Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Không thể có hai bảng cân đối, một để nộp thuế, một để vay vốn
![]() |
| Quốc hội tiến hành thảo luận tại hội trường về tình hình phát triển kinh tế – xã hội ngày 31/10/2026. Ảnh: VPQH |
Chỉ 8,8% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn, doanh nghiệp lớn hơn 47%
Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội ngày 31/10, vấn đề giảm lãi suất, tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng và cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm.
Đại biểu Bùi Thanh Nam (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ) bày tỏ đồng tình với chủ trương chỉ đạo giảm lãi suất cho vay, song cho rằng, vấn đề đối với nhiều doanh nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở mức lãi suất mà còn ở khả năng được ngân hàng cấp tín dụng.
Dẫn số liệu từ báo cáo thẩm tra, đại biểu Bùi Thanh Nam cho biết, tỷ lệ tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ đạt 8,8%, trong khi tỷ lệ này ở doanh nghiệp lớn là 47,1%. Khoảng cách đáng kể giữa hai nhóm doanh nghiệp cho thấy những khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Vì thế, ngay cả khi lãi suất giảm, nhiều doanh nghiệp vẫn không thể vay vốn do thiếu tài sản bảo đảm và thông tin tài chính chưa minh bạch. Vì vậy, nếu chỉ tập trung giảm lãi suất mà chưa tháo gỡ được các điều kiện vay vốn, hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp sẽ còn hạn chế.
Từ thực tế này, đại biểu Bùi Thanh Nam kiến nghị chuyển trọng tâm hỗ trợ từ giảm lãi suất đơn thuần sang giúp doanh nghiệp có thể vay được vốn. Trong đó, cần phát huy vai trò của cơ chế bảo lãnh tín dụng, mở rộng phương thức cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng và các khoản phải thu, thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
Đối với lĩnh vực bất động sản, đại biểu cũng đề cập đến tình trạng một số dự án đã đủ điều kiện pháp lý nhưng doanh nghiệp gặp khó khăn về dòng tiền, dẫn đến chậm thực hiện nghĩa vụ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án mà còn tác động đến nguồn thu ngân sách và nguồn lực đầu tư hạ tầng.
![]() |
| Đại biểu Bùi Thanh Nam (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ). Ảnh: VPQH |
Để giải quyết vấn đề, đại biểu Bùi Thanh Nam đề xuất, nghiên cứu cơ chế đưa nghĩa vụ tài chính về đất đai vào phương án vay vốn đối với các dự án đủ điều kiện pháp lý và được ngân hàng chấp thuận cấp tín dụng. Theo đó, khoản vay có thể được giải ngân trực tiếp vào ngân sách nhà nước để thực hiện nghĩa vụ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Đại biểu nhấn mạnh, đề xuất này không nhằm nới lỏng tín dụng mà hướng tới bảo đảm khoản vay được sử dụng đúng mục đích, giúp doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính, tăng nguồn thu ngân sách và hạn chế rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Cùng quan tâm đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, đại biểu Lê Minh Nam (Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Cần Thơ) cho rằng, các cơ quan quản lý cần tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp xác nhận, chuẩn hóa dữ liệu về dòng tiền, nghĩa vụ thuế và lịch sử tín dụng. Đây là những thông tin cần thiết để ngân hàng có thêm cơ sở đánh giá năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng.
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Cao Sơn (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ) cho rằng, nhiều doanh nghiệp vẫn đang chịu sức ép lớn về vốn, chi phí và thị trường tiêu thụ, sức mua yếu khiến dòng tiền gặp khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng triển khai các dự án sản xuất, kinh doanh.
Đại biểu đề nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại xem xét kéo dài, mở rộng cơ chế cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đến hết năm 2027 đối với doanh nghiệp gặp khó khăn do thị trường nhưng sử dụng vốn đúng mục đích, có phương án phục hồi khả thi.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước làm rõ áp lực điều hành lãi suất và tín dụng
Không chỉ đề cập đến những khó khăn trước mắt, nhiều đại biểu còn đặt vấn đề về cơ cấu nguồn vốn của nền kinh tế trong dài hạn. Đại biểu Lê Hữu Chí (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa) cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, nền kinh tế cần nguồn vốn dài hạn cho sản xuất, công nghệ, năng lượng, logistics và hạ tầng. Tuy nhiên, sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, áp lực lãi suất và những hạn chế của thị trường vốn có thể làm gia tăng chi phí đầu tư, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng sản xuất của doanh nghiệp.
Vì vậy, đại biểu kiến nghị phát triển thực chất thị trường vốn, nâng cao tính minh bạch và kỷ luật trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn; đồng thời kiểm soát chặt chất lượng tín dụng và rủi ro liên thông giữa ngân hàng, trái phiếu và bất động sản.
Cùng quan điểm, đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh) đề nghị tập trung giải quyết bài toán cơ cấu vốn của nền kinh tế, bảo đảm cân đối giữa kỳ hạn, tính chất nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn.
Theo đại biểu, giai đoạn 2026 – 2030, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội lên tới khoảng 38 triệu tỷ đồng, gấp hai lần giai đoạn trước. Vì vậy, cần tái cấu trúc thị trường tài chính để thị trường chứng khoán từng bước trở thành kênh cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế.
![]() |
| Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn giải trình tại Quốc hội. Ảnh: VPQH |
Giải trình tại nghị trường, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết, một số vấn đề được các đại biểu Quốc hội, chuyên gia kinh tế và đại diện các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) quan ngại là tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP, tình trạng nguồn vốn huy động chủ yếu ngắn hạn trong khi nhu cầu cho vay trung và dài hạn lớn, cùng với những vấn đề liên quan đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, qua thực tiễn điều hành, Thống đốc cho rằng, thị trường tiền tệ Việt Nam có những đặc điểm riêng cần được xem xét khi đánh giá các rủi ro này.
Cụ thể, tiền gửi ngắn hạn hiện chiếm khoảng 80% tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng. Về nguyên tắc, nguồn vốn ngắn hạn thường được xem là kém ổn định hơn nguồn vốn dài hạn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nhiều người dân lựa chọn kỳ hạn gửi ngắn nhưng thực tế duy trì tiền gửi trong thời gian dài và liên tục quay vòng khi đến hạn.
Theo Thống đốc, đặc điểm này tạo ra sự ổn định nhất định cho nguồn vốn huy động. Đồng thời, việc huy động vốn ngắn hạn với mức lãi suất thấp hơn cũng góp phần tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại giảm chi phí vốn, qua đó hỗ trợ lãi suất cho vay.
Lý giải việc tiền gửi tiếp tục tập trung nhiều vào hệ thống ngân hàng, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho rằng, nguyên nhân cơ bản là người dân vẫn có niềm tin vào hệ thống ngân hàng. Khi thị trường vốn phát triển hơn, có sức hấp dẫn và bảo đảm an toàn cho nhà đầu tư, cơ cấu phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế có thể sẽ thay đổi theo hướng cân bằng hơn.
Về điều hành chính sách tiền tệ, Thống đốc khẳng định, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo đuổi các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tỷ giá, đồng thời đóng góp vào hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Theo Thống đốc, yêu cầu đặt ra là tìm được điểm cân bằng giữa các mục tiêu điều hành. Tuy nhiên, điểm cân bằng này không thể xác định theo một công thức cố định mà phải được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở diễn biến thực tế của thị trường và nền kinh tế.
Liên quan đến các công cụ hỗ trợ nguồn vốn, Thống đốc cho biết, Ngân hàng Nhà nước đang sử dụng công cụ tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở để hỗ trợ các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng phương án tái cấp vốn phục vụ cho vay nhà ở xã hội.
Đối với hoạt động tín dụng, Thống đốc cho biết, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chú trọng kiểm soát tăng trưởng tín dụng, qua đó góp phần kiểm soát lãi suất.
Theo số liệu được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu, tăng trưởng tín dụng hiện đạt khoảng 12,27%. Trong khi đó, lãi suất huy động tăng 1,42 điểm phần trăm, còn lãi suất cho vay tăng 0,99 điểm phần trăm. Như vậy, mức tăng lãi suất cho vay thấp hơn mức tăng lãi suất huy động.
Đối với tín dụng bất động sản, Thống đốc cho biết, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục kiểm soát tăng trưởng để bảo đảm an toàn. Tốc độ tăng tín dụng bất động sản hiện ở mức 9,84%, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng chung. Về cơ cấu tín dụng, trong tổng dư nợ hơn 20,879 triệu tỷ đồng, có 77,4% dành cho lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Riêng dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt hơn 4 triệu tỷ đồng.
Trước những kiến nghị về giảm lãi suất và mở rộng khả năng tiếp cận vốn, Thống đốc cho biết, một trong những hướng được quan tâm là mở rộng phương thức cho vay dựa trên dòng tiền và khả năng trả nợ thực tế của doanh nghiệp, thay vì chỉ căn cứ vào tài sản bảo đảm.
Tuy nhiên, Thống đốc Phạm Đức Ấn cũng đề cập đến những hạn chế từ phía doanh nghiệp nhỏ và vừa được nêu trong hồ sơ dự án luật trình Quốc hội. Theo đó, nhiều doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, phương án kinh doanh thường xuyên biến động và thông tin tài chính chưa thực sự minh bạch. Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng.
Đặc biệt, Thống đốc nhấn mạnh yêu cầu minh bạch tài chính của doanh nghiệp, cho rằng không thể tồn tại tình trạng doanh nghiệp sử dụng hai bảng cân đối kế toán khác nhau, một để thực hiện nghĩa vụ thuế và một để vay vốn ngân hàng. Khi hoạt động tài chính được phản ánh đầy đủ, minh bạch, các tổ chức tín dụng mới có điều kiện đánh giá chính xác sức khỏe tài chính, hiệu quả phương án kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp để xem xét cấp tín dụng.
Theo Thống đốc, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp. Vì vậy, để nâng cao khả năng tiếp cận vốn, bản thân doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực tài chính và chứng minh được khả năng trả nợ. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay dựa trên năng lực thực tế của doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để ngân hàng yên tâm thực hiện.
Dù vậy, Thống đốc lưu ý, với vai trò là trung gian tài chính, các ngân hàng thương mại không chỉ có trách nhiệm cung ứng vốn mà còn phải bảo đảm khả năng thu hồi các khoản cho vay để hoàn trả tiền cho người gửi tiền. Đây là yêu cầu quan trọng trong việc xem xét mở rộng tín dụng.
Đối với kiến nghị kéo dài thời gian trả nợ và cơ cấu lại nợ, Thống đốc cho biết, những nội dung này đã được quy định trong pháp luật, thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của các tổ chức tín dụng. Trên cơ sở các quy định hiện hành, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng có giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua những giai đoạn khó khăn.
Tin tức khác
Lợi nhuận Eximbank giảm gần 59%, dư nợ cho vay và tiền gửi cùng thu hẹp
Giá vàng hôm nay: Ngạc nhiên trước xu thế biến động của vàng
Lãi suất – tỷ giá hôm nay: Hơn 20 ngân hàng giảm lãi suất, USD hạ nhiệt
Lợi nhuận MSB tăng tốc trong quý III, thu nhập lãi thuần tiếp tục là động lực chính
Bảo hiểm nông nghiệp: Chuyển từ khắc phục hậu quả sang chủ động quản trị rủi ro
Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới điện tử cần có những thông tin gì?
9 tháng, Tập đoàn Bảo Việt đạt gần 48.000 tỷ đồng doanh thu
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Không chỉ huy động vốn, phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng
Tăng trưởng cao cần khơi thông nguồn vốn, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp
Bài 2: Nhận diện những điểm nghẽn từ thực tiễn
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng
Tăng cường lực lượng hải quan kiểm soát hàng nhập lậu, gian lận xuất xứ, bảo vệ hàng Việt
Sớm xử lý bất cập thu phí điện tử đường bộ, bảo đảm quyền lựa chọn của người dân
"Hàng Việt vì người Việt" góp phần trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng
Hợp tác xã muốn dẫn dắt chuỗi giá trị, cần gỡ những “nút thắt” nào?
Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số
Sản xuất tiên tiến mở đường cho hàng xuất khẩu Việt Nam bứt phá
Metro Bến Thành - Cần Giờ thi công đồng loạt, hướng đến hoàn thành vào cuối năm 2028











