Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
![]() |
| Đại biểu Phạm Hùng Thắng (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình) cơ bản thống nhất với đánh giá của Chính phủ và báo cáo thẩm tra về kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Ảnh: VPQH |
Đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu
Đại biểu Phạm Hùng Thắng (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình) cơ bản thống nhất với đánh giá của Chính phủ và báo cáo thẩm tra về kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Trước dự báo năm 2027 nền kinh tế tiếp tục đối diện nhiều khó khăn, thách thức từ cả yếu tố bên ngoài và nội tại, đại biểu cho rằng yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tăng trưởng cao mà còn phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, tính tự chủ và sức chịu đựng của nền kinh tế.
Từ góc độ đó, đại biểu kiến nghị Chính phủ quan tâm nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, qua đó tạo ra và giữ lại nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế đất nước.
Theo đại biểu, các Nghị quyết số 68-NQ/TW, 57-NQ/TW và Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, tăng cường liên kết và thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Vấn đề quan trọng là phải cụ thể hóa các mục tiêu này thành kết quả có thể đo đếm được. Trong đó, cần tăng số doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; cải thiện năng lực khoa học, công nghệ và giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng trong nước.
Đại biểu đề nghị chuyển cách đánh giá kết quả thu hút đầu tư từ số lượng dự án, quy mô vốn sang chất lượng liên kết và mức độ lan tỏa đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Dẫn số liệu báo cáo của Chính phủ, đại biểu cho biết 9 tháng năm 2026, xuất khẩu tăng 24,5%, trong khi nhập khẩu tăng 36,7%. Khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu lớn, còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu. Mặc dù nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất là cần thiết, nhưng sự chênh lệch này cho thấy yêu cầu phải nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp nội địa.
Theo đại biểu, điểm nghẽn hiện nay là nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp đầu chuỗi về công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật và khả năng giao hàng ổn định.
Vì vậy, hiệu quả các chương trình hỗ trợ không nên chỉ đo bằng số lượng lớp tập huấn, đơn hàng kết nối hay dự án được cấp phép, mà phải đánh giá bằng việc doanh nghiệp có trở thành nhà cung ứng với hợp đồng ổn định và nâng cao được giá trị gia tăng hay không.
Đại biểu cũng lưu ý không thể đồng nhất sự hiện diện của các tập đoàn kinh tế lớn với hiệu quả chuyển giao công nghệ. Nếu doanh nghiệp trong nước chỉ tham gia gia công đơn giản, trong khi thiết kế, vật liệu, linh kiện quan trọng và kỹ thuật cao vẫn phụ thuộc vào bên ngoài, thì giá trị xuất khẩu tăng cũng không đồng nghĩa với năng lực tự chủ của nền kinh tế được nâng lên tương ứng.
Đề cập đến các chính sách đang được triển khai, đại biểu cho biết Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các quyết định phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 và Đề án thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài đến năm 2030. Quốc hội cũng đang xem xét nhiều dự án luật, trong đó có các quy định nhằm hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và thúc đẩy tham gia chuỗi giá trị cung ứng.
Đại biểu nhấn mạnh, bước tiếp theo cần thiết là sớm cụ thể hóa, kết nối các chính sách này với nhu cầu thực tiễn và tổ chức thực hiện thống nhất, hiệu quả.
Đại biểu đề nghị việc hỗ trợ doanh nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện lựa chọn nhà cung ứng của doanh nghiệp dẫn dắt, trong đó có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở đánh giá năng lực doanh nghiệp Việt Nam, Nhà nước cần hỗ trợ đúng những khâu còn thiếu và yếu như thử nghiệm, chứng nhận chất lượng, cải tiến quy trình, đào tạo nhân lực và đổi mới thiết bị.
Vai trò của Nhà nước là kết nối, hỗ trợ giảm chi phí để doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng; quyết định mua bán vẫn thuộc về các doanh nghiệp, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và phù hợp thông lệ quốc tế.
Đặc biệt, đại biểu đề nghị Chính phủ tập trung triển khai các nhiệm vụ tại Nghị quyết số 280/NQ-CP về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị gắn với Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ và Đề án thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài đến năm 2030.
Mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp 1 cần được cụ thể hóa thành chỉ tiêu hằng năm.
Riêng năm 2027, đại biểu đề nghị lựa chọn một số ngành, nhóm sản phẩm có tiềm năng liên kết; xác định doanh nghiệp dẫn dắt có nhu cầu mua hàng và doanh nghiệp Việt Nam có triển vọng để xây dựng lộ trình hỗ trợ từng bước tham gia chuỗi với vai trò nhà cung ứng cấp 1, cấp 2.
“Tăng trưởng kinh tế bền vững khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng, tham gia sâu hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này cũng cần là thước đo quan trọng khi đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027”, đại biểu nhấn mạnh.
Tăng trưởng đi cùng ổn định vĩ mô, hiệu quả sử dụng nguồn lực
Cùng quan tâm đến chất lượng tăng trưởng và năng lực nội sinh của nền kinh tế, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình) cho rằng, nền kinh tế cần tăng trưởng cao hơn nhưng phải dựa trên nền tảng vững chắc hơn; nguồn lực huy động nhiều hơn nhưng phải chuyển hóa thành năng suất, việc làm và thu nhập thực chất.
Đại biểu kiến nghị Chính phủ điều hành tăng trưởng trên cơ sở kịch bản sát thực tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, lượng hóa đóng góp của từng động lực, ngành và địa phương; xây dựng các kịch bản tăng trưởng, lạm phát tương ứng với biến động giá năng lượng, lãi suất và thương mại quốc tế; xác định rõ ngưỡng rủi ro và phương án ứng phó. Theo đại biểu, mục tiêu tăng trưởng phải được thực hiện trong giới hạn an toàn, không để áp lực trước mắt làm suy giảm dư địa điều hành của những năm sau.
Bên cạnh đó, cần chuyển trọng tâm từ huy động vốn sang phân bổ vốn hiệu quả và bảo đảm an toàn tài chính. Đại biểu cho biết, tín dụng tăng 11,7%, cao hơn mức tăng 10,7% của huy động vốn, trong khi tỷ lệ tín dụng trên GDP đã ở mức cao. Vì vậy, cần theo dõi sát thanh khoản, chênh lệch kỳ hạn, nợ xấu và mức độ tập trung tín dụng; công khai định kỳ các chỉ số rủi ro để có biện pháp xử lý từ sớm.
Việc mở rộng tín dụng cần gắn với năng lực trả nợ và hiệu quả dự án, đồng thời kiểm soát chặt các rủi ro liên thông giữa ngân hàng, trái phiếu và bất động sản. Về lâu dài, đại biểu cho rằng cần tập trung phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch, nâng cao chất lượng công bố thông tin và xếp hạng tín nhiệm, khuyến khích nhà đầu tư dài hạn, xử lý nghiêm vi phạm để củng cố niềm tin thị trường.
![]() |
| Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình) cho rằng, nền kinh tế cần tăng trưởng cao hơn nhưng phải dựa trên nền tảng vững chắc hơn. Ảnh: VPQH |
Nhóm giải pháp khác được đại biểu đề cập là nâng cao hiệu quả đầu tư công và tháo gỡ thực chất các điểm nghẽn hạ tầng, năng lượng. Theo đại biểu, giải ngân đầu tư công 9 tháng đạt 62,9% kế hoạch. Do đó, cần rà soát từng dự án, xác định rõ vướng mắc, trách nhiệm và khả năng hoàn thành; điều chuyển vốn khỏi những dự án chậm, thiếu điều kiện thực hiện sang các dự án có khả năng hấp thụ và hiệu quả cao hơn.
Đối với các dự án giao thông, điện và năng lượng, cần phối hợp đồng bộ giữa quy hoạch, giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu, lưới truyền tải, thu xếp vốn và hợp đồng mua bán điện. Đại biểu đề nghị sớm hoàn thành chiến lược dự trữ năng lượng, xây dựng phương án dự phòng nguồn điện và xăng dầu theo các kịch bản cực đoan. Chỉ khởi công các dự án quy mô lớn khi đã làm rõ nguồn vốn, tiến độ và khả năng kết nối, tránh để tình trạng thiếu điện, chậm hạ tầng trở thành lực cản tăng trưởng.
Đặc biệt, đại biểu đề nghị tạo chuyển biến về năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam, khoa học, công nghệ và năng suất lao động.
Đại biểu dẫn số liệu xuất khẩu 9 tháng tăng 24,5%, nhưng nhập khẩu tăng 36,7%, dẫn đến nhập siêu 19,42 tỷ USD. Khu vực FDI xuất siêu, trong khi doanh nghiệp trong nước nhập siêu lớn; tỷ lệ nội địa hóa ở một số ngành chủ lực mới khoảng 40%.
Từ đó, đại biểu đề nghị chính sách thu hút FDI phải gắn với các cam kết và kết quả đo lường được về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng Việt Nam và nâng cao giá trị gia tăng trong nước. Cùng với đó, cần tháo gỡ trực tiếp khó khăn về vốn, mặt bằng, tiêu chuẩn và thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ và các nhà cung ứng trong nước.
Đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ, đại biểu cho biết ngân sách đã bố trí nguồn lực lớn nhưng 9 tháng mới giải ngân được 37,26%, còn khoảng 24 nghìn tỷ đồng chưa phân bổ. Đại biểu đề nghị làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm, rút ngắn thủ tục và tập trung nguồn lực vào các nhiệm vụ công nghệ chiến lược có sản phẩm đầu ra, có khả năng ứng dụng và thương mại hóa.
Hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ cần được đo bằng công nghệ được làm chủ, năng suất tăng thêm, sản phẩm mới và giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra.
Cùng với các giải pháp nêu trên, đại biểu cũng đề nghị bảo đảm cải cách đến được cơ sở và người dân thực sự thụ hưởng thành quả tăng trưởng.
Đại biểu nhấn mạnh tăng trưởng phải tạo thêm việc làm có chất lượng và cải thiện đời sống người dân. Do đó, cần gắn đào tạo với nhu cầu tuyển dụng, công khai kết quả việc làm sau đào tạo; tập trung hỗ trợ sinh kế và dịch vụ thiết yếu ở vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm chính sách an sinh không bị gián đoạn khi tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia.
Khẳng định yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh nhấn mạnh: “Chúng ta cần tăng trưởng nhanh, nhưng đồng thời cần giá cả ổn định, việc làm bền vững, doanh nghiệp trong nước lớn mạnh và dịch vụ công thiết thực hơn”.
Theo đại biểu, thước đo cuối cùng của chính sách không chỉ là nguồn lực đã huy động hay chỉ tiêu đã hoàn thành, mà phải là năng lực sản xuất trong nước được nâng lên, thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện, đồng thời nền kinh tế vững vàng hơn trước những biến động.
Tin tức khác
Chất lượng thể chế quyết định khả năng chuyển hóa tiềm năng thành tăng trưởng
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số
Ngoại giao trở thành đòn bẩy trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế
Bài 1: Gắn kết định hướng phát triển với nguồn lực thực hiện
Hoàn thiện khung pháp lý về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Định danh điện tử giúp hạn chế gian lận, trục lợi bất động sản
Không để nguồn lực đất đai lãng phí, ngân sách thất thu vì dự án bất động sản “đắp chiếu”
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Sẽ khắc phục bất cập tiền lương, phụ cấp của viên chức cấp xã
Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Chất lượng thể chế quyết định khả năng chuyển hóa tiềm năng thành tăng trưởng
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số
Ngoại giao trở thành đòn bẩy trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế
Bài 1: Gắn kết định hướng phát triển với nguồn lực thực hiện
Hoàn thiện khung pháp lý về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Định danh điện tử giúp hạn chế gian lận, trục lợi bất động sản
Không để nguồn lực đất đai lãng phí, ngân sách thất thu vì dự án bất động sản “đắp chiếu”
Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số
Sản xuất tiên tiến mở đường cho hàng xuất khẩu Việt Nam bứt phá
Metro Bến Thành - Cần Giờ thi công đồng loạt, hướng đến hoàn thành vào cuối năm 2028
TP. Hồ Chí Minh: Định hướng xúc tiến đầu tư vào 5 nhóm lĩnh vực trọng tâm
Bài 3: Kinh tế đêm - khai phá sâu để bứt phá
Bài 3: Khơi thông nguồn lực - Đồng vốn phải thực sự tạo ra giá trị
Kinh tế bạc có những khác biệt đáng kể so với kinh doanh thông thường










