Hợp tác xã muốn dẫn dắt chuỗi giá trị, cần gỡ những “nút thắt” nào?
![]() |
| Diễn đàn “Xúc tiến phát triển hợp tác xã nông nghiệp gắn với chuyển đổi số, đầu tư công nghệ thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030”. |
Thay đổi vai trò của hợp tác xã trong chuỗi giá trị
Nông nghiệp Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển đặt trọng tâm vào giá trị, hiệu quả, sức cạnh tranh. Yêu cầu này đòi hỏi phương thức tổ chức sản xuất phải thay đổi tương ứng. Sản xuất phân tán cần được tổ chức lại theo vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng, nhu cầu thị trường, trong đó hợp tác xã (HTX) giữ vai trò kết nối nông dân với doanh nghiệp.
Đây cũng là vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn “Xúc tiến phát triển hợp tác xã nông nghiệp gắn với chuyển đổi số, đầu tư công nghệ thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030”, do Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 30/10 tại Hà Nội. Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và ông Đỗ Mạnh Khởi, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) chủ trì diễn đàn.
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn Lê Đức Thịnh nhìn nhận, nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh sang tư duy kinh tế nông nghiệp, sản xuất theo vùng nguyên liệu, chuỗi giá trị. Dù nông sản Việt đã tạo dựng vị thế tại nhiều thị trường quốc tế, sản xuất trong nước vẫn phân tán, liên kết giữa nông dân, HTX, doanh nghiệp chưa thật sự bền vững.
Điểm nghẽn nằm ở năng lực quản trị, khả năng ứng dụng công nghệ, nguồn vốn đầu tư, hạ tầng phục vụ sơ chế, bảo quản, chế biến. Khi từng hộ sản xuất riêng lẻ, khả năng đáp ứng đồng đều về chất lượng, sản lượng, truy xuất nguồn gốc gặp nhiều hạn chế. Người nông dân cũng khó nâng vị thế trong quá trình đàm phán giá, phân chia lợi ích của chuỗi.
![]() |
| Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phát biểu khai mạc Diễn đàn. |
Thực tế tại HTX sản xuất kinh doanh và dịch vụ Bình Định (Hưng Yên) cho thấy khoảng cách giữa ký kết liên kết với duy trì một chuỗi ổn định còn khá lớn. Theo Giám đốc HTX Trần Thanh Sơn, đơn vị có hơn 6.000 thành viên, tổ chức sản xuất trên 600 ha lúa, đã chủ động liên kết cung ứng sản phẩm cho các doanh nghiệp.
HTX đã hoàn thành cung ứng 500 tấn lúa giống liên kết cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hợp đồng tiêu thụ 800 tấn lúa hàng hóa lại gặp trở ngại khi lượng thu gom mới đạt khoảng 600 tấn. Giá thị trường tăng có thể khiến một bộ phận nông dân bán sản phẩm ra ngoài dù trước đó đã ký hợp đồng với HTX, gây thiếu hụt nguồn hàng.
Theo ông Trần Thanh Sơn, cần có cơ chế chặt chẽ hơn đối với hoạt động thu mua nhằm hạn chế thất thoát sau thu hoạch, bảo đảm nguồn hàng, uy tín của HTX khi thực hiện hợp đồng. Câu chuyện này cho thấy liên kết chuỗi muốn bền vững cần đi kèm cơ chế ràng buộc trách nhiệm, chia sẻ lợi ích đủ sức giữ nông dân, HTX, doanh nghiệp trong cùng một chuỗi.
Ở một góc độ khác, Giám đốc HTX Hồng Xuân (Bắc Ninh) Phạm Văn Dũng cho rằng hạ tầng đang là nút thắt lớn. Sản xuất quy mô lớn cần diện tích liền vùng, trong khi đất của các hộ còn phân tán. HTX muốn đầu tư nhà xưởng sơ chế, đóng gói đạt tiêu chuẩn của siêu thị cũng gặp khó do chi phí tiếp cận đất công nghiệp cao.
Theo ông Phạm Văn Dũng, HTX đã có nhà xưởng hơn 100 m² song nhu cầu mở rộng vẫn gặp trở ngại. Sơ chế, đóng gói tại vườn hoặc sân nhà thành viên khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu của doanh nghiệp, hệ thống bán lẻ hiện đại. Điều đó khiến một HTX có sản phẩm vẫn khó bước sâu hơn vào những khâu tạo giá trị cao.
Nhân lực lại tạo thêm một nút thắt khác. Phần lớn thành viên HTX Hồng Xuân đã lớn tuổi, việc chuyển nhật ký sản xuất trên giấy sang nhật ký điện tử gặp nhiều trở ngại. Dù từng được doanh nghiệp hỗ trợ ứng dụng công nghệ, sau một thời gian HTX phải quay lại cách ghi chép thủ công do thành viên gặp khó trong quá trình sử dụng.
Những trường hợp này cho thấy chuyển đổi số trong HTX khó được đo bằng số phần mềm hay thiết bị được trang bị. Cục trưởng Lê Đức Thịnh nhấn mạnh công nghệ phải phục vụ trực tiếp hoạt động quản trị, giúp quản lý thành viên, diện tích, sản lượng, chất lượng, chi phí, hợp đồng, tiêu thụ. Hiệu quả thực tế cần trở thành thước đo của quá trình số hóa.
Gỡ nút thắt để HTX đủ sức dẫn dắt vùng nguyên liệu
Theo ông Nguyễn Tiến Định, đại diện Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, đến tháng 6/2026, cả nước có 23.389 HTX nông nghiệp, 102 liên hiệp HTX, khoảng 36.000 tổ hợp tác với 4,15 triệu thành viên. Doanh thu bình quân đạt 2,7 tỷ đồng/HTX/năm, lợi nhuận khoảng 450 triệu đồng; 68% HTX hoạt động khá, tốt.
Gần 2.500 HTX đã ứng dụng công nghệ cao, 4.339 HTX tham gia bao tiêu nông sản, 2.169 HTX có sản phẩm OCOP. Cả nước cũng có 2.938 dự án, kế hoạch liên kết được phê duyệt theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP với 2.412 HTX, 1.305 doanh nghiệp, hơn 211.000 hộ nông dân tham gia.
Tuy nhiên, TS. Ninh Đức Hùng, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho rằng HTX đang đứng trước yêu cầu “chuyển đổi kép”: chuyển đổi số song hành với chuyển đổi xanh. Quá trình này diễn ra trong bối cảnh tổ chức bộ máy địa phương thay đổi, đặt ra bài toán mới đối với điều phối các vùng nguyên liệu liên xã.
Theo TS. Ninh Đức Hùng, trước đây một vùng nguyên liệu trải rộng qua 3-5 xã thường có cấp huyện tham gia điều phối. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cơ chế phối hợp liên xã cần được thiết kế phù hợp để duy trì quy trình sản xuất thống nhất, quản lý vùng nguyên liệu, kết nối nguồn lực, xử lý những vấn đề vượt phạm vi một xã.
![]() |
| Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và ông Đỗ Mạnh Khởi, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) chủ trì Diễn đàn. |
Ông cũng lưu ý hệ thống thủ tục liên quan mã số vùng trồng, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc cần được hướng dẫn đồng bộ hơn. Khi mỗi khâu sử dụng một quy trình, HTX với nguồn nhân lực mỏng sẽ phải dành thêm thời gian, chi phí để hoàn thiện thủ tục, ảnh hưởng tiến độ thực hiện hợp đồng, nhất là đơn hàng xuất khẩu.
Những thay đổi về địa giới, tổ chức HTX cũng đặt ra vấn đề quản trị mới. TS. Ngô Sỹ Đạt, Viện Kinh tế và Thể chế nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng việc hợp nhất các HTX nhỏ có thể mở rộng quy mô, đa dạng dịch vụ, song cũng phát sinh bài toán đối soát tài sản, vốn góp, phương án kinh doanh, định mức kỹ thuật giữa các đơn vị trước hợp nhất.
Ở phía thị trường, khoảng cách giữa nhu cầu nguyên liệu của doanh nghiệp với khả năng cung ứng đang cho thấy dư địa rất lớn cho HTX. Ông Phương Đình Anh, Phó Chánh Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình Mục tiêu quốc gia, dẫn trường hợp Công ty Sao Mai tại Quảng Ngãi có nhu cầu chế biến khoảng 75.000 tấn nông sản mỗi năm, trong khi nguồn cung địa phương mới đạt khoảng 25.000 tấn.
Khoảng cách 50.000 tấn nguyên liệu cho thấy vấn đề của chuỗi nông sản đôi khi nằm ở năng lực tổ chức nguồn cung, thay vì thiếu thị trường. Khi HTX chưa quản trị được vùng nguyên liệu đủ lớn, sản lượng chưa ổn định, chất lượng thiếu đồng đều, doanh nghiệp khó xây dựng kế hoạch chế biến dài hạn; nông dân cũng bỏ lỡ cơ hội tham gia những đơn hàng quy mô lớn.
Theo Cục trưởng Lê Đức Thịnh, thước đo thành công của chính sách cần đặt vào lợi ích thực chất nông dân, thành viên nhận được. Chuyển đổi số cũng cần được đánh giá qua khả năng nâng chất lượng quản trị, kiểm soát sản phẩm, kết nối thị trường, gia tăng giá trị nông sản. Đây là cơ sở để chuyển trọng tâm hỗ trợ sang nâng năng lực, hiệu quả đầu ra.
Khi những nút thắt về đất đai, hạ tầng, vốn, nhân lực, công nghệ, cơ chế điều phối được tháo gỡ, HTX sẽ có thêm điều kiện quản trị vùng nguyên liệu theo nhu cầu thị trường. Khi ấy, mục tiêu phát triển 45.000 HTX mới thực sự gắn với chất lượng, tạo ra những hạt nhân đủ sức kết nối nông dân, doanh nghiệp, nâng giá trị nông sản, cải thiện thu nhập thành viên.
| Theo Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2030, cả nước phấn đấu có 45.000 HTX với 8 triệu thành viên, 140.000 tổ hợp tác, 340 liên hiệp HTX. Ít nhất 60% HTX hoạt động khá, tốt; trên 5.000 HTX, 500 tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tiêu thụ nông sản. Đáng chú ý, mục tiêu đặt ra khoảng 50% HTX nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị. Khoảng 80% giám đốc HTX được đào tạo sơ cấp nghề giám đốc. Mỗi tỉnh, thành phố bố trí tối thiểu một dự án đầu tư công hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, tạo thêm nguồn lực để nâng năng lực sản xuất, kinh doanh của khu vực này. Song 45.000 HTX chưa phải đích đến cuối cùng. Một HTX tồn tại về mặt pháp lý chưa đồng nghĩa với một tổ chức đủ sức dẫn dắt chuỗi. Yêu cầu quan trọng là hình thành các HTX có năng lực kinh doanh, quản trị tài chính, quản lý dữ liệu, kiểm soát chất lượng, đàm phán hợp đồng, tổ chức vùng nguyên liệu, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. |
Tin tức khác
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số
Sản xuất tiên tiến mở đường cho hàng xuất khẩu Việt Nam bứt phá
Metro Bến Thành - Cần Giờ thi công đồng loạt, hướng đến hoàn thành vào cuối năm 2028
TP. Hồ Chí Minh: Định hướng xúc tiến đầu tư vào 5 nhóm lĩnh vực trọng tâm
Bài 3: Kinh tế đêm - khai phá sâu để bứt phá
Bài 3: Khơi thông nguồn lực - Đồng vốn phải thực sự tạo ra giá trị
Kinh tế bạc có những khác biệt đáng kể so với kinh doanh thông thường
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Sẽ khắc phục bất cập tiền lương, phụ cấp của viên chức cấp xã
Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Chất lượng thể chế quyết định khả năng chuyển hóa tiềm năng thành tăng trưởng
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số
Ngoại giao trở thành đòn bẩy trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế
Bài 1: Gắn kết định hướng phát triển với nguồn lực thực hiện
Hoàn thiện khung pháp lý về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Định danh điện tử giúp hạn chế gian lận, trục lợi bất động sản
Không để nguồn lực đất đai lãng phí, ngân sách thất thu vì dự án bất động sản “đắp chiếu”
Hợp tác xã muốn dẫn dắt chuỗi giá trị, cần gỡ những “nút thắt” nào?
Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số
Sản xuất tiên tiến mở đường cho hàng xuất khẩu Việt Nam bứt phá
Metro Bến Thành - Cần Giờ thi công đồng loạt, hướng đến hoàn thành vào cuối năm 2028
TP. Hồ Chí Minh: Định hướng xúc tiến đầu tư vào 5 nhóm lĩnh vực trọng tâm
Bài 3: Kinh tế đêm - khai phá sâu để bứt phá
Bài 3: Khơi thông nguồn lực - Đồng vốn phải thực sự tạo ra giá trị












