Nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị của hợp tác xã
![]() |
| Nông nghiệp sản xuất theo hướng tập trung, hiện đại gắn với thị trường. Ảnh minh hoạ có sự hỗ trợ của AI. |
Nâng cao năng lực hợp tác xã, tạo nền tảng phát triển chuỗi giá trị
Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi căn bản: từ sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang tổ chức theo vùng nguyên liệu và chuỗi giá trị; từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Trong quá trình này, hợp tác xã nông nghiệp không thể chỉ dừng ở vai trò cung ứng dịch vụ đầu vào hoặc trung gian tiêu thụ mà cần trở thành chủ thể kinh tế có năng lực tập hợp nông dân, tổ chức sản xuất và kết nối doanh nghiệp.
Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đây là yêu cầu quan trọng nhằm khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, khai thác chưa hiệu quả các nguồn lực đất đai, vốn, công nghệ và thị trường. Phát triển kinh tế tập thể giai đoạn mới đã được cụ thể hóa tại Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 - 2030, tạo cơ sở thúc đẩy hợp tác xã gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo số liệu tổng hợp đến tháng 6/2026, cả nước có 23.389 hợp tác xã nông nghiệp, 102 liên hiệp nông nghiệp và khoảng 36.000 tổ hợp tác, với khoảng 4,15 triệu thành viên. Doanh thu bình quân đạt khoảng 2,7 tỷ đồng/hợp tác xã/năm, lợi nhuận bình quân khoảng 450 triệu đồng/năm; khoảng 68% hợp tác xã được đánh giá hoạt động khá và tốt. Đáng chú ý, gần 2.500 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao, 4.339 hợp tác xã tham gia bao tiêu nông sản và 2.169 hợp tác xã có sản phẩm OCOP.
Những kết quả này cho thấy khu vực kinh tế tập thể đang từng bước chuyển đổi phương thức hoạt động, mở rộng vai trò trong tổ chức sản xuất và tiêu thụ. Tuy nhiên, năng lực giữa các hợp tác xã còn chênh lệch; nhiều đơn vị vẫn hạn chế về vốn, quản trị, kiểm soát chất lượng và khả năng đàm phán hợp đồng. Đây là những điểm nghẽn khiến hợp tác xã chưa tham gia sâu vào các khâu tạo giá trị cao trong chuỗi cung ứng.
Thực tiễn triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đã tạo chuyển biến đáng kể. Sau gần 8 năm, cả nước có 2.938 dự án, kế hoạch liên kết được phê duyệt, thu hút 2.412 hợp tác xã, 1.305 doanh nghiệp, 538 tổ hợp tác và trên 211.000 hộ nông dân tham gia. Trong đó, 2.331 dự án, kế hoạch do hợp tác xã nông nghiệp chủ trì.
Đối với phát triển vùng nguyên liệu, chương trình thí điểm giai đoạn 2022 - 2025 tại 11 tỉnh đã hình thành khoảng 169.800 ha vùng nguyên liệu, gần 121.000 ha liên kết với doanh nghiệp, tương đương 71,2%. Trên 90 chuỗi liên kết được hình thành với sự tham gia của 27 doanh nghiệp và 393 hợp tác xã; đồng thời hỗ trợ thành lập mới 123 hợp tác xã và đào tạo trên 5.500 lượt cán bộ hợp tác xã.
Dù vậy, liên kết sản xuất vẫn chưa đồng nghĩa với liên kết chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Nhiều mô hình mới tập trung vào sản xuất và thu mua, chưa thu hút được nguồn lực đầu tư dài hạn cho sơ chế, bảo quản, chế biến và logistics. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là chuyển từ hỗ trợ hợp tác xã tham gia từng dự án sang nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối các hoạt động trong chuỗi.
Theo ông Nguyễn Tiến Định, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, hiệu quả liên kết cần được đánh giá bằng tính ổn định của quan hệ hợp tác, hiệu quả kinh tế, khả năng đáp ứng thị trường và lợi ích thực tế của thành viên, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng hợp đồng được ký kết. Định hướng này cũng được đặt ra tại Quyết định số 3411/QĐ-BNNMT-KTHT ngày 24/8/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026 - 2030.
Cùng với tổ chức lại sản xuất, hợp tác xã còn giữ vai trò quan trọng trong chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn và giảm phát thải. Thông qua tổ chức sản xuất tập thể, hợp tác xã có thể hướng dẫn thành viên sử dụng tiết kiệm nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tái sử dụng phụ phẩm và áp dụng quy trình sản xuất thống nhất. Tuy nhiên, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số cần gắn với phương án kinh doanh khả thi, giúp giảm chi phí, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường.
Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, mở rộng không gian hoạt động cho hợp tác xã
![]() |
| Hợp tác xã giữ vai trò quan trọng trong chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn và giảm phát thải. Ảnh minh hoạ có sự hỗ trợ của AI. |
Bên cạnh hạn chế về năng lực nội tại, quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 1/7/2025 cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp. Việc tổ chức lại bộ máy quản lý tạo cơ hội rút ngắn quy trình hành chính, tăng tính chủ động của chính quyền cơ sở. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi còn phụ thuộc vào hướng dẫn chuyên môn, năng lực cán bộ, nguồn lực và cơ chế phối hợp giữa cấp tỉnh với cấp xã.
Theo ông Ngô Sỹ Đạt, Viện Kinh tế và Thể chế nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, thực tiễn triển khai cho thấy hợp tác xã đang gặp 9 nhóm khó khăn, nổi bật là thủ tục đăng ký, đăng ký lại; cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; công bố sản phẩm; xây dựng tiêu chuẩn chất lượng; truy xuất nguồn gốc và cấp mã số vùng trồng.
Năng lực sử dụng dịch vụ công trực tuyến của một bộ phận hợp tác xã còn hạn chế, trong khi cán bộ cấp xã ở một số địa phương phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, chưa có đủ kinh nghiệm xử lý thủ tục chuyên ngành. Việc thay đổi đầu mối quản lý cũng có thể khiến hợp tác xã mất thêm thời gian tìm hiểu, hoàn thiện hồ sơ và tiếp cận chính sách.
Đáng chú ý, những vướng mắc này còn tác động đến khả năng tổ chức vùng nguyên liệu và duy trì liên kết sản xuất. Một vùng nguyên liệu thường trải rộng trên địa bàn nhiều xã. Nếu thiếu cơ chế điều phối thống nhất, kế hoạch mùa vụ, áp dụng tiêu chuẩn chung, chia sẻ dữ liệu và kết nối doanh nghiệp dễ bị phân tán theo địa giới hành chính. Khi đó, lợi thế quy mô và tính liên tục của chuỗi cung ứng khó được phát huy.
Để khắc phục, cần chuẩn hóa, công khai thủ tục hành chính, xác định rõ cơ quan tiếp nhận và đầu mối hướng dẫn; đồng thời thống nhất quy trình về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Trong khi đó chuyển đổi số, cần được ưu tiên hỗ trợ hợp tác xã hoàn thiện quy trình ghi chép, quản lý dữ liệu sản xuất và sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Việc đầu tư phần mềm, nền tảng công nghệ phải căn cứ vào năng lực vận hành thực tế.
Đặc biệt, đối với vùng nguyên liệu liên xã, UBND cấp tỉnh cần phát huy vai trò điều phối. Cách làm này giúp bảo đảm sự thống nhất trong quản lý, huy động nguồn lực và duy trì liên kết xuyên suốt mà không phát sinh thêm tổ chức trung gian. Việc giao nhiệm vụ cho cấp xã cũng phải đi đôi với nguồn lực, hướng dẫn nghiệp vụ và hỗ trợ chuyên môn thường xuyên.
Một yêu cầu quan trọng nữa là đổi mới cách đánh giá hiệu quả hỗ trợ hợp tác xã. Thay vì chỉ thống kê số lượt tập huấn hay số hồ sơ tiếp nhận, cần căn cứ vào thời gian giải quyết thủ tục, tỷ lệ hồ sơ hoàn thành ngay lần đầu, khả năng tiếp cận chính sách, duy trì vùng nguyên liệu và kết quả tiêu thụ theo hợp đồng. Những tiêu chí này phản ánh thực chất chất lượng phục vụ của cơ quan quản lý và hiệu quả hoạt động của hợp tác xã.
Có thể thấy, nâng cao năng lực hợp tác xã nông nghiệp là điều kiện quan trọng để tổ chức lại sản xuất và nâng tầm chuỗi giá trị. Khi được tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, hỗ trợ đồng bộ về vốn, công nghệ, hạ tầng và thị trường, hợp tác xã sẽ chuyển từ vai trò liên kết sản xuất đơn thuần sang chủ thể tổ chức, điều phối chuỗi cung ứng. Đây chính là động lực để khai thác hiệu quả vùng nguyên liệu, gia tăng giá trị nông sản và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp hiện đại, xanh, bền vững.
Tin tức khác
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường
Nông nghiệp cần động lực tăng trưởng mới từ nâng cao giá trị chuỗi sản xuất
Bài 4: Khai phá kinh tế trải nghiệm đô thị và dịch vụ giá trị cao
Bài 4: Tăng trưởng vì Nhân dân - Thành quả phải đi vào đời sống
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường
Đại biểu Quốc hội hiến kế hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thuế tiêu thụ đặc biệt về 0%: Giá xăng giảm mạnh từ 0h ngày 1/11
Bộ Tài chính: Quyết liệt triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng, khơi thông nguồn lực
Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư Khu đô thị Bắc Thăng Long, TP. Hồ Chí Minh tìm nhà đầu tư cụm y tế công nghệ cao
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026
Nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị của hợp tác xã
Singapore gia tăng hiện diện, vốn FDI lũy kế chính thức vượt mốc 100 tỷ USD
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường
Nông nghiệp cần động lực tăng trưởng mới từ nâng cao giá trị chuỗi sản xuất
Bài 4: Khai phá kinh tế trải nghiệm đô thị và dịch vụ giá trị cao











