xây dựng chính sách theo hướng dựa trên bằng chứng, đánh giá tác động thực chất và tăng cường tham vấn các chủ thể chịu tác động. Mục tiêu không chỉ là ban hành đủ quy định mà là tạo lập một môi trường thể chế giảm thiểu chi phí giao dịch và củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư, khuyến khích đầu tư dài hạn.
Thứ ba, tạo đột phá thể chế để huy động và chuyển dịch nguồn lực sang các động lực tăng trưởng mới.
Để đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, thể chế mở rộng cơ chế chính sách thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để tạo sự đột phá giải phóng và tái phân bổ nguồn lực cho những lĩnh vực có khả năng tạo năng suất, giá trị gia tăng cao. Cần hoàn thiện thể chế cho các yếu tố sản xuất mới như dữ liệu, tài sản trí tuệ, công nghệ và các mô hình kinh doanh dựa trên tri thức; đồng thời thiết kế cơ chế khuyến khích vốn xã hội dịch chuyển từ đầu tư mang tính ngắn hạn, đầu cơ sang khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, sản xuất và kinh doanh thực chất. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực tư nhân cho phát triển kết cấu hạ tầng, dịch vụ công và các lĩnh vực chiến lược; nâng cao hiệu quả sử dụng tổng thể các nguồn lực của nền kinh tế.
Thứ tư, hình thành thể chế có năng lực thích ứng cao trước công nghệ và mô hình phát triển mới.
Tốc độ thay đổi của công nghệ đòi hỏi thể chế phải có khả năng điều chỉnh nhanh hơn và giảm độ trễ chính sách. Cần phát triển các phương thức lập pháp và quản trị linh hoạt, tăng cường cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cơ chế thí điểm và đánh giá chính sách theo vòng đời. Đối với những lĩnh vực có tốc độ đổi mới cao như trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và công nghệ tài chính, thay vì chờ hình thành đầy đủ mô hình rồi mới xây dựng quy định, cần thiết lập khung thể chế mở, có nguyên tắc nhưng đủ linh hoạt để thử nghiệm và điều chỉnh. Qua đó, thể chế vừa kiểm soát được rủi ro, vừa tránh trở thành lực cản đối với đổi mới sáng tạo.
Thứ năm, nâng cao năng lực hội nhập và bảo đảm phát triển bao trùm, tự chủ, bền vững.
Hoàn thiện thể chế phải đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và bảo đảm năng lực tự chủ của nền kinh tế. Cần chủ động nội luật hóa và thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế, tiệm cận các chuẩn mực và thông lệ tốt, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, hội nhập phải gắn với nâng cao năng lực nội sinh, bảo đảm an ninh kinh tế và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Đồng thời, định hướng xã hội chủ nghĩa phải được bảo đảm xuyên suốt thông qua các chính sách phân phối, an sinh xã hội, cung cấp dịch vụ công và bảo vệ môi trường, qua đó kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội, tự chủ và phát triển bền vững.
KẾT LUẬN
Đổi mới mô hình phát triển đất nước đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI, thể chế không chỉ hoàn thiện theo hướng khắc phục các hạn chế, bất cập hiện hữu, mà phải hướng tới xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao như một bước chuyển biến về chất của mô hình phát triển. Mặc dù đây chưa phải là thuật ngữ được định nghĩa chính thức trong các văn kiện của Đảng hay pháp luật Việt Nam, song có thể hiểu đây là trạng thái phát triển cao của hệ thống thể chế kinh tế, bảo đảm vận hành đầy đủ, đồng bộ và hiện đại các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua vai trò kiến tạo của Nhà nước, sự tham gia thực chất của xã hội và mục tiêu phát triển bao trùm, nhân văn. Cơ chế vận hành cốt lõi của mô hình này được xác lập theo cấu trúc “Nhà nước kiến tạo - Thị trường quyết định phân bổ nguồn lực - Xã hội tham gia và giám sát”, với sự phối hợp đồng bộ giữa cơ chế thị trường, điều tiết nhà nước, quản trị rủi ro, đồng kiến tạo xã hội và bảo đảm công bằng trong phân phối.
Trình độ cao của thể chế không chỉ được phản ánh ở sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật hay mức độ phát triển của thị trường, mà quan trọng hơn là ở năng lực kiến tạo và dẫn dắt phát triển, khả năng hình thành hệ thống thị trường hiện đại, liên thông; sự phân vai thực chất giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; tính mở, linh hoạt, thích ứng cao với các biến động toàn cầu; và chiều sâu của định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua phát triển bao trùm, bền vững.
Để thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao thực sự trở thành đột phá chiến lược cho đổi mới mô hình phát triển đất nước, cần tập trung đổi mới tư duy thể chế theo hướng kiến tạo phát triển; bảo đảm vận hành đầy đủ, hiện đại các loại thị trường; tái định vị vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội; hoàn thiện khung pháp lý cho các lực lượng sản xuất mới, kinh tế số và đổi mới sáng tạo; đồng thời giữ vững tính nhân văn, bao trùm và nâng cao khả năng hội nhập, thích ứng của nền kinh tế.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gắn chặt với chất lượng quản trị và năng lực thể chế, việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao không chỉ là yêu cầu khách quan của phát triển, mà còn là điều kiện tiên quyết để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
- Ban Chấp hành Trung ương (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
- Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024). Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin (dùng cho hệ đào tạo cao cấp lý luận chính trị). NXB Lý luận chính trị.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 9/2026 |
Tin tức khác
Động lực tăng trưởng mới - nhìn từ câu chuyện nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên
Nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị của hợp tác xã
Singapore gia tăng hiện diện, vốn FDI lũy kế chính thức vượt mốc 100 tỷ USD
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường
Đại biểu Quốc hội hiến kế hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thuế tiêu thụ đặc biệt về 0%: Giá xăng giảm mạnh từ 0h ngày 1/11
Bộ Tài chính: Quyết liệt triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng, khơi thông nguồn lực
Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư Khu đô thị Bắc Thăng Long, TP. Hồ Chí Minh tìm nhà đầu tư cụm y tế công nghệ cao
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026
Chuyển dịch chế biến sâu để gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm điều
Phát triển kinh tế biển Việt Nam: Đổi mới tư duy quản trị, khơi thông nguồn lực
Động lực tăng trưởng mới - nhìn từ câu chuyện nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên
Nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị của hợp tác xã
Singapore gia tăng hiện diện, vốn FDI lũy kế chính thức vượt mốc 100 tỷ USD
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường









