Bài 4: Tăng trưởng vì Nhân dân - Thành quả phải đi vào đời sống
![]() |
Một nhà máy mở rộng sản xuất có thể làm tăng GDP. Một công trình hạ tầng hoàn thành có thể tạo thêm động lực phát triển. Nguồn thu ngân sách tăng giúp Nhà nước có thêm điều kiện thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội.
Nhưng đối với người dân, ý nghĩa của tăng trưởng thường được cảm nhận qua những điều gần gũi hơn: công việc có ổn định, thu nhập có đủ trang trải sinh hoạt, con cái được học hành trong điều kiện tốt hơn, cha mẹ già được chăm sóc sức khỏe và gia đình có nơi ở an toàn hay không.
Đó cũng là câu hỏi cần được đặt ra sau khi nhìn lại ba nguyên tắc phát triển đã được phân tích trong những bài trước. Tăng trưởng thực chất tạo thêm của cải cho xã hội; ổn định vĩ mô giúp bảo vệ thành quả ấy trước sức ép lạm phát; sử dụng hiệu quả nguồn lực tạo điều kiện phát triển hạ tầng và những năng lực sản xuất mới.
Nhưng tất cả những nỗ lực ấy cuối cùng phải hướng đến mục tiêu gì?
Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã xác định rõ nguyên tắc thứ tư: tăng trưởng kinh tế cao phải bảo đảm phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội; mọi chính sách, dự án, nguồn lực đầu tư phải tạo ra giá trị thực chất cho người dân, góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao phúc lợi xã hội.
Điều đó cho thấy quyết tâm tăng trưởng 2 con số của Đảng không chỉ đặt ra yêu cầu về tốc độ phát triển, mà còn xác định rõ mục tiêu và trách nhiệm của quá trình phát triển.
Tăng trưởng phải tạo ra của cải, nhưng thành quả ấy cũng phải được chuyển hóa thành những lợi ích cụ thể, ngày càng tốt hơn cho nhân dân.
Thu nhập tăng, nhưng đời sống được cải thiện đến đâu?
Thước đo đầu tiên của thành quả tăng trưởng là việc làm và thu nhập.
![]() |
| Thống kê số liệu về thu nhập bình quân người lao động và báo cáo việc làm 9 tháng năm 2026. |
Nhìn vào số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) có thể thấy một điều, thời gian qua, tỷ lệ thất nghiệp giảm và thu nhập bình quân tăng cao. Những kết quả này cho thấy đà mở rộng sản xuất, kinh doanh đã góp phần tạo thêm việc làm và cải thiện thu nhập. Khi doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng, mở rộng nhà máy, nhu cầu lao động gia tăng. Khi thương mại, dịch vụ phát triển, người dân có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm và nâng cao mức sống.
Tuy nhiên, thu nhập bình quân tăng 9,1% có đồng nghĩa đời sống người lao động được cải thiện tương ứng? 9 tháng năm 2026, CPI bình quân tăng 4,52%, cho thấy một phần mức tăng thu nhập phải bù đắp cho chi phí sinh hoạt cao hơn.
Với một gia đình, điều quan trọng không chỉ là mỗi tháng kiếm thêm bao nhiêu tiền, mà còn là sau khi chi trả thực phẩm, điện, nước, đi lại, học hành và chăm sóc sức khỏe, khoản thu nhập còn lại có thực sự tốt hơn trước hay không.
Những số liệu này cho thấy, bên cạnh yêu cầu tạo thêm việc làm, nền kinh tế còn phải nâng cao chất lượng việc làm, tăng khả năng bảo đảm an sinh và mở rộng cơ hội phát triển cho các nhóm lao động.
![]() |
Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, khi thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2026, kế hoạch năm 2027, vấn đề nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân tiếp tục được các đại biểu Quốc hội quan tâm. Bởi tăng trưởng kinh tế cao không chỉ cần được thể hiện qua những con số GDP, mà quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành việc làm, thu nhập và những cơ hội phát triển thiết thực cho người dân.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Minh Tú (Đoàn Nghệ An) cũng đặt ra vấn đề đáng suy ngẫm: tăng trưởng kinh tế cao cần được chuyển hóa rõ nét hơn thành việc làm có chất lượng, thu nhập thực tế và cơ hội phát triển của người dân.
Đại biểu đặc biệt lưu ý những khu vực còn khó khăn, nơi người dân gặp nhiều hạn chế trong tiếp cận hạ tầng, giáo dục, đào tạo nghề và các dịch vụ xã hội cơ bản.
Còn Đại biểu Quốc hội Trần Đức Thuận (Đoàn Nghệ An) cũng nhấn mạnh: Sức khỏe, tính mạng và tài sản là những lợi ích thiết thân cần được bảo vệ trong suốt quá trình phát triển. Bữa ăn an toàn, thuốc bảo đảm chất lượng, môi trường sống trong lành và các giao dịch được bảo vệ là những điều kiện để người dân yên tâm lao động, học tập và sinh sống.
Nhận định ấy cho thấy chất lượng tăng trưởng không thể chỉ đánh giá qua số lao động có việc làm, mà cần quan tâm việc làm ấy có ổn định, thu nhập có đủ sống, người lao động có được bảo vệ trước rủi ro và có cơ hội nâng cao năng suất hay không.
Một doanh nghiệp tăng doanh thu là kết quả tích cực. Nhưng nếu sự phát triển ấy đồng thời tạo thêm việc làm ổn định, cải thiện tiền lương và điều kiện lao động, giá trị tăng trưởng sẽ được lan tỏa rộng hơn.
Đó mới là ý nghĩa thực chất của việc lấy đời sống Nhân dân làm thước đo: thành quả kinh tế phải được kiểm chứng bằng những cải thiện cụ thể trong cuộc sống.
![]() |
Khi chính sách an sinh làm thay đổi cuộc sống
Việc làm và thu nhập là điều kiện quan trọng để nâng cao đời sống, nhưng chưa phải tất cả. Một gia đình còn có thể giảm bớt gánh nặng tài chính khi được tiếp cận giáo dục, y tế và nhà ở với chi phí phù hợp.
Vì vậy, cùng với các chính sách thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, Đảng và Nhà nước luôn xác định bảo đảm an sinh xã hội, phát triển con người là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước.
Theo Cục Thống kê, tính đến ngày 25/9/2026, tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các nhóm đối tượng đạt gần 69,3 nghìn tỷ đồng, tập trung vào người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo và những trường hợp khó khăn. Bảo hiểm xã hội cũng đã cấp phát gần 35,1 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ, thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng.
Những con số phản ánh quy mô nguồn lực đã được huy động để chăm lo đời sống nhân dân. Nhưng hiệu quả của chính sách không thể chỉ dừng lại ở khoản kinh phí đã chi.
Chẳng hạn, với một gia đình có hai con đang đi học, việc được miễn học phí có ý nghĩa gì? Đó là khoản chi được giảm bớt trong ngân sách gia đình, tạo thêm điều kiện dành tiền cho sách vở, bữa ăn, đi lại hoặc những nhu cầu thiết yếu khác.
Chính sách miễn học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông công lập và hỗ trợ học phí cho người học tại cơ sở dân lập, tư thục được thực hiện từ năm học 2025-2026, tiếp tục phát huy tác dụng trong năm học 2026-2027. Đây là một bước tiến trong bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục. Tuy nhiên, miễn học phí không đồng nghĩa mọi chi phí học tập đều được miễn. Tiền ăn, đồ dùng học tập, đi lại và các khoản sinh hoạt khác vẫn có thể tạo ra áp lực đối với những gia đình thu nhập thấp.
Vì vậy, muốn chính sách thực sự nâng cao cơ hội phát triển, cần đồng thời quan tâm chất lượng trường lớp, đội ngũ giáo viên và điều kiện học tập giữa các địa bàn. Đó cũng là tinh thần của Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó yêu cầu đổi mới mạnh mẽ để giáo dục thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong lĩnh vực y tế, một chuyển biến quan trọng đang được triển khai theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Theo định hướng này, từ năm 2026, người dân được tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần, gắn với việc xây dựng hồ sơ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe lâu dài.
Đáng chú ý, chính sách thể hiện sự chuyển đổi trong tư duy chăm sóc sức khỏe: chủ động phòng bệnh, phát hiện sớm nguy cơ thay vì chỉ tập trung chữa bệnh khi đã phát sinh bệnh tật.
Tại Hà Nội, chính sách hỗ trợ khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí được triển khai từ tháng 7/2026. Trước thềm năm học mới, thành phố cũng tổ chức khám sức khỏe miễn phí cho hơn 2,2 triệu trẻ em mầm non và học sinh phổ thông.
Một lần khám sức khỏe có thể chưa làm thay đổi thu nhập của người dân, nhưng nếu giúp phát hiện sớm bệnh tật, hạn chế chi phí điều trị và giảm nguy cơ mất khả năng lao động, lợi ích mang lại có thể lớn hơn nhiều so với chi phí khám ban đầu.
Đặc biệt, đối với người cao tuổi, người có thu nhập thấp và các nhóm dễ bị tổn thương, việc tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi hơn còn góp phần giảm bớt nỗi lo tài chính khi đau ốm. Điều đó cho thấy đầu tư cho y tế không chỉ là chính sách an sinh trước mắt, mà còn góp phần bảo vệ nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng dân số trong dài hạn.
![]() |
| Từ năm 2026, người dân được tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần. Ảnh Thuỳ Linh. |
Cùng với giáo dục, y tế, nhà ở cũng là một nhu cầu thiết yếu quyết định chất lượng sống.
Năm 2025, chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát đã đạt kết quả quan trọng, với hơn 334.000 căn nhà được hỗ trợ xây dựng, sửa chữa thông qua sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các nguồn lực xã hội.
Bước sang năm 2026, phát triển nhà ở xã hội tiếp tục được đẩy mạnh. Theo Bộ Xây dựng, trong 9 tháng, cả nước đã hoàn thành 46.962 căn nhà ở xã hội.
Tuy nhiên, số căn hộ hoàn thành mới phản ánh một phần kết quả. Điều người lao động quan tâm hơn là giá bán, giá thuê có phù hợp thu nhập, điều kiện tiếp cận có thuận lợi và nơi ở có đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, đi lại hay không. Một khu nhà ở xã hội dù được xây dựng đúng tiến độ nhưng nếu vượt khả năng chi trả của người có nhu cầu, hoặc quá xa nơi làm việc, hiệu quả an sinh vẫn còn hạn chế. Vì vậy, chất lượng chính sách phải được đánh giá bằng khả năng tiếp cận thực tế và mức độ cải thiện đời sống, thay vì chỉ căn cứ vào quy mô đầu tư hay số lượng công trình.
Những chính sách về giáo dục, y tế, nhà ở và an sinh xã hội cho thấy thành quả tăng trưởng đang được chuyển hóa thành lợi ích thiết thực. Nhưng quan trọng hơn, lợi ích ấy phải đến đúng đối tượng, đáp ứng đúng nhu cầu và tạo ra những thay đổi có thể kiểm chứng.
Nhân dân vừa là người thụ hưởng, vừa là động lực phát triển
Nếu tăng trưởng chỉ được hiểu là quá trình tạo thêm của cải rồi phân phối lại một phần cho an sinh xã hội, chúng ta mới nhìn thấy một nửa vấn đề. Bởi người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả tăng trưởng, mà còn trực tiếp lao động, sản xuất, sáng tạo và tạo ra giá trị cho nền kinh tế.
Vì thế, nguồn lực dành cho giáo dục, y tế và an sinh xã hội, nếu được sử dụng hiệu quả, không chỉ góp phần cải thiện đời sống trước mắt, mà còn là đầu tư cho năng lực phát triển lâu dài của đất nước. Muốn duy trì tăng trưởng cao, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào việc gia tăng vốn và lao động, mà phải nâng cao năng suất, trình độ và chất lượng nguồn nhân lực.
Một minh chứng rõ nét là chủ trương xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền, xuất phát từ chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ khởi công, động thổ xây dựng đồng loạt 121 công trình trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền năm 2026 (ngày 19/3/2026). Trên cơ sở đó, ngày 18/7/2025, Bộ Chính trị ban hành Thông báo kết luận số 81-TB/TW về chủ trương xây dựng trường học tại các xã biên giới, nhằm cải thiện điều kiện học tập, nâng cao dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Ngày 5/9/2026, tại Lào Cai, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự Lễ khai giảng năm học 2026 - 2027 kết hợp khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền. Những ngôi trường mới không chỉ giúp học sinh vùng biên có điều kiện học tập, sinh hoạt tốt hơn, mà còn mở ra cơ hội nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, cải thiện đời sống đồng bào, đồng thời góp phần củng cố quốc phòng, an ninh.
![]() |
| Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự và phát biểu tại lễ khai giảng năm học 2026 - 2027 và khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền. Ảnh Chinhphu.vn |
Từ những ngôi trường vùng biên có thể thấy, đầu tư cho con người vừa là chăm lo cuộc sống hôm nay, vừa là tạo dựng nguồn lực cho ngày mai. Khi trẻ em ở những địa bàn khó khăn được tiếp cận giáo dục tốt hơn, cơ hội phát triển được mở rộng, khoảng cách giữa các vùng miền từng bước được thu hẹp, nền kinh tế cũng có thêm nền tảng để nâng cao chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.
Tinh thần ấy tiếp tục được thể hiện trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia. Việc tích hợp nhằm khắc phục tình trạng chính sách phân tán, trùng lặp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tăng tính chủ động cho địa phương.
Nhưng tích hợp chương trình có ý nghĩa gì nếu chỉ dừng lại ở việc thu gọn đầu mối quản lý? Điều quan trọng là chính sách phải được triển khai thuận lợi hơn, nguồn lực đến đúng địa bàn, đúng đối tượng và mang lại những chuyển biến thực tế trong đời sống người dân.
Tại Hội nghị triển khai Chương trình ngày 15/10/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu tập trung nguồn lực cho những nhiệm vụ thiết yếu, tác động trực tiếp đến đời sống Nhân dân, nhất là nước sinh hoạt, đất ở, đất sản xuất và các điều kiện bảo đảm sinh kế.
Đáng chú ý, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh cách đánh giá chương trình, không chỉ căn cứ vào số vốn đã giải ngân mà phải nhìn vào kết quả thực chất đối với người dân. Việc đưa mức độ hài lòng của người dân vào bộ tiêu chí đánh giá, cùng với kết quả thực hiện các mục tiêu và tiến độ sử dụng nguồn lực, cũng thể hiện yêu cầu coi trọng chất lượng thụ hưởng thay vì chỉ chú trọng kết quả giải ngân.
Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá dù đầy đủ đến đâu cũng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được hiện thực hóa bằng kết quả cụ thể. Điều đó đòi hỏi trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương, năng lực tổ chức thực hiện ở cơ sở và sự giám sát chặt chẽ để bảo đảm chính sách đi vào cuộc sống, nguồn lực đến đúng người dân cần được hỗ trợ.
Khi người dân có điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe, phát triển sinh kế và nâng cao thu nhập, hiệu quả chính sách không chỉ thể hiện ở mức sống hiện tại, mà còn ở khả năng tạo ra những nguồn lực phát triển mới. Người dân được chăm lo tốt hơn sẽ có thêm điều kiện để lao động, sáng tạo và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.
Đây cũng chính là quan điểm nhất quán của Đảng: lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển; tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân.
| Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV ngày 8/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục khẳng định, tăng trưởng cao phải dựa trên năng suất, sức cạnh tranh, năng lực tự chủ và nền tảng ổn định lâu dài; đồng thời phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao mọi mặt đời sống Nhân dân. Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết sách, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát, phản biện, bảo đảm Nhân dân được tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển. Điều đó cho thấy, người dân không chỉ là đối tượng được hưởng lợi từ chính sách, mà còn là chủ thể tham gia, giám sát và góp phần quyết định hiệu quả thực hiện các chủ trương phát triển. |
Nhìn lại bốn nguyên tắc mà Trung ương đã xác lập, có thể thấy giữa các nguyên tắc tồn tại mối quan hệ chặt chẽ. Ổn định kinh tế vĩ mô bảo vệ sức mua, củng cố niềm tin; sử dụng hiệu quả nguồn lực tạo điều kiện nâng cao năng suất, mở rộng sản xuất; tăng trưởng thực chất tạo thêm việc làm, thu nhập và nguồn lực để cải thiện đời sống Nhân dân.
Nhưng quá trình ấy không dừng lại ở việc người dân được thụ hưởng thành quả. Khi sức khỏe, trình độ, điều kiện sống và cơ hội phát triển được nâng lên, Nhân dân tiếp tục trở thành nguồn lực quan trọng tạo ra những giá trị mới, củng cố sự đồng thuận xã hội và nền tảng phát triển bền vững.
Bởi vậy, tăng trưởng vì Nhân dân không chỉ là mục tiêu cuối cùng, mà còn là động lực để Đất nước tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn. Thành công của quyết sách tăng trưởng 2 con số không chỉ được đo bằng quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, mà quan trọng hơn là cuộc sống của Nhân dân ngày càng tốt đẹp, cơ hội phát triển ngày càng rộng mở và sức mạnh nội sinh của đất nước ngày càng được củng cố.
(Còn nữa)
Tin tức khác
Bảo đảm nguồn cung, bình ổn thị trường dịp Tết Đinh Mùi 2027
34 dự án khởi nghiệp xanh tìm hướng đi mới từ nông sản bản địa và phụ phẩm
Vì sao các tổ chức quốc tế ngày càng tin Việt Nam có thể tăng trưởng 2 con số?
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng
Hợp tác xã muốn dẫn dắt chuỗi giá trị, cần gỡ những “nút thắt” nào?
Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bộ Tài chính: Quyết liệt triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng, khơi thông nguồn lực
Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư Khu đô thị Bắc Thăng Long, TP. Hồ Chí Minh tìm nhà đầu tư cụm y tế công nghệ cao
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Không chỉ huy động vốn, phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng
Tăng trưởng cao cần khơi thông nguồn vốn, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp
Bài 2: Nhận diện những điểm nghẽn từ thực tiễn
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng
Bài 4: Tăng trưởng vì Nhân dân - Thành quả phải đi vào đời sống
Khung pháp lý cho tín chỉ các-bon rừng đã sẵn sàng tạo huy động nguồn tài chính xanh
Bảo đảm nguồn cung, bình ổn thị trường dịp Tết Đinh Mùi 2027
34 dự án khởi nghiệp xanh tìm hướng đi mới từ nông sản bản địa và phụ phẩm
Vì sao các tổ chức quốc tế ngày càng tin Việt Nam có thể tăng trưởng 2 con số?
"Hàng Việt vì người Việt" góp phần trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng















