Phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp: Nâng quy mô, tăng giá trị
![]() |
| Chế biến sâu một trong những giải pháp hợp tác xã nông nghiệp nâng cao phát triển kinh tế. (Ảnh có sự hỗ trợ của AI) |
Nâng năng lực kinh tế, mở rộng chuỗi giá trị
| Đến năm 2030 phấn đấu trên 60% hợp tác xã hoạt động khá, tốt; ít nhất 50% hợp tác xã nông nghiệp có liên kết với doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác và ít nhất 50% ứng dụng giải pháp số trong quản trị, sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm. Các mục tiêu này cho thấy thước đo phát triển đang chuyển từ số lượng sang hiệu quả kinh tế, mức độ liên kết và khả năng tạo giá trị. |
Năm 2025, cả nước có khoảng 23.000 hợp tác xã nông nghiệp và 101 liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp, trong đó khoảng 65% được đánh giá hoạt động khá, tốt. Quy mô này cho thấy kinh tế tập thể đã trở thành một bộ phận quan trọng trong tổ chức lại sản xuất, tập hợp nông dân và kết nối sản xuất với thị trường.
Tuy nhiên, số lượng và năng lực kinh tế chưa tương xứng. Phần lớn hợp tác xã có quy mô nhỏ, năng lực quản trị chưa đồng đều, vốn hạn chế và khó tiếp cận tín dụng, công nghệ, thị trường. Không ít đơn vị chủ yếu cung cấp dịch vụ đầu vào, hỗ trợ sản xuất cho thành viên, chưa đủ khả năng tham gia sâu vào các khâu tạo giá trị cao như sơ chế, chế biến, logistics, thương mại và xuất khẩu.
Do đó, trong giai đoạn mới yêu cầu không chỉ đơn thuần là thành lập thêm hợp tác xã, mà phải phát triển hợp tác xã thành tổ chức kinh tế có năng lực sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh. Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 đã tạo khung định hướng cho quá trình này.
Từ cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3409/QĐ-BNNMT ngày 24/8/2026, theo đó đã cụ thể hóa các nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Trọng tâm là nâng chất lượng hoạt động, năng lực quản trị, khả năng tiếp cận nguồn lực và mức độ tham gia của hợp tác xã vào chuỗi giá trị.
Theo kế hoạch, đến năm 2030 phấn đấu trên 60% hợp tác xã hoạt động khá, tốt; ít nhất 50% hợp tác xã nông nghiệp có liên kết với doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác và ít nhất 50% ứng dụng giải pháp số trong quản trị, sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm. Các mục tiêu này cho thấy thước đo phát triển đang chuyển từ số lượng sang hiệu quả kinh tế, mức độ liên kết và khả năng tạo giá trị.
Trong đó, liên kết với doanh nghiệp và xây dựng vùng nguyên liệu tập trung là nền tảng quan trọng. Khi có đầu ra ổn định, hợp tác xã có thể tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn hóa quy trình, kiểm soát chất lượng và tạo sản lượng đủ lớn. Qua đó, nông sản có điều kiện đi sâu hơn vào sơ chế, chế biến, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu.
Phát triển vùng nguyên liệu cũng giúp khắc phục tình trạng sản xuất manh mún. Trong bối cảnh thị trường ngày càng yêu cầu cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, chất lượng và môi trường, hợp tác xã có thể tổ chức các hộ thành viên theo quy trình thống nhất. Khi đó, quy mô sản xuất được chuyển hóa thành lợi thế thương mại, tạo điều kiện để hợp tác xã tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Vốn, quản trị và công nghệ tạo sức bật
Vốn tiếp tục là điều kiện quan trọng để hợp tác xã mở rộng sản xuất và nâng năng lực kinh doanh. Giai đoạn 2019-2025, Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã Việt Nam ký hợp đồng cho vay 391 dự án, kế hoạch sản xuất kinh doanh với tổng số tiền 2.116 tỷ đồng, giải ngân 2.094 tỷ đồng; dư nợ cuối năm 2025 đạt 943 tỷ đồng. Nguồn vốn góp phần hỗ trợ hợp tác xã đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và tăng cường liên kết với doanh nghiệp.
Hiệu quả nguồn vốn thể hiện qua kết quả kinh doanh, khi doanh thu bình quân của hợp tác xã tăng 43,5%, lợi nhuận tăng 37,2%. Kết quả này cho thấy nếu được tiếp cận nguồn vốn phù hợp, hợp tác xã có thể chuyển hóa nguồn lực tài chính thành năng lực sản xuất và giá trị kinh tế. Tuy nhiên, bài toán vốn không chỉ nằm ở tăng nguồn cho vay mà quan trọng hơn là đưa vốn đến đúng những đơn vị có phương án kinh doanh khả thi, vùng nguyên liệu, thị trường và năng lực quản trị.
Cùng với vốn, quản trị sẽ quyết định khả năng tạo lợi nhuận và phát triển bền vững. Hợp tác xã hiện đại không chỉ cần người am hiểu sản xuất mà còn phải có năng lực quản trị tài chính, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu, đàm phán hợp đồng, marketing, thương mại điện tử và tổ chức chuỗi cung ứng.
![]() |
| Nông sản.Việt xuất hiện trên nhiều kệ hàng của các siệu thị và được người tiêu dùng đón nhận. |
Theo kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xác định xây dựng chương trình đào tạo, học liệu và nền tảng đào tạo số về quản trị hợp tác xã, liên kết chuỗi giá trị, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây là hướng đi cần thiết để hợp tác xã chuyển từ quản lý dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị theo dữ liệu và yêu cầu thị trường.
Chuyển đổi số có thể giúp hợp tác xã nâng hiệu quả kinh doanh thông qua số hóa dữ liệu về vùng nguyên liệu, sản lượng, mùa vụ, chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Dữ liệu cũng giúp minh bạch hơn với doanh nghiệp và người mua, đồng thời hỗ trợ quản lý thành viên, điều hành sản xuất, kết nối cung cầu và mở rộng kênh tiêu thụ.
Cùng với đó, chuyển đổi xanh ngày càng trở thành điều kiện để tiếp cận những thị trường có giá trị cao. Khi sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, phát triển kinh tế tuần hoàn và kiểm soát nguồn nguyên liệu sẽ giúp hợp tác xã nâng sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các chuỗi cung ứng.
Ngoài ra phải kể tới hướng mở rộng không gian kinh tế là phát triển hợp tác xã đa hoạt động, đa dịch vụ, gắn với ngành hàng chủ lực, vùng nguyên liệu, sản phẩm OCOP, du lịch nông thôn và dịch vụ nông nghiệp. Việc tham gia từ cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến đến logistics và thương mại sẽ giúp hợp tác xã có thể giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi, đồng thời tăng doanh thu và lợi ích cho thành viên.
Để chính sách hỗ trợ phát huy hiệu quả, cần xây dựng cơ sở dữ liệu và bộ chỉ số đánh giá môi trường kinh doanh của hợp tác xã. Khi có dữ liệu về năng lực, quy mô, ngành hàng, vốn, thị trường và mức độ liên kết, nguồn lực có thể được phân bổ theo nhu cầu thực tế. Những hợp tác xã có phương án kinh doanh tốt có thể được ưu tiên mở rộng; các đơn vị còn khó khăn được hỗ trợ củng cố quản trị, nhân lực và phương án sản xuất.
Bên cạnh nguồn lực nhà nước, cần thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư và tổ chức khoa học công nghệ. Nhà nước hoàn thiện thể chế và tạo môi trường; doanh nghiệp cung cấp thị trường, công nghệ và tham gia chuỗi giá trị; hợp tác xã tổ chức sản xuất, tập hợp nông dân và bảo đảm nguồn cung. Sự liên kết này sẽ giúp hợp tác xã phát huy tốt hơn vai trò cầu nối giữa nông dân và thị trường.
Từ hơn 23.000 hợp tác xã nông nghiệp hiện nay, mục tiêu giai đoạn 2026-2030 phải hướng tới những tổ chức kinh tế có khả năng mở rộng sản xuất, liên kết vùng nguyên liệu, tiếp cận vốn, ứng dụng công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Khi vốn, vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi, quản trị, công nghệ, chuyển đổi số và đào tạo được triển khai đồng bộ, phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp sẽ tạo động lực tổ chức lại sản xuất, nâng giá trị nông sản, tăng thu nhập cho thành viên và xây dựng kinh tế nông thôn hiện đại, xanh, bền vững. Đây là bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang nâng chất lượng và hiệu quả kinh tế.
Tin tức khác
Bao bì đạt chuẩn, hàng Việt chinh phục thị trường toàn cầu
Liên kết để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghiệp
Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng đạt 49,3 tỷ USD
Doanh nghiệp dẫn đầu phải tạo sức lan tỏa cho tăng trưởng quốc gia
Hơn 700 triệu USD vốn quốc tế hỗ trợ các dự án hạ tầng tại Việt Nam
Đề xuất thành lập Trung tâm dự trữ chiến lược về cát tại Vĩnh Long
Cắt giảm thủ tục, mở dư địa cho tăng trưởng 2 con số
VIDEO: Thu ngân sách hải quan 8 tháng tăng 17,4%: Động lực từ cải cách thủ tục và Hải quan số
PODCAST: Thông tin cá nhân bị dùng để lập doanh nghiệp: Người dân cần làm gì?
VIDEO: Các cơ chế tài chính tiếp thêm trợ lực cho doanh nghiệp
VIDEO: Cải cách thủ tục hành chính tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Ba kỳ chấm điểm đo lường tiến độ giải ngân đầu tư công
Thi công “3 ca 4 kíp” đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Nhà Vua Thái Lan
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng hội kiến Nhà vua Thái Lan
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm Hội đàm với Nhà vua Thái Lan
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ đón chính thức Nhà vua Vương quốc Thái Lan và Hoàng hậu
Việt Nam triển khai Chương trình hành động kết nối ASEAN giai đoạn 2026 - 2035
Chính phủ bãi bỏ 24 nghị định không còn được áp dụng trên thực tế
Việt Nam - Thái Lan: Nền tảng tin cậy, động lực quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất ba định hướng lớn tại Hội nghị thượng đỉnh BRICS
Tăng cường hướng dẫn phòng, chống rửa tiền trong kinh doanh kim khí quý, đá quý
Bao bì đạt chuẩn, hàng Việt chinh phục thị trường toàn cầu
Liên kết để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghiệp
Phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp: Nâng quy mô, tăng giá trị
Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng đạt 49,3 tỷ USD
Doanh nghiệp dẫn đầu phải tạo sức lan tỏa cho tăng trưởng quốc gia
Hơn 700 triệu USD vốn quốc tế hỗ trợ các dự án hạ tầng tại Việt Nam
Đề xuất thành lập Trung tâm dự trữ chiến lược về cát tại Vĩnh Long













